ĐIỀU TRA QUỐC GIA NGƯỜI KHUYẾT TẬT 2016: CÁC PHÁT HIỆN CHÍNH

Điều tra Quốc gia người khuyết tật năm 2016 (VDS2016) do Tổng cục Thống kê tiến hành nhằm đánh giá tình trạng khuyết tật của dân số và điều kiện kinh tế-xã hội và cung cấp bằng chứng phục vụ lập kế hoạch, chính sách cải thiện cuộc sống của người khuyết tật (NKT) tại Việt Nam.

VDS 2016 là cuộc điều tra đầu tiên có quy mô lớn, nội dung toàn diện về người khuyết tật. Cuộc Điều tra gồm hai mảng hoạt động: (i) Điều tra chọn mẫu hộ gia đình để xác định người khuyết tật thường trú tại hộ và (ii) Tổng rà soát các cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở chăm sóc người khuyết tật để xác định số người khuyết tật đang thực tế thường trú tại các cơ sở chăm sóc người khuyết tật. Cuộc điều tra chọn mẫu hộ có cỡ mẫu 35.442 hộ thuộc 1.074 địa bàn thuộc 1.074 xã/phường (trong đó có 144 xã nghèo, vùng sâu vùng xa) của 658/713 quận/huyện.

Tỷ lệ khuyết tật

Kết quả điều tra hộ gia đình cho thấy 7,06% dân số từ 2 tuổi trở lên là người khuyết tật, trong đó tỷ lệ khuyết tật trẻ em 2-17 tuổi là 2,83% và người lớn là 8,67%. Nếu kết hợp với kết quả của Tổng rà soát NKT đang thực tế thường trú tại các trung tâm thì tỷ lệ khuyết tật của dân số từ 2 tuổi trở lên là 7,09%, trong đó trẻ em 2-17 tuổi là 2,83% (trẻ em 2-15 tuổi là 3,02%) và người lớn là 8,67%.

Tỷ lệ khuyết tật khu vực nông thôn cao hơn gần 1,5 lần khu vực thành thị. Vùng có tỷ lệ khuyết tật cao nhất là Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung (BTB-DHMT), thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ (ĐNB) và Tây Nguyên (TN).

Theo 5 nhóm mức sống, tỷ lệ khuyết tật của nhóm 20% dân số nghèo nhất (Nhóm 1) là 11,2%, cao gấp 3 lần so với nhóm 20% dân số giàu nhất (Nhóm 5).

Tỷ lệ khuyết tật có xu hướng tăng lên theo tuổi, tỷ lệ của nữ cao hơn nam. Trong tương lai, tỷ lệ khuyết tật có thể tiếp tục gia tăng do Việt Nam đang chuyển sang quá trình già hóa dân số và gia tăng chất lượng sống.

Số lượng người khuyết tật

Theo kết quả điều tra chọn mẫu, tính đến cuối năm 2016, cả nước có hơn 6.199.048 người khuyết tật thực tế thường trú trong các hộ gia đình, trong đó có 663.964 trẻ em 2-17 tuổi, riêng trẻ em 2-15 tuổi là 635.811 trẻ em và  5.535.084 người từ 18 tuổi trở lên.

Nếu tính cả nguồn số liệu tổng rà soát hành chính người khuyết tật, tổng số người khuyết tật thì cả nước có tổng số 6.225.519 người khuyết tật, trong đó có 671.659 trẻ em từ 2-17 tuổi và 5.553.860 người từ 18 tuổi trở lên.

Do VDS2016 không điều tra toàn bộ dân số, nên tổng số người khuyết tật trên thực tế sẽ cao hơn số liệu suy rộng từ kết quả điều tra trên đây.

Số  lượng  người  khuyết  tật  theo dạng tật

Trong tổng số người khuyết tật có nhiều người bị đa khuyết tật. Dạng tật chiếm số lượng cao nhất là khuyết tật vận động thân dưới (3.566.854 người); tiếp đó là khuyết tật nhận thức (2.622.578 người); khuyết tật vận động thân trên (ví dụ rất khó khăn khi nâng được 1 vật nặng 2 kg từ thắt lưng lên ngang tầm mắt hoặc dùng ngón tay để nhặt các vật nhỏ…) là 2.158.988 người; thần kinh, tâm thần là 1.097.629 người và 836.247 người bị khuyết tật về giao tiếp. Kết quả cũng cho thấy có tới 1.219.233 người gặp khó khăn về tự chăm sóc bản thân.

