ĐẢM BẢO BÌNH ĐẲNG VỀ THU NHẬP VÀ TƯ DUY CHÍNH SÁCH THEO HƯỚNG TIẾP CẬN DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM

Mối quan hệ giữa dân số với kinh tế, xã hội và môi trường dần được chứng minh một cách hệ thống và được khẳng định công tác dân số-kế hoạch hóa phát triển cần phải lồng ghép các biến qui mô, cơ cấu và phân bổ dân số.

Bất bình đẳng trong tiến trình phát triển đang là chủ đề hàng đầu trong chương trình nghị sự của chính phủ nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Bất bình đẳng liên quan chặt chẽ với tăng trưởng kinh tế, đồng thời là chỉ tiêu phản ánh thực trạng phát triển xã hội. Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng cao trong khi “bức tranh” về chênh lệch phân phối thu nhập thể hiện rõ nét trên tất cả các khía cạnh. Để đảm bảo bình đẳng về thu nhập cần phải đổi mới cách tiếp cận thay vì chỉ chú trọng giảm bất bình đẳng về thu nhập thì chuyển trọng tâm sang tăng bình đẳng về cơ hội, cũng như đổi mới tư duy chính sách theo hướng tiếp cận dân số và phát triển ở Việt Nam.

Sau Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) – Cairo 1994, tiếp cận dân số và phát triển đã được cộng đồng thế giới công nhận và thay thế cho khái niệm dân số-kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) trong những năm trước đây. Khái niệm phát triển cũng được định nghĩa là sự tăng trưởng về kinh tế song hành cùng với công bằng xã hội và bền vững về môi trường. Tiếp cận dân số và phát triển sẽ cho thấy “cái nhìn” thấu đáo về những tương tác giữa phát triển dân số tới bất bình đẳng kinh tế-xã hội và ngược lại.

Tổng quan về các quan hệ dân số - bất bình đẳng – phát triển

Nói đến dân số là nói đến quy mô, cơ cấu và những thành tố gây nên sự biến động của chúng. Các quá trình sinh chết và di cư bao giờ cũng diễn ra trong một khung cảnh kinh tế xã hội và môi trường nhất định. Các khung cảnh này biến đổi mạnh mẽ theo thời gian, cũng khác nhau khá xa giữa các quốc gia, các châu lục và thậm chí giữa các vùng, các khu vực trong một nước (Lê Cự Linh và cộng sự, 2012). Dân số bùng nố, sản xuất lương thực, thực phẩm không gia tăng theo kịp, nghèo đói, thất nghiệp và bất bình đẳng phát sinh. Từ đó dẫn đến tồn tại mối quan hệ hai chiều, chuyển hóa nhân quả giữa dân số và phát triển.

Theo Ngân hàng thế giới [3], Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng cao trong khi bất bình đẳng về thu nhập chỉ ở mức tăng “khiêm tốn” trong thời gian qua. Từ năm 1932 đến 2012, thu nhập bình quân của nhóm 40% có thu nhập thấp nhất tăng 9% mỗi năm. Đây là một trong các tỷ lệ tăng cao nhất trên thế giới về thu nhập của nhóm 40% có thu nhập thấp nhất. Tuy nhiên, có những quan ngại về bất bình đẳng cho dù Việt Nam đạt thành tích tăng trưởng đồng đều. Bên cạnh đó là khoảng cách giữa những người rất giàu và phần đông người Việt Nam. Tại Việt Nam, cứ một triệu người thì có một người siêu giàu. Ước tính có 110 người siêu giàu vào năm 2013, tăng từ mức 34 người siêu giàu vào năm 2003.

Bất bình đẳng gia tăng gắn liền với sự chia sẻ không đều cơ hội dịch chuyển xã hội, đồng thời cản trở dịch chuyển xã hội liên thế hệ. Đầu tư vào giáo dục để có việc làm tốt hơn được xem là con đường chủ yếu để dịch chuyển xã hội liên thế hệ, nhưng đang gặp 2 cản trở chính là chênh lệch về chất lượng giáo dục và vai trò không chính đáng của quan hệ, quyền thế, tiền bạc trong xin việc làm, nhất là việc làm trong khu vực công. Ngoài ra bất bình đẳng gia tăng đang làm suy giảm niềm tin xã hội và niềm tin vào thể chế.

