Ngày 16/10/2015 tại Hà Nội, Tổng cục Dân số- Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) tổ chức Hội thảo Chia sẻ kinh nghiệm, định hướng truyền thông về bình đẳng giới và mất cân bằng giới tính khi sinh. Từ năm 2006 đến nay, tỷ số giới tính khi sinh (TSGTKS) của Việt Nam gia tăng ở cả thành thị và nông thôn. Năm 2006 TSGTKS là 109,8, năm 2010 là 111,2, và năm 2014 là 112,2. Đặc biệt một số tỉnh có tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh cao như Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang…

Hội thảo đã nghe một số báo cáo của các nhà nghiên cứu, các chuyên gia, lãnh đạo các cấp để hiểu rõ và sâu sắc hơn về thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, và trao đổi kinh nghiệm các nước có TSGTKS cao. Tại Việt Nam, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mất cân bằng giới tính khi sinh là do tâm lý thích con trai, muốn sinh con trai để có người nối dõi tông đường, có nơi nương tựa lúc tuổi già, làm những việc lớn, nặng nhọc. Bên cạnh đó là việc sử dụng phổ biến công nghệ xác định giới tính thai nhi và sức ép từ cộng đồng cũng là một lý do quan trọng trong việc lựa chọn giới tính thai nhi. Có thể nói bản chất sâu xa của mất cân bằng giới tính khi sinh bắt nguồn từ bất bình đẳng giới. Bất bình đẳng giới thể hiện trong tiếp cận việc làm, thừa kế tài sản, sở hữu đất đai, tham gia chính trị, tiếp cận giáo dục, chăm sóc sức khỏe. Số liệu cho thấy, ở lĩnh vực nào phụ nữ, trẻ em gái đều chịu thiệt thòi hơn nam giới, trẻ em trai.

Hội thảo cũng nghe những chia sẻ thực tiễn của đại diện ngành dân số Hải Dương về mô hình thí điểm hỗ trợ trẻ em gái được triển khai từ năm 2014 với mục đích nâng cao vị thế của phụ nữ và trẻ em gái trong cộng đồng, xã hội; chăm sóc SKSS vị thành niên và nâng cao kỹ năng sống. Mô hình được triển khai với 10 trường trung học cơ sở tại 10 xã, dưới hình thức câu lạc bộ “các bạn gái tiêu biểu”. Với các hình thức sinh hoạt phong phú, câu lạc bộ đã huy động các học sinh nữ tham gia giúp các em tự tin hơn, kiến thức, kỹ năng sống, vị thế của trẻ em gái được nâng cao.

Các giải pháp được đưa ra nhằm giảm thiếu mất cân bằng GTKS gồm tăng cường truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức và chuyển đổi hành vi; có chính sách khuyến khích, hỗ trợ xây dựng và thực hiện các chính sách hỗ trợ, nâng cao vai trò, vị thế của trẻ em gái và phụ nữ; nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật về nghiêm cấm các hình thức lựa chọn giới tính thai nhi; nâng cao trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp; và tuân thủ các quy định của pháp luật về nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi cho đội ngũ cán bộ y tế.

THANH TÂM