Số hộ có người khuyết tật

Cả nước có gần 5 triệu hộ có người khuyết tật. Cứ 5 hộ thì có 1 hộ có người khuyết tật. Phân bố số hộ có người khuyết tật không đồng đều. Hơn 3/4 số hộ có người khuyết tật sống ở khu vực nông thôn. Hai vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung (BTB-DHMT) và Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) có nhiều người khuyết tật nhất và chiếm hơn 1/2 số lượng hộ có người khuyết tật của cả nước.

Hai nhóm mức sống nghèo nhất, Nhóm 1 và Nhóm 2 có 40% số hộ gia đình, nhưng chiếm hơn 55% số hộ gia đình có người khuyết tật của cả nước. Riêng nhóm hộ nghèo nhất (Nhóm 1), số hộ gia đình có người khuyết tật nhiều gần gấp 3 lần nhóm hộ giàu nhất (Nhóm 5).

Nghèo và điều kiện sống

Khuyết tật vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của nghèo. Có hai thước đo nghèo được sử dụng khi nghiên cứu mối quan hệ giữa nghèo và khuyết tật là: (1) Nghèo theo tiếp cận đa chiều và (2) Nghèo đa chiều (hay thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản) giai đoạn 2016-2020. Theo chuẩn tiếp cận nghèo đa chiều năm 2016, hộ gia đình có người khuyết tật sẽ có nguy cơ nghèo cao gấp hơn 2 lần so với hộ gia đình không có người khuyết tật (19,4% so với 8,9%). Theo chuẩn nghèo đa chiều, tỷ lệ người khuyết tật sống trong hộ nghèo đa chiều là 17,8% và tỷ lệ người không khuyết tật sống trong hộ nghèo đa chiều là 13,9%.

Gần 3/4 số người khuyết tật từ 15 tuổi trở lên sống trong hộ nghèo đa chiều chưa bao giờ đi học hoặc không có bằng cấp. Điều kiện sống của người khuyết tật gặp nhiều khó khăn. Chỉ một nửa (52,1%) số người khuyết tật được sống trong nhà kiên cố, chưa đến ba phần tư trong số họ được dùng nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh (73,3%). Các tỷ lệ tương ứng so với người không khuyết tật là 53,4% và 79,1%.

Y tế

Hầu hết (91,5%) người khuyết tật bị ốm/bệnh, chấn thương hoặc có sử dụng dịch vụ y tế trong 12 tháng tính đến thời điểm điều tra. Tỷ lệ này ở người không khuyết tật thấp hơn khoảng 18 điểm phần trăm. Có sự khác biệt đáng kể giữa người khuyết tật và không khuyết tật trong sử dụng dịch vụ y tế: khám bệnh (69,4% so với 51,1%), điều trị bệnh (57,4% so với 36,5%) và phục hồi chức năng (2,3% so với 0,3%). Tỷ lệ người khuyết tật cần trợ giúp trong các hoạt động hàng ngày vì vấn đề sức khỏe là 26,7%, trong khi ở người không khuyết tật chỉ có 2,0% cần trợ giúp.

Cứ 10 người khuyết tật thì có khoảng 9 người có bảo hiểm y tế (90,1%), tương tự với người không khuyết tật thì con số này là 8 người (80,1%).

Trong cả nước, có 57,3% trạm y tế có chương trình phục hồi chức năng, 90,6% trạm y tế thực hiện giáo dục, phổ biến kiến thức về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật và 88,3% trạm y tế có tài liệu theo dõi người khuyết tật. Có sự khác biệt rất rõ giữa các vùng trong việc triển khai thực hiện chương trình phục hồi chức năng, tỷ lệ xã/phường triển khai chương trình phục hồi chức năng thấp nhất ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc (39,3%) và cao nhất ở vùng Đông Nam bộ (76,0%).