Thực trạng bất bình đẳng về thu nhập ở Việt Nam

Sau những tác động to lớn do chính sách đổi mới đưa lại, nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang bước vào giai đoạn phát triển mới, mạnh và bền vững.

Phát triển bền vững, trong tư duy hiện đại, đòi hỏi quá trình phát triển của một quốc gia phải chú trọng tới cả ba trụ cột là kinh tế, xã hội và môi trường. Đối với Việt Nam nói riêng, phát triển bền vững là một nhu cầu thực sự cấp bách vì ngoài việc phải duy trì được tốc độ tăng trưởng để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, chúng ta còn phải giải quyết khía cạnh phân phối thu nhập. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy khả năng phát triển bền vững của Việt Nam hiện nay đang là dấu hỏi lớn xét từ góc độ của ba trụ cột trên.

Cùng với việc có thêm nhiều người siêu giàu, số lượng hộ nghèo trên cả nước cũng tăng. Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, số hộ nghèo trên cả nước đã tăng lên một triệu hộ, tăng 50% sau khi mức chuẩn nghèo được điều chỉnh từ mức thu nhập từ 200 ngàn đồng/người/tháng lên 400 ngàn/người/tháng ở nông thôn và từ 260 ngàn/người/tháng lên 500 ngàn/người/tháng ở khu vực thành thị năm 2010 [1]. Theo mức chuẩn này, tỷ lệ hộ nghèo hiện nay ở Việt Nam giảm từ 14,2% (2010) xuống 12,6% (2011); 11,1% (2012); 9,8% (2013) và 8,4% (2014). Bên cạnh đó, tình trạng tái nghèo vẫn diễn ra trầm trọng ở một số địa phương. Nói cách khác, giảm nghèo ở Việt Nam vẫn chưa thực sự bền vững.

Một số nghiên cứu đã chỉ ra bất bình đẳng trong phân phối thu nhập ngày càng có xu hướng tăng lên sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại thế giới [2], thậm chí cả cơ hội cũng như rủi ro đều tăng lên, tốc độ giảm nghèo chậm hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế…đồng thời việc Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới sẽ tiếp tục tạo ra hiệu ứng hội tụ với lợi thế ngày càng gia tăng cho các thành phố có vị trí gần cảng biển, dẫn đến sự hội tụ của các cơ hội việc làm và tạo thu nhập tại các địa bàn này [8].

Bức tranh về phân phối thu nhập được thể hiện rõ nét trên tất cả các khía cạnh:

Khoảng cách chênh lệch giữa nhóm 20% người giàu nhất và 20% người nghèo nhất đang ngày càng rộng.

Bảng 1. Thu nhập bình quân đầu người/tháng và chênh lệch thu nhập

                  

 

 

 

Năm

Thu nhập bình quân đầu người/tháng theo giá thực tế (nghìn đồng)

Chênh lệch giữa nhóm thu nhập cao nhất và nhóm thu nhập thấp nhất (lần)

Nhóm thu nhập cao nhất

Nhóm thu nhập thấp nhất

1995

519,6

74,3

7,0

1996

574,7

78,6

7,3

1999

741,6

97,0

7,6

2002

872,9

107,0

8,1

2004

1.182,3

141,8

8,3

2006

1.541,7

184,3

8,4

2008

2.458,2

275,0

8,9

2010

3.410,2

369,4

9,2

2012

4.784,5

511,6

9,4

2014

6.426,4

659,1

9,7

Nguồn: TCTK, Niên giám Thống kê hàng năm.

Trong khi mức thu nhập vốn đã chênh lệch theo hướng ngày càng tăng thì nhóm thu nhập thấp lại có tốc độ tăng thu nhập chậm và ít hơn các nhóm khác. Mặc dù thu nhập bình quân của hộ gia đình tăng lên, sự gia tăng này không đồng đều và theo hướng làm cách biệt giữa giàu và nghèo ngày càng tăng.

  • Chênh lệch giữa các nhóm dân tộc thiểu số với nhóm người Kinh gia tăng.

