Mở đầu

Được sống thật là chính mình, với giới tính của mình, với bản dạng giới mong muốn của mình là mơ ước, là khát khao cháy bỏng của người chuyển giới trên thế giới cũng như ở Việt Nam. “Em muốn có tiền được phẫu thuật rồi cho em sống một giờ thôi em cũng chịu, chỉ cần chết trong thân xác một người phụ nữ” (chuyển giới nam sang nữ, 19 tuổi, TP HCM) [1]

Hiện có 61 quốc gia trên thế giới hợp pháp hóa việc chuyển đổi giới tính [2]. Với sự kiện ngày 24/11/2015, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIII Quốc hội đã biểu quyết thông qua Bộ luật Dân sự (sửa đổi) trong đó, quyền chuyển đổi giới tính được chính thức hợp pháp hóa, Việt Nam là quốc gia thứ 62 trên thế giới, thứ 11 tại châu Á cho phép việc thay đổi giới tính trên giấy tờ nhân thân.

Khái niệm

Khởi đầu từ Mỹ, chuyển giới (transgender) là một thuật ngữ chỉ những người có lối sống khác với những chuẩn mực về giới trong xã hội. Nó được dùng để chỉ những người vượt ra khỏi biên giới bình thường về giới, trong cách ăn mặc, trong cách thể hiện bản thân và cả những người đã trải qua nhiều cuộc phẫu thuật để có được cơ thể như giới tính họ mong muốn. Chuyển giới bao gồm nội hàm rất rộng gồm cả những ai sẵn sàng trải qua phẫu thuật, hoặc không muốn phẫu thuật nhưng đơn thuần muốn thể hiện bản thân và sống cuộc đời họ như một giới tính khác.

Người chuyển giới là những người có những cảm nhận rõ ràng về giới tính thật của mình khác với giới tính sinh học (dù phẫu thuật hay chưa). Người chuyển giới thường được phân làm hai nhóm: Một là, nhóm người chuyển giới nữ/nhóm từ nam qua nữ (MTF: male to female transgender): là những người sinh ra là nam nhưng có cảm nhận mình là nữ và sống như một người nữ, đồng thời muốn hoặc có thay đổi cơ thể mình để giống nhất với bên nữ. Hai là, người chuyển giới nam/nhóm từ nữ qua nam (FTM: female to male transgender): là những người sinh ra là nữ nhưng có cảm nhận mình là nam và sống như một người nam, đồng thời muốn hoặc có thay đổi cơ thể của mình giống nhất với bên nam [3].

Chuyển đổi giới tính: mong muốn thay đổi cơ thể hoặc đã qua phẫu thuật

Phân biệt người chuyển giới (Transgender people) và người chuyển đổi giới tính (Transsexual people)

Người chuyển giới là một người được sinh ra với cơ thể sinh học là nam hay nữ, nhưng có một khát vọng mạnh mẽ và nhất quán, có giới tính khác với giới tính sinh học của họ lúc sinh. Họ có thể trải qua hoặc không trải qua việc điều trị y tế để chuyển đổi sang bản dạng giới họ chọn.

Người chuyển đổi giới tính là người mong muốn, hoặc đã trải qua phẫu thuật để đạt đến sự trùng khớp giữa cơ quan sinh dục và bản dạng giới thực sự trong não của họ.

Phân biệt người chuyển giới với người đồng tính

Người chuyển giới có cảm nhận và giới tính mong muốn của mình không trùng với giới tính sinh học đang có. Ví dụ, một người có cơ thể sinh học từ khi sinh ra là nam và nghĩ mình là nữ và ngược lại. Cộng đồng người chuyển giới gồm hai nhóm: chuyển giới từ nam sang nữ và chuyển giới từ nữ sang nam. Người chuyển giới liên quan đến việc người đó nhận mình là nam hay nữ, trong khi người đồng tính, song tính hay chuyển giới liên quan tới việc người đó bị hấp dẫn bởi người cùng giới hay khác giới. Người đồng tính là người có sự hấp dẫn về tình cảm và/hoặc tình dục với người cùng giới. Người dị tính là người có sự hấp dẫn về tình cảm và/hoặc tình dục với người khác giới. Người song tính là người có sự hấp dẫn về tình cảm và/hoặc tình dục với cả nam và nữ. Chuyển giới là một khái niệm liên quan đến bản dạng giới, trong khi đồng tính, song tính hay dị tính là những khái niệm liên quan đến xu hướng tình dục.