Chỉ 16,9% trạm y tế được thiết kế phù hợp với tiêu chuẩn tiếp cận cho người khuyết tật. Trong đó, chỉ 22,4% trạm y tế có công trình vệ sinh thiết kế phù hợp cho người khuyết tật, khoảng 41,7% trạm y tế có lối đi, đường dốc dành cho người khuyết tật. Giữa các vùng có sự khác nhau. Ví dụ, trong khi TD-MNPB chỉ có 7,8% trạm y tế thiết kế phù hợp với người khuyết tật, thì tỷ lệ này tương ứng là 27,4%  và  26,0%  ở  ĐNB  và  ĐBSCL. Vùng ĐNB có tỷ lệ công trình vệ sinh thiết kế phù hợp cho người khuyết tật cao nhất, 34,1%. Khu vực thành thị tốt hơn đôi chút khi có lối đi, đường dốc cho người khuyết tật, nhưng vẫn thấp dưới 50%.

Giáo dục

Cơ hội tiếp cận trường học của trẻ em khuyết tật thấp hơn nhiều trẻ em không khuyết tật. Tỷ lệ đi học đúng tuổi cấp tiểu học của trẻ khuyết tật khoảng 88,7%, trong khi tỷ lệ này của trẻ không khuyết tật là 96,1%. Chênh lệch về tỷ lệ đi học giữa trẻ khuyết tật và không khuyết tật tăng lên ở các cấp học cao hơn. Đến cấp trung học phổ thông chỉ có 1/3 trẻ khuyết tật đi học đúng tuổi (33,6%), so với tỷ lệ 2/3 trẻ em không khuyết tật (88,6%).

Cứ 100 trường học, chỉ có 3 trường có thiết kế phù hợp (2,9%), 8 trường có lối đi dành cho người khuyết tật (8,1%) và 10 trường có công trình vệ sinh phù hợp với trẻ khuyết tật (9,9%). Không chỉ thiếu cơ sở vật chất, có gần 3/4 số trường thiếu giáo viên giảng dạy học sinh khuyết tật (72,3%), cứ 7 giáo viên tiểu học và trung học cơ sở thì mới có 1 người được đào tạo để giảng dạy cho học sinh khuyết tật (14,1%).

Có sự chênh lệch rõ rệt trong đào tạo nghề, cứ 100 người khuyết tật từ 15 tuổi trở lên thì chỉ có 7 người được dạy nghề (7,3%), trong khi con số này ở người không khuyết tật là 22 người (21,9%).

Việc làm

Người khuyết tật có nhu cầu làm việc để có thu nhập và sống độc lập, nhưng chỉ chưa đầy 1/3 người khuyết tật có việc làm. Người khuyết tật ít có cơ hội việc làm so với người không khuyết tật. Tỷ lệ người khuyết tật 15 tuổi trở lên có việc làm là 31,7%, tỷ lệ này ở người không khuyết tật cao gấp 2,5 lần, lên tới 82,4%.

Tỷ lệ có việc làm của người khuyết tật có khác biệt giữa các vùng. Tỷ lệ này cao nhất ở vùng TN (39,8%), TD-MNPB (37,9%) và thấp nhất ở vùng ĐNB (24,3%). Tuy nhiên, cũng tại hai vùng này tỷ lệ người khuyết tật vận động thân dưới có việc làm lại thấp nhất (TN là 33,8% và TD-MNPB là 31,9%). Nguyên nhân do đây là vùng đồi núi điều kiện đi lại khó khăn, đã ảnh hưởng lớn tới cơ hội việc làm của người  khuyết  tật vận động thân dưới. Điều này chỉ ra rằng tác động của khuyết tật tới cơ hội việc làm của người khuyết tật không giống nhau, phụ thuộc vào những hoàn cảnh và môi trường cụ thể mà người lao động làm việc.

Tiếp cận thông tin và tham gia các hoạt động xã hội

Công nghệ thông tin truyền thông có vai trò đặc biệt quan trọng đối với người khuyết tật, góp phần hỗ trợ người khuyết tật khắc phục các rào cản để hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ có người khuyết tật sở hữu các phương tiện truyền thông đều thấp hơn so với hộ không có người khuyết tật, cụ thể: ti vi (87,7% so với 94,4%); thuê bao internet (16,8% so với 30,9%); máy tính (13,7% so với 28,6%) và điện thoại (84,7% so với 96,2%).

Có sự chênh lệch lớn về tỷ lệ sử dụng điện thoại di động giữa người khuyết tật và không khuyết tật (38,85% so với 73,09%). Sự chênh lệch này cũng tương tự khi so sánh giới tính và khu vực thành thị với nông thôn.