Người dân tộc thiểu số ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong tổng số người nghèo, đồng thời khoảng cách giữa người dân tộc thiểu số và các nhóm còn lại đang tăng lên. Chênh lệch thu nhập của nhóm 20% hộ có thu nhập thấp nhất của dân tộc thiểu số với nhóm 20% thu nhập thấp nhất của dân tộc đa số cũng đã tăng từ mức 1,4 lần lên mức 2,1 lần. Theo một báo cáo Diễn đàn phát triển dân tộc thiểu số (2015) thì 53 dân tộc thiểu số vủa Việt Nam với trên 13 triệu người (chiếm 14,28% dân số cả nước) nhưng tỷ lệ đói nghèo rất cao chiếm 47% hộ nghèo ở các vùng dân tộc thiểu số, tỷ lệ tái nghèo cũng cao.

  • Khác biệt rõ trong cơ cấu nguồn thu và nguồn thu nhập chính giữa nhóm giàu và nhóm nghèo.

Theo kết quả Điều tra mức sống hộ gia đình từ năm 2002 đến năm 2012 cho thấy tăng thu nhập của hộ dân cư chủ yếu tăng từ công việc hưởng tiền lương, tiền công và công việc tự làm xây dựng, tương ứng là 7,9 lần và 9 lần [5]. Trong tổng thu nhập giai đoạn 2002-2012, bình quân tỷ trọng thu tiền từ tiền lương, tiền công tăng từ 32,7% lên đến 46,2%; thu từ nông, lâm, thủy sản giảm từ 28,9% xuống 19,8%; thu từ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ giữ tương đối ổn định ở mức 22%. Có thể thấy cơ cấu thu nhập năm 2012 đã có sự dịch chuyển so với các năm trước, theo hướng tăng mạnh các khoản thu về tiền lương, tiền công và giảm các khoản thu về từ nông, lâm, thủy sản. Sự chênh lệch thể hiện rõ trong nguồn gốc thu nhập giữa nhóm dân cư 20% giàu nhất và nhóm dân cư 20% nghèo nhất. Năm 2012, nhóm giàu nhất có nguồn thu chủ yếu từ tiền công/tiền lương (đóng góp 46,5% trong tổng thu nhập) thì thu nhập của nhóm nghèo nhất chủ yếu vẫn dựa vào các hoạt động nông nghiệp (40,9%).

  • Mặc dù mức chênh lệch trong thu nhập trung bình giữa thành thị và nông thôn có xu hướng giảm nhưng chênh lệch trong thu nhập tuyệt đối giữa thành thị và nông thôn ngày càng gia tăng.

Năm 2002, thu nhập bình quân đầu người (TNBQĐN) một tháng ở nông thôn là 275,1 nghìn đồng thì đến năm 2014 là 2041,4 nghìn đồng (gấp 7,4 lần); còn ở khu vực thành thị TNBQĐN một tháng là 3968,2 nghìn đồng gấp 6,4 lần so với năm 2002 (622,1 nghìn đồng). Mặc dù thu nhập thành thị vẫn cao hơn nông thôn nhưng tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người qua các năm ở giai đoạn này của khu vực nông thôn luôn cao hơn khu vực thành thị. Hệ số chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn giảm 17,4% từ 2,3 lần vào năm 2002 xuống còn 1,9 lần vào năm 2012 nhưng lại nhích lên 1,94 lần vào năm 2014. Tuy nhiên mức chênh lệch tuyệt đối về thu nhập bình quân đầu người/tháng giữa hai khu vực đã gia tăng đến 554%. Nếu như năm 2002, chênh lệch này chỉ là 347 nghìn đồng, thì đến năm 2014 đã lên đến 1926,8 nghìn đồng.

Bảng 2. Thu nhập bình quân đầu người/tháng theo thành thị-nông thôn

 

 

2002

2004

2006

2008

2010

2012

2014

TNBQ ở thành thị(1.000đ)

622,1

815,4

1.058,4

1.605,2

2.129,5

2.989,1

3.968,2

TNBQ ở nông thôn (1.000đ)

275,1

378,1

505,7

762,2

1.070,4

1.579,4

2.041,4

Chênh lệch tuyệt đối TT-NT (1.000đ)

347,0

437,3

552,7

843,0

1.059,1

1.409,7

1.926,8

Hệ số chênh lệch TT-NT (lần)

2,3

2,2

2,1

2,1

2,0

1,90

1,94

Nguồn: TCTK, Niên giám Thống kê hàng năm.