Bản dạng giới là cảm nhận bên trong của một người về việc họ là nam hay nữ, hay là một giới nào khác. Bản dạng giới không nhất thiết phải trùng với giới tính sinh học. Bản dạng giới cũng độc lập với xu hướng tính dục, vì bản dạng giới liên quan tới việc một người nghĩ mình thuộc giới tính nào, còn xu hướng tính dục liên quan tới việc một người cảm thấy hấp dẫn với ai [4].

Thể hiện giới là cách một người cho thấy bản dạng giới của mình thông qua hành vi, quần áo, kiểu tóc, giọng nói, hay các đặc điểm trên cơ thể người đó.

Thực trạng người chuyển giới

Ở Việt Nam chưa có điều tra nào về số người chuyển giới, tuy nhiên các nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ người chuyển giới là từ 0,1% đến 0,5%[1]. Một điều tra giám sát hành vi có nguy cơ ở Massachusetts cho thấy có khoảng 0,5% người trong độ tuổi 18-64 tự nhận mình là người chuyển giới. Gần đây, các cuộc điều tra dân số tại Mỹ và trên thế giới đã có câu hỏi nhằm xác định bản dạng giới và xu hướng tình dục. Số liệu ước tính mới nhất cho thấy có khoảng 0,3% dân số Mỹ là người chuyển giới[2].

Thông tin số lượng người chuyển giới tìm đến các phòng khám ở Anh tăng gấp đôi cứ 5-6 năm (Reed và cộng sự, 2009). Số liệu tại nhiều nước châu Âu ghi nhận tỷ lệ người chuyển giới từ nam sang nữ cao từ 2,5-6 lần tỷ lệ người chuyển giới từ nữ sang nam. Điều này không có nghĩa rằng có nhiều người chuyển giới từ nam sang nữ hơn, mà do người chuyển giới từ nữ sang nam ít tìm đến các cơ sở phẫu thuật chuyển đổi giới tính hơn. Các yếu tố văn hóa, xã hội, quan niệm về vai trò giới và tình dục đồng giới cũng như chi phí tiến hành phẫu thuật chuyển đổi giới tính khiến những số liệu tại cơ sở y tế không phản ánh đúng thực tế (De Cuypere, 2006).

Một số nhà nghiên cứu đã rà soát tỷ lệ những người có giới tính mong muốn khác với giới tính sinh học trên nhiều quốc gia và cho rằng tỷ lệ 0,2-0,3% dân số có thể gần với thực tế (Winter và Conway, 2011). Như vậy, với tỷ lệ thấp nhất là 0,2% dân số Việt Nam năm 2011 (87 triệu người) thì số lượng người chuyển giới có thể là 174.000 người.

 Nhu cầu chuyển đổi giới tính

Theo Điều 36 Luật Dân sự (2005) và Nghị định số 88/2008/NĐ-CP về Xác định lại giới tính, việc xác định lại giới tính được chỉ cho phép người có khuyết tật bẩm sinh mới được phẫu thuật và xác định lại giới tính. Điều 5 Nghị định này quy định tiêu chuẩn y tế xác định khuyết tật bẩm sinh về giới tính lại chủ yếu liên quan đến “những bất thường về bộ phận sinh dục”. Quyết định này phù hợp với những người liên giới tính, nhưng đã đóng lại cánh cửa đối với những người chuyển giới, bởi Điều 4, khoản 1 Nghị định ghi rõ nghiêm cấm “thực hiện việc chuyển đổi giới tính đối với những người đã hoàn thiện về giới tính”. Điều này khiến việc cấp lại giấy tờ cho những người chuyển giới hầu như là không thể, và là khó khăn lớn với người chuyển giới.

Trước khi phẫu thuật giới tính, theo đúng quy trình sẽ cần trải qua kiểm tra cuộc sống thực (Real Life Test) để xem có thực sự phù hợp để tiến hành phẫu thuật chuyển đổi giới tính, và có xác nhận của bác sỹ tâm lý. Nhưng nếu người chuyển giới ở Việt Nam muốn phẫu thuật ở nước ngoài, cũng không tìm được bác sĩ xác nhận ở Việt Nam. Mặt khác việc đi phẫu thuật ở nước ngoài khi trở về cũng không dễ bởi hải quan không chấp nhận giấy tờ vẫn là nam mà cơ thể là phụ nữ. Vì vậy, người chuyển giới mong muốn được tạo điều kiện phẫu thuật giới tính và được công nhận giới tính hậu phẫu. Trên thực tế, những người đã trải qua phẫu thuật chuyển đổi vẫn không thể đổi giới tính của mình trên các giấy tờ như chứng minh thư, hồ sơ lý lịch, hộ khẩu. Thậm chí có người chuyển đổi giới tính từ nam sang nữ, mặc dù đã lấy chồng (tổ chức đám cưới) và sống hoàn toàn như một người phụ nữ cho biết mình vẫn không thể đổi được giấy tờ. Những người chuyển giới cho biết việc không có giấy chứng minh thư đúng như giới tính đã thay đổi của họ khiến cuộc sống của họ gặp rất nhiều rắc rối, từ việc mua bán hay sở hữu tài sản hay đơn giản nhất là không thể đi lại bằng phương tiện máy bay.