Trong 30 ngày qua, chỉ có 6,7% người khuyết tật 6 tuổi trở lên sử dụng internet. Tỷ lệ này ở thành thị cao gần gấp 3 lần nông thôn; nam giới cao gấp 1,5 lần nữ; vùng ĐNB cao nhất (11,2%) và cao gấp hai lần vùng thấp nhất là TD-MNPB (5,5%); Tỷ lệ này có xu hướng tăng dần theo trình độ học vấn và giảm dần theo tuổi.

Tỷ lệ sử dụng internet không chỉ có sự khác biệt giữa các nhóm người khuyết tật, mà còn có sự chênh lệch khá lớn giữa người khuyết tật và không khuyết tật. Tỷ lệ người không khuyết tật sử dụng internet cao gấp 6,5 lần người khuyết tật (42,9% so với 6,7%). Tương tự, chênh lệch giữa người không khuyết tật và người khuyết tật: khu vực thành thị là 4,7 lần, nông thôn là 7,4 lần; nam là 5,5 lần, nữ là 7,2 lần; Vùng ĐBSH chênh lệch cao nhất (7,8 lần), trong khi vùng chênh lệch thấp nhất là vùng TN và TD-MNPB (khoảng 4 lần).

Bảo trợ xã hội

Chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong việc hỗ trợ người khuyết tật, cứ 10 người khuyết tật thì 4 người được nhận trợ cấp hàng tháng, cứ 2 người thì 1 người được hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế; và cứ 3 người thì một người được miễn giảm chi phí khám chữa bệnh.

Thái độ đối với khuyết tật và tham gia hòa nhập xã hội

Tham gia vào xã hội không chỉ là giáo dục và việc làm. Để trở thành một thành viên hoàn chỉnh của xã hội cũng cần được lập gia đình, tham gia các sự kiện cộng đồng, liên hệ với những người ngoài gia đình. Thái độ kỳ thị đối với người khuyết tật là một rào cản nghiêm trọng đối với sự tham gia vào xã hội của họ. Chỉ có 42,7% người trả lời cho rằng trẻ khuyết tật nên đi học với trẻ em khác. Khoảng 55% số người trả lời tin là nhà tuyển dụng không muốn thuê lao động là người khuyết tật;

Giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật đã được thực tế chứng minh là tốt, tuy nhiên chỉ 42,7% người được hỏi tin rằng trẻ khuyết tật nên đi học cùng các trẻ em khác, trong khi có 28,8% cho rằng tùy thuộc vào tình trạng khuyết tật và 24,0% người trả lời cho rằng trẻ khuyết tật nên học trường chuyên biệt. Tuy  nhiên, những người trẻ tuổi có xu hướng tiến bộ hơn nhóm người cao tuổi hơn khi có trên 46% những người dưới 30 tuổi tin rằng trẻ khuyết tật nên đi học trường bình thường, so với 38,5% những người trên 60 tuổi.

Về thái độ chăm sóc người khuyết tật, chỉ có 15% người trả lời cho rằng việc chăm sóc NKT nên dựa vào gia đình và cộng đồng, trong khi có 45,5% trả lời cho rằng nên chăm sóc NKT tại cơ sở bảo trợ xã hội và 35,8% cho rằng tùy thuộc vào loại và mức độ khuyết tật.

Người khuyết tật có quyền được kết hôn và có gia đình riêng. Tuy nhiên phần lớn người trả lời đưa ra câu trả lời cho rằng quyết định kết hôn hay không phụ thuộc vào tình trạng khuyết tật. Gần 10% người trả lời cho rằng người khuyết tật không nên kết hôn. Thái độ này giải thích tại sao có sự khác biệt lớn về tình trạng hôn nhân của dân số từ 15 tuổi trở lên giữa nhóm người khuyết tật và nhóm người không khuyết tật: Tỷ lệ người khuyết tật đang có vợ/chồng là 51,9% so với 71,5% ở người không khuyết tật. 35,2% người khuyết tật có tình trạng hôn nhân là góa, ly hôn hoặc ly thân; trong khi con số này ở người không khuyết tật chỉ 7,6%.

Người khuyết tật gặp nhiều khó khăn và các rào cản. Nhà nước, gia đình và xã hội có trách nhiệm tạo môi trường thuận tiện để người khuyết tật nỗ lực vươn lên làm chủ cuộc sống.

Nguồn: Tổng cục Thống kê (2016), Điều tra quốc gia người khuyết tật.