Chênh lệch giàu nghèo trong nội bộ khu vực nông thôn khiến bức tranh phân hóa giàu nghèo càng “u ám” hơn

Các khảo sát cho thấy ngay trong những gia đình nông thôn, khoảng cách giàu nghèo ngày càng rộng. Trong khi khoảng cách chênh lệch giữa nhóm 20% thu nhập cao nhất và 20% thu nhập thấp nhất ở thành thị có xu hướng giảm từ 8 lần xuống 7,1 lần, khoảng cách chênh lệch này ở khu vực nông thôn lại gia tăng từ 6 lần lên 8 lần (Tổng cục Thống kê, 2013). Một trong những nguyên nhân của vấn đề này là hiện tượng người dân không có đất và mất đất cho các dự án công nghiệp, sân golf, căn hộ, biệt thự…Người nông dân không có đất cũng đồng nghĩa với việc họ mất đi nguồn thu nhập chính từ sản xuất nông nghiệp. Giá đất tăng lên dẫn tới chênh lệch thu nhập tăng lên. Cùng với đó là việc di cư từ nông thôn ra thành thị để tìm việc làm cải thiện thu nhập làm tăng chênh lệch giữa gia đình có người di cư và gia đình không có người di cư.

Theo ngân hàng Thế giới, khu vực nông thôn “đóng góp” chính vào sự gia tăng bất bình đẳng về thu nhập gần đây. Tốc độ tăng trưởng thu nhập của 10% hộ nghèo nhất ở khu vực này chưa bằng một nửa so với tốc độ tăng trưởng của 10% hộ giàu nhất trong giai đoạn 2004-2012.

  • Chênh lệch thu nhập của người dân giữa các thành phố và các vùng miền không được cải thiện.

Hiện chênh lệch thu nhập, đặc biệt giữa các vùng miền đang tạo ra nhiều hệ lụy ảnh hưởng đến kết quả phát triển kinh tế-xã hội chung của cả nước. Năm 2014, Đông Nam Bộ có mức TNBQĐN/tháng cao nhất (4124 nghìn đồng), tiếp đó là Đồng bằng sông Hồng (3278 nghìn đồng); Đồng bằng sông Cửu Long (2326 nghìn đồng). Hai vùng có mức TNBQĐN/tháng thấp nhất là Trung du và miền núi Bắc Bộ (1613 nghìn đồng) và Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (1982 nghìn đồng).

Bảng 3. Thu nhập bình quân đầu người trên tháng ở Việt Nam theo vùng (1.000 VNĐ)

 

Năm

2002

2004

2006

2008

2010

2012

2014

Vùng

Đồng bằng Sông Hồng

353,1

488,2

653,3

1.048,5

1.567,8

2.337,1

3.278

Đông Bắc

268,8

379,9

511,2

768,0

1.054,8

1.482,1

1.613

Tây Bắc

197,0

265,7

372,5

549,6

740,9

998,8

Bắc Trung Bộ

235,4

317,1

418,3

641,1

902,8

1.344,8

1.982

Duyên hải Miền Nam Trung Bộ

305,8

414,9

550,7

843,3

1.162,1

1.698,4

Tây Nguyên

244,0

390,2

522,4

794,6

1.087,9

1643,3

2.008

Đông Nam Bộ

619,7

833,0

1.064,7

1.649,2

2.165,0

3.016,4

4.124

Đồng bằng Sông Cửu Long

371,3

471,1

627,6

939,9

1.247,2

1.796,7

2.326

Hệ số chênh lệch giàu/nghèo

3,1

3,1

2,9

3,0

2,9

3,0

3,1

Nguồn: Tổng cục Thống kê (2013), Kết quả khảo sát mức sống dân cư năm 2012; TCTK (2015), Niên giám Thống kê 2014.

Tỷ lệ hộ nghèo mặc dù đã giảm qua các năm song tại Miền núi Tây Bắc và Đông Bắc, tỷ lệ hộ nghèo tương ứng của năm 2013 là 25,86% và 14,81%, gấp 26 hay 15 lần Đông Nam Bộ.