Theo thông tư 57/2013/TT-BCA quy định về mẫu chứng minh nhân dân (CMND), yêu cầu mới buộc phải ghi giới tính trong CMND. Trước đây CMND chỉ có các thông tin như họ tên, ngày sinh, nguyên quán, địa chỉ hộ khẩu, dân tộc và tôn giáo. Nhưng theo quy định mới này, CMND từ nay phải có ghi giới tính. Điều này càng đặt người chuyển giới vào tình huống “tiến thoái lưỡng nan” khi giới tính trên giấy tờ khác với thể hiện giới của họ. Chính vì vậy, nhiều người chuyển giới có nguyện vọng được ghi một giới tính khác vào mục giới tính: thay vì chỉ có nam và nữ, có thể được phép ghi là “chuyển giới”.

Theo bà Lương Minh Ngọc, Viện trưởng Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE), “Theo một khảo sát năm 2014, cứ 5 người chuyển giới tại Việt Nam thì có 4 người mong muốn phẫu thuật chuyển giới. Trong đó 11% đã phẫu thuật thay đổi ít nhất một bộ phận trên cơ thể, đa phần làm ở nước ngoài. Việc thừa nhận chuyển đổi giới tính không chỉ giúp người chuyển giới từ nay có thể thực hiện phẫu thuật với chi phí hợp lý, an toàn ngay tại Việt Nam, mà còn là một bước tiến quan trọng của pháp luật trong việc thừa nhận sự tồn tại và bình đẳng của người chuyển giới được sống là chính mình.[3]

Hợp pháp hoá quyền chuyển đối giới tính tại Việt Nam

Bộ luật Dân sự sửa đổi (2015) có hai điều quy định riêng biệt: Xác định lại giới tính (Điều 36) và Chuyển đổi giới tính (Điều 37).

Điều 36: “Cá nhân có quyền xác định lại giới tính;  Việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính; Việc xác định lại giới tính được thực hiện theo quy định của pháp luật; Cá nhân đã thực hiện việc xác định lại giới tính có trách nhiệm đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tich; có các quyền nhân thân phù hợp với giới tính theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan[4].

Xác định lại giới tính áp dụng với người sinh ra không rõ ràng là nam hay nữ, còn chuyển đổi giới tính áp dụng với những ai có nhu cầu thay đổi giới tính bẩm sinh của mình. Như vậy, những ai có nhu cầu đều có thể thực hiện chuyển đổi giới tính.

Việc chuyển đổi giới tính được quy định tại Điều 37 của Bộ luật: “Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật. Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có các quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan”.

Theo chia sẻ của một người chuyển giới nữ ở TP. Hồ Chí Minh: “Chúng tôi đã đợi quá lâu. Nhiều thế hệ người chuyển giới đã phải sống trong sự vô hình của pháp luật, sự không thừa nhận của xã hội. Quy định mới mang lại rất nhiều niềm vui cho chúng tôi. Mong rằng sẽ sớm có các quy định hướng dẫn cụ thể để người chuyển giới có thể thay đổi họ tên, giới tính mình mong muốn. Tôi cũng hy vọng việc này sẽ thúc đẩy xã hội có cái nhìn đúng đắn và công bằng hơn với những người chuyển giới”.

Một người chuyển giới nam ở Hà Nội cho biết: “Đối với người chuyển giới từ nữ sang nam, em mong muốn có thể thay đổi giấy tờ mà không cần phải trải qua phẫu thuật tạo hình bộ phận sinh dục, vì phẫu thuật này rất tốn kém, nguy hiểm và thành công không cao. Hy vọng khi luật được thực thi sẽ tạo thuận lợi hơn cho người chuyển giới, từ giấy tờ, tới hôn nhân”.

