Tọa đàm chính sách về trạm y tế xã ở việt nam: biến đổi chức năng và thay đổi dạng thức – một góc nhìn từ 3 tỉnh qua 5 năm nghiên cứu

Trong ba thập kỷ qua, ngành y tế Việt Nam đạt được nhiều thành quả, nhưng vẫn phải đương đầu với nhiều thách thức. Các trạm y tế nông thôn có vai trò rất quan trọng giúp vượt qua những thách thức này vì đa số dân cư Việt Nam sống ở nông thôn. Dự án “Nghiên cứu Sức khỏe dân số” do Viện Xã hội học, Tổ chức  Atlantic Philanthropics và Hội đồng Khoa học Xã hội Hoa kỳ được thực hiện tại Thái Nguyên, Khánh Hòa, và Vĩnh Long trong giai đoạn 2008-2014.

Ngày 4/11/2015 tại Hà Nội, tọa đàm chính sách “Trạm y tế xã ở Việt Nam: Biến đổi chức năng và thay đổi dạng thức – một góc nhìn từ 3 tỉnh qua 5 năm nghiên cứu” thuộc Nghiên cứu Sức khỏe dân số được tổ chức nhằm chia sẻ các kết quả nghiên cứu đánh giá thực trạng sử dụng dịch vụ y tế cấp xã tại các địa bàn nghiên cứu và tham vấn các khuyến nghị chính sách.

Kết quả nghiên cứu cho thấy phụ nữ, người nghèo, và người dân tộc thiểu số (DTTS) và người có bảo hiểm y tế (BHYT) đăng ký ở trạm y tế (TYT) sử dụng TYT nhiều hơn. Số người sử dụng trạm y tế xã nhìn chung vẫn tiếp tục giảm, ngoại trừ mô hình TYT công - tư kết hợp cung cấp dịch vụ và đầu tư trang thiết  bị (khách hàng nhiều hơn, thu nhập của nhân viên y tế tăng…). Phần lớn người sử dụng hài lòng với dịch vụ của TYT, tuy nhiên mức độ hài lòng có xu hướng giảm. Liên quan tới vấn đề BHYT, tỷ lệ sử dụng BHYT cao hơn tại các xã có nhiều chương trình hỗ trợ và đầu tư; nhóm có BHYT đến khám chữa bệnh cao hơn nhóm không có BHYT; chương trình hỗ trợ TYT làm tăng tỷ lệ khám chữa bệnh cấp tính tại trạm đối với nhóm có BHYT. Trong nội dung chăm sóc phụ nữ có thai, tỷ lệ phụ nữ có thai uống viến sắt ít nhất 3 tháng và tỷ lệ khám thai 4 lần thấp nhất là ở xã vùng cao của Thái Nguyên (tương ứng 36% và 25%). Về chức năng đỡ đẻ tại TYT, việc có BHYT làm tăng khả năng phụ nữ sinh con tại TYT. Người mẹ càng trẻ, khả năng chọn sinh con tại TYT càng thấp.

Nghiên cứu đưa ra các khuyến nghị liên quan tới chất lượng dịch vụ, trình độ chuyên môn và thái độ của cán bộ TYT, trang thiết bị, đào tạo nhân lực và nhu cầu địa phương, đầu tư nguồn lực tại các vùng nghèo và DTTS, hoàn thiện đánh giá TYT (đánh giá độc lập sự hài lòng của người bệnh) và mô hình công tư-kết hợp, quan tâm tới mối quan hệ người sử dụng-người cung cấp dịch vụ.

Các ý kiến tại tọa đàm tập trung vào đảm bảo thực hiện chức năng chăm sóc sức khỏe ban đầu của TYT xã trong việc giảm tải cho tuyến trên, sử dụng thẻ bảo hiểm y tế, sử dụng trang thiết bị y tế hiệu quả. Đặc biệt tình trạng sử dụng TYT trong dịch vụ sinh đẻ khi ngày càng có nhiều phụ nữ lựa chọn sinh tại các bệnh viện lớn dẫn đến lãng phí nguồn nhân lực và thiết bị cho hoạt động chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em. Các nghiên cứu xã hội học về y tế, tình trạng sức khỏe, số liệu về sức khỏe… cần được tăng cường để cung cấp bằng chứng giúp hoạch định chính sách y tế trong bối cảnh thay đổi các chức năng TYT.

THU PHƯƠNG