  • Ở các tỉnh nghèo, kinh tế kém phát triển, thu nhập bình quân đầu người rất thấp.

Hiện nay, mức TNBQĐN tuyệt đối ở những tỉnh có kinh tế kém phát triển đang ở mức rất thấp. Tại vùng miền núi Tây Bắc, năm 2014, TNBQĐN của Lai Châu chỉ có 987 nghìn đồng, tương đương khoảng 45 USD (theo tỷ giá hiện hành), hay 1,5 USD/ngày; TNBQĐN của Hòa Bình (khá nhất) cũng chỉ 1.597 nghìn đồng, tương đương 72 USD/ngày. Tương tự các tỉnh khác ở Tây Bắc từ 1,5-1,8 USD/ngày. Tỉnh nghèo nhất khu vực Tây Nguyên là Kom Tum, TNBQĐN năm 2014 là 2,4 USD/ngày[1].

  • Chênh lệch mức lương không chỉ theo giới tính, trình độ chuyên môn, giữa nông thôn – thành thị, giữa các vùng miền mà đặc biệt rất lớn giữa các khu vực, ngành kinh tế.

Theo thống kê của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, tiền lương bình quân của người lao động trong những năm qua tiếp tục được ổn định và có xu hướng tăng. Năm 2014, tiền lương bình quân/tháng của lao động làm công ăn lương là 4.397 nghìn đồng, tăng 34,3% so với năm 2011. Mức lương trung bình tại khu vực nhà nước là 5.323 nghìn đồng (tăng 40% so với năm 2011); Khu vực ngoài nhà nước là 3.860 nghìn đồng (tăng 30,4% so với năm 2011); khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 4.946 nghìn đồng (tăng 23,4% so với năm 2011) (Tổng cục Thống kê, 2015) [6]. Điều này cho thấy bên cạnh tốc độ tăng gia tăng mức lương trung bình rất khác nhau trong nội bộ từng khu vực, hiện chênh lệch mức lương giữa khu vực nhà nước với khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 1,4 lần – 1,1 lần và giữa khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực ngoài nhà nước là 1,3 lần.

Như vậy có thể thấy mặc dù tỷ lệ hộ nghèo đã giảm rõ rệt nhưng chất lượng cuộc sống ở nhiều nơi bị suy giảm, chênh lệch về thu nhập, sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng không có dấu hiệu thu hẹp mà lại có xu hướng giãn ra. Chênh lệch trong thu nhập ngày càng rỗ nét và gay gắt hơn với tỷ lệ hộ nghèo tập trung chủ yếu ở những vùng khó khăn về điều kiện tự nhiên, kết cấu hạ tầng, trình độ dân trí cũng như trình độ sản xuất. Kết quả của sự phân hóa này đang có thể ảnh hưởng sâu sắc đến tăng trưởng kinh tế và đời sống xã hội.

Các nguyên nhân của bất bình đẳng trong thu nhập

Theo Ngân hàng thế giới [3], sự khác nhau giữa các vùng miền và mô hình tăng trưởng là nguyên nhân gây nên tình trạng gia tăng bất bình đẳng, song nguyên nhân quan trọng nhất là do mô hình tăng trưởng. Bất bình đẳng gia tăng cũng liên quan tới những chuyển dịch về mô hình sản xuất từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp. Trong giai đoạn 2002-2014, tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp giảm từ 65% xuống 46,3% trong khi lao động trong lĩnh vực công nghiệp tăng từ 12% lên 14,1% và lĩnh vực dịch vụ tăng từ 20% lên 35%.

Bất bình đẳng thu nhập giữa nam nữ vẫn xuất phát từ những “định kiến giới” và phân biệt đối xử giới” giữa nam giới và nữ giới. Tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế nữ giới đã tương đương với nam giới song cùng làm việc một giờ công lao động nhưng nữ giới chỉ nhận được mức lương bằng 70% so với nam giới. Số giờ công lao động của nữ giới cao hơn của nam giới.