Theo quy định mới, chưa định nghĩa rõ thế nào thì được công nhận là “đã chuyển đổi giới tính” toàn phần hay là một phần vì Bộ luật chỉ quy định khái quát và  chưa có các văn bản hướng dẫn thi hành chi tiết. Xu hướng trên thế giới là chỉ cần giấy xác nhận tâm lý về giới tính và sử dụng hoóc-môn liên tục ít nhất 12 tháng là có thể thay đổi giới tính trên giấy tờ. Do vậy, các nhà làm luật cần tiếp tục đưa ra những quy định chi tiết để hiện thực hoá quyền chuyển đổi giới tính.

Song song với việc thừa nhận chuyển đổi giới tính, Bộ luật Dân sự (2015) cũng có những quy định để đảm bảo các quyền nhân thân cho người chuyển đổi giới tính. Người đã chuyển đổi giới tính được thay đổi họ tên và cải chính hộ tịch, cũng như có những quyền nhân thân khác phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi như xây dựng gia đình, nhận nuôi con nuôi… Bộ luật Dân sự được xem như là luật gốc cho những luật chuyên ngành.

Theo luật sư Phan Vũ Tuấn (Văn phòng Luật sư Phan): mặc dù pháp luật đã mở ra quy định về việc chuyển đổi giới tính nhưng cũng giống như việc xác định lại giới tính, đây sẽ là một quyền nhân thân có điều kiện. Theo đó, các điều kiện về độ tuổi, tình trạng hôn nhân... phải được xem xét để đảm bảo các vấn đề an sinh xã hội, quan hệ hôn nhân gia đình, sao cho phù hợp với các thông lệ quốc tế cũng như truyền thống đạo đức của dân tộc, tránh sự định hướng lệch lạc về giới tính, đặc biệt là đối với bộ phận thanh thiếu niên ở độ tuổi nhận thức về giới tính còn chưa sâu sắc và dễ bị ảnh hưởng lẫn nhau, bởi xu hướng, phong trào. Thêm nữa, nếu như không được điều chỉnh phù hợp, các quy định mở này ngược lại có thể sẽ bị lạm dụng để thực hiện các hành vi vi phạm hoặc trốn tránh pháp luật. Mặt khác, nếu không có sự kiểm soát chặt chẽ, việc chuyển đổi giới tính có thể sẽ xảy ra tràn lan, gây khó khăn trong việc quản lý nhà nước về trật tự công cộng cũng như an toàn về sức khỏe, tính mạng của người chuyển đổi giới tính [5].

Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2017. Tuy nhiên, sẽ cần có thêm văn bản pháp luật hướng dẫn trước khi người chuyển giới có thể thực hiện được quyền này của mình, để luật được đi vào đời sống một cách phù hợp và hiệu quả.

Kết luận

Việc pháp luật thừa nhận quyền chuyển đổi giới tính thể hiện sự thay đổi trong cái nhìn của nhà làm luật, phù hợp với tinh thần của Hiến pháp (2013) về quyền con người. Đây thực sự là một bước tiến quan trọng bằng việc khẳng định quyền của người chuyển giới. Tuy nhiên, quy định về chuyển đổi giới tính của Bộ luật Dân sự mới vẫn có nhiều điểm chưa hoàn thiện, cần tiếp tục được triển khai cụ thể, chi tiết hơn nữa để đảm bảo quyền chuyển giới sẽ được thực thi sớm, thuận lợi trong thực tế.

Tài liệu tham khảo

[1] iSEE (2012). Khát vọng được là chính mình.

[2] http://isee.org.vn/vi/Article/viet-nam-hop-phap-quyen-chuyen-doi-gioi-tinh

[3] ICS, Isee, PFLAG, Trả lời các câu hỏi của bạn về người chuyển giới, bản dạng giới và thể hiện giới, 2012.

[4] PFLAG, Những đứa con của chúng ta, Hỏi- đáp giành cho phụ huynh của người chuyển giới.

[5]http://www.sggp.org.vn/nhipcaubandoc/2015/11/404216/#sthash.hmFYd0qD.dpuf




[1] Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (Isee), Khát vọng được là chính mình: Người chuyển giới ở Việt Nam – Những vấn đề thực tiễn và pháp lý, 2012.

[2]Nguyễn Lê Hoài Anh (2013), Rủi ro và thách thức với người chuyển giới, Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và giới

[3]http://isee.org.vn/vi/Blog/Article/viet-nam-hop-phap-hoa-quyen-chuyen-doi-gioi-tinh

[4]http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=588&LanID=1163&TabIndex=1

 ThS. Nguyễn Lê Hoài Anh* 



* Khoa Công tác xã hội, Trường ĐHSP Hà Nội.