Bất bình đẳng thu nhập còn do nhóm dân tộc thiểu số không đạt tiến bộ nhanh chóng. Người dân tộc thiểu số có trình độ học vấn thấp hơn và bị hạn chế hơn về khả năng tiếp cận nguồn vốn sản xuất chênh lệch về thu nhập giữa các dân tộc ngày càng gia tăng.

Bất bình đẳng về thu nhập ở Việt Nam cho thấy, các tiến trình tăng trưởng không còn mang lại nhiều thuận lợi hơn cho người nghèo và những hộ gia đình nghèo đang bị bỏ lại phía sau. Nhà nước cần có nhiều chính sách ưu đãi hơn nữa nhằm giúp các hộ gia đình nghèo, nhất là khu vực miền núi vượt qua các cản trở về cơ cấu và đạt được tiềm năng tăng trưởng của họ. Ngoài ra để giải quyết căn bản tình trạng bất bình đẳng nói chung, cần thay đổi cách tiếp cận và xây dựng chiến lược tăng trưởng phù hợp hơn.

Tư duy chính sách theo hướng tiếp cận về Dân số và phát triển đảm bảo bình đẳng về thu nhập

Trước hết về cách tiếp cận giải quyết bất bình đẳng, ở cấp độ vi mô, bất bình đẳng thu nhập và xóa đói giảm nghèo phụ thuộc vào năm nguồn vốn sinh kế gồm: Vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội (DFID,2001). Có thể thấy bất bình đẳng thu nhập chính là bất bình đẳng về kết quả. Nó chứa đựng các nguyên nhân xuất phát từ bất bình đẳng cơ hội, nhất là cơ hội phát triển con người thông qua giáo dục.

Các nghiên cứu trên thế giới cũng đã khẳng định mối liên quan qua lại chặt chẽ giữa bất bình đẳng cơ hội và bất bình đẳng thu nhập. Bất bình đẳng thu nhập dẫn đến bất bình đẳng cơ hội và làm hiệu quả vốn con người của toàn xã hội trở nên yếu đi. Và bất bình đẳng cơ hội ngược lại cũng là nguồn gốc của bất bình đẳng về kinh tế và làm nó trở nên khó giải quyết hơn. Việc chỉ ra mối quan hệ giữa cơ hội giáo dục và thu nhập cá nhân là một trong những cơ sở quan trọng cho việc ra chính sách giảm bất bình đẳng.

Đại hội XI của Đảng khẳng định, “Tạo cơ hội bình đẳng tiếp cận các nguồn lực phát triển và hưởng thụ các dịch vụ cơ bản, các phúc lợi xã hội. Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ; đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức để đảm bảo giảm nghèo bền vững…”

Thứ hai, về mô hình mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và giải quyết công bằng xã hội, có thể thấy trên thế giới có ba mô hình được bàn luận nhiều nhất đó là mô hình “Công bằng trước-tăng trưởng sau”, mô hình “tăng trưởng trước- công bằng sau”, và mô hình “tăng trưởng đi đôi với công bằng”.

Mô hình “tăng trưởng đi đôi với công bằng” mà Việt Nam đang hướng theo có thể hạn chế sự bất bình đẳng ngay từ giai đoạn đầu của tăng trưởng kinh tế, bằng cách tập trung cải thiện thu nhập ở khu vực nông nghiệp như mở rộng và phát triển nhiều ngành nghề nhằm tạo ra nhiều việc làm cho thời gian nhàn rỗi, tiến hành đa dạng hóa nông nghiệp, tiến tới công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn, tăng việc làm phi nông nghiệp làm cho lao động dịch chuyển từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng lên, nhờ vậy tiền lương thực tế nói chung và đặc biệt là tiền lương trong lĩnh vực nông nghiệp và khu vực nông thôn tăng lên, tạo cơ hội mở rộng thị trường cho ngành công nghiệp, dịch vụ và khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị dần dần được cải thiện. Như vậy tăng trưởng kinh tế có thể đi đôi với công bằng xã hội.

Chính sách phân phối lại tài sản nhằm khắc phục sự bất bình đẳng trong vấn đề sở hữu tài sản và được áp dụng phổ biến ở các nước đang phát triển. Chính sách phân phối lại tăng trưởng như chính sách nhằm tăng cường cơ hội giáo dục – đào tạo, chăm sóc y tế cho nhiều người. Đây là mô hình có tính khả thi với phần lớn các quốc gia, kể cả Việt Nam. Theo mô hình này chính phủ sẽ đưa ra chính sách thúc đẩy tăng trưởng nhanh, đồng thời đặt ra vấn đề bình đẳng, công bằng xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư dựa trên cơ sở phát triển kinh tế tư nhân, khuyến khích người dân làm giàu và thực hiện phân phối thu nhập theo sự đóng góp của các nguồn lực.

Thứ ba, về lồng ghép các biến dân số trong kế hoạch hóa phát triển tạo ra bình đẳng các cơ hội, có thể thấy dân số Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi nhân khẩu chưa từng có trong lịch sử phát triển nhân khẩu nói riêng và lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam nói chung. Mức sinh và mức chết giảm đã làm cho Việt Nam chấm dứt thời kỳ cơ cấu dân số trẻ, bước vào thời kỳ cơ cấu dân số vàng” đồng thời cũng là giai đoạn “già hóa dân số”. Các dòng di cư diễn ra ngày càng mạnh mẽ với cường độ lớn và số lượng di cư ngày càng đông…Tuy nhiên cơ hội vàng sẽ không được tự động chuyển thành lợi tức cho nền kinh tế Việt Nam. Chúng ta cần có chính sách kịp thời, phù hợp để có thể tận dụng được lợi thế của lực lượng lao động dồi dào bằng cách đầu tư vào lứa tuổi thanh thiếu niên trước khi giai đoạn này kết thúc sau năm 2041. Do vậy, cần nỗ lực hơn nữa để giúp thanh thiếu niên phát huy được tối đa tiềm lực của mình bằng cách hỗ trợ họ phát triển toàn diện, bao gồm cả sức khỏe sinh sản và học vấn. Hệ thống giáo dục phổ thông nên chuyển hướng chiến lược từ phát triển theo chiều rộng sang chiến lược trọng tâm là nâng cao chất lượng đào tạo ở bậc học này thông qua củng cố cơ sở trường lớp, thiết bị giảng dạy và nâng cao chất lượng giáo viên (Nguyễn Đình Cử, 2016).

Bên cạnh đó, do “phát triển bền vững” cũng được xác định là mục tiêu chiến lược của quốc gia nên trong tương lai khi mức sinh đã giảm bền vững dưới mức sinh thay thế, để đạt được mục tiêu phát triển bền vững thì trọng tâm của chính sách dân số cần phải thay đổi để thích ứng với bối cảnh phát triển như: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển việc làm có giá trị cao để tận dụng cơ cấu dân số vàng; phát triển hệ thống giáo dục và y tế phù hợp với cơ cấu dân số thay đổi mạnh mẽ; dân số già và an sinh xã hội; mất cân bằng giới tính khi sinh và hệ lụy; di dân và chất lượng cuộc sống… tức là yếu tố dân số cần được giải quyết trong mối quan hệ chặt chẽ với phát triển bền vững. Việc chuyển đổi trọng tâm của chính sách dân số từ KHHGĐ sang dân số và phát triển bền vững là yêu cầu bức thiết hiện nay [4].

Các dữ liệu và bằng chứng về các xu hướng dân số là đầu vào quan trọng cho các chính sách kinh tế-xã hội. Do vậy cần đảm bảo rằng các biến số cần phải lồng ghép vào hoạt động lập kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội ở tất cả các ngành, các cấp. Giáo dục là lĩnh vực chủ chốt phải nhắm tới khi thúc đẩy tăng trưởng toàn diện. Hoàn thiện khả năng và chất lượng của giáo dục sẽ mở ra môi trường rộng lớn cho tài năng phát triển trong lực lượng lao động, nâng cấp và mở rộng nền tảng kỹ năng của lực lượng đó đồng thời tận dụng được “dư lợi dân số”.

Kinh nghiệm của các quốc gia cho thấy Việt Nam không cần phải tập trung vào giảm hay kiểm soát dân số sau 10 năm duy trì mức sinh thay thế. Nếu Chính phủ tiếp tục chính sách giảm sinh, Việt Nam sẽ phải đối mặt với tình trạng mức sinh quá thấp và điều này có thể gây ra tác động xấu tới quá trình phát triển bền vững như: thiếu lao động, già hóa dân số nhanh chóng gây thêm gánh nặng cho hệ thống bảo hiểm quốc gia và thu hẹp thị trường trong nước.

Tăng cường đầu tư, phát triển nguồn vốn nhân lực tăng đầu tư công vào những khu vực kém phát triển là 2 hướng đi trong chiến lược tăng trưởng để giải quyết bất bình đẳng về thu nhập. Cùng với lồng ghép biến dân số vào kế hoạch hóa phát triển, xây dựng hệ thống số liệu dân số đầy đủ, tin cậy và dự báo dân số, đẩy mạnh thông tin, giáo dục truyền thông về dân số và phát triển chúng ta chắc chắn sẽ thực sự tạo ra bước chuyển trong tư duy và hoạch định chính sách tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống của người dân, giảm bất bình đẳng về cơ hội, qua đó giảm bất bình đẳng về thu nhập.

Kết luận

Bên cạnh các thành tựu về tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội sau đổi mới, bất bình đẳng nói chung, đặc biệt bất bình đẳng trong thu nhập vẫn là một hạn chế cố hữu trong quá trình tiến tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Chênh lệch phân phối thu nhập được thể hiện rõ nét trên tất cả các khía cạnh: giữa người giàu nhất và nghèo nhất, giữa nông thôn và thành thị; giữa các thành phố và vùng miền; giữa các ngành kinh tế và theo giới. Ở một góc nhìn tích cực, bất bình đẳng trong thu nhập ở một mức độ nhất định là động lực cho tăng trưởng, song ở góc nhìn khác bất bình đẳng có thể làm giảm tăng trưởng khi mà thu nhập thấp đồng nghĩa với suy giảm các cơ hội nâng cao các nguồn vốn sinh kế, đặc biệt là vốn con người.

Hiện nay, mặc dù tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam đã giảm rõ rệt nhưng chất lượng cuộc sống ở nhiều nơi bị suy giảm, chênh lệch về thu nhập, sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng không có dấu hiệu thu hẹp mà lại có xu hướng giãn ra. Nguyên nhân của bất bình đẳng là bất bình đẳng cơ hội.

Để đảm bảo bất bình đẳng về thu nhập, bên cạnh việc định hướng lại chiến lược tăng trưởng toàn diện, sử dụng mô hình “tăng trưởng đi đôi với công bằng”, cần phải đổi mới cách tiếp cận thay vì chỉ chú trọng vào giảm bất bình đẳng về thu nhập thì chuyển đổi trọng tâm sang tăng bình đẳng về cơ hội, đặc biệt cơ hội về giáo dục - đào tạo, cũng như đổi mới tư duy chính sách tiếp cận dân số và phát triển ở Việt Nam.

Tài liệu tham khảo

  • 1] Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2010), Chia sẻ thông tin trong lĩnh vực an sinh xã hội.
  • 2] (2012) Giảm khoảng cách chệnh lệch ở Việt Nam, thông tin chuyên đề số 5/2012, HN, VN.

[3] Ngân hàng Thế giới (2014), các phát hiện chính sách của báo cáo Điểm lại: Trọng tâm đặc biệt về bất bình đẳng ở Việt Nam, 7/2014.

  • 4] Nguyễn Thị Thiềng, Bùi Thị Hạnh, Tổng quan về chính sách dân số Việt Nam 1960-2016, 5/2016.
  • 5] Tổng cục Thống kê (2013), Kết quả điều tra mức sống hộ gia đình 2012.
  • 6] Tổng cục Thống kê (2015). Điều tra Lao động – Việc làm Quý IV 2014.
  • 7] Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI.
  • 8] Viện Hàn lâm khoa học xã hội VN (2011), Nghiên cứu “Giảm nghèo ở Việt Nam: Thành tựu và thách thức, Hà Nội, VN.
 

[1] Các tác giả tính toán từ Kết quả khảo sát mức sống dân cư các năm và Niên giám thống kê 2014

Nguồn: Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế chính sách điều tiết mối quan hệ giữa Dân số và Phát triển (2016). Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.