8 XU HƯỚNG NHÂN KHẨU HỌC LÀM THAY ĐỔI DÂN SỐ CAO TUỔI Ở MỸ

Nhóm dân số cao tuổi (65+) ở Mỹ dự báo sẽ tăng gần gấp hai từ 51 triệu năm 1917 lên 95 triệu năm 2060.

1. Tăng tuổi thọ bắt đầu dừng lại trong những năm gần đây

Tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh của người Mỹ tăng đều từ năm 1950 đến 2014, phần lớn do mức tử vong giảm ở các độ tuổi cao. Từ năm 2014, tuổi thọ giảm nhẹ cho thấy sự gia tăng lên một số nguyên nhân gây tử vong, trong đó nhiều phụ nữ bị suy giảm liên quan tới bệnh mãn tính (như tim mạch, tiểu đường, Alzheimer) so với nam giới. Tử vong do sử dụng thuốc giảm đau, xảy ra ở các độ tuổi tương đối trẻ, cũng làm tăng xu hướng chung.

Tuổi thọ ở Mỹ thấp hơn so với nhiều nước thu nhập cao, chủ yếu do tử vong sớm liên quan nhiều tới tỷ lệ hút thuốc cao hơn và tình trạng béo phì. Trong số 40 quốc gia có tuổi thọ cao nhất, xếp hạng tuổi thọ của nước Mỹ giảm từ 20 năm 1980 xuống 40 năm 2015.

Nghiên cứu cho thấy, sự chênh lệch giới trong tuổi thọ ở Mỹ đang thu hẹp giữa những người da đen và da trắng. Nhưng hầu hết những thành tựu về tuổi thọ tập trung ở nhóm người có học vấn, và vẫn tồn tại sự khác biệt giữa các vùng. Việc tăng cường sức khỏe cho nhóm dân số cao tuổi có thể ít phụ thuộc vào tiến bộ y học mà phụ thuộc nhiều hơn vào các chính sách giảm khác biệt kinh tế-xã hội, chủng tộc và địa lý trong tiếp cận chăm sóc y tế.

2. Chênh lệch sức khỏe lớn về dân tộc và chủng tộc có thể ảnh hưởng tới xu hướng sức khỏe chung

Từ năm 2017 đến năm 2060, tỷ  trọng dân số cao tuổi là người da trắng, không phải gốc Mỹ Latinh sẽ giảm 22 điểm phần trăm, từ 77% xuống 55%.

Khi nhóm dân số cao tuổi ngày càng trở nên đa dạng, những khác biệt về sức khoẻ dân tộc/chủng tộc sẽ có vai trò lớn hơn trong việc định hình tình trạng sức khoẻ của dân số cao tuổi ở Mỹ. Người Mỹ gốc châu Á sẽ có tình trạng sức khoẻ tốt nhất, tiếp đến là người da trắng không phải gốc Mỹ Latinh. Có sự khác biệt khá lớn về sức khoẻ giữa người Mỹ gốc châu Á và người da trắng không phải gốc Mỹ Latinh với người da đen, người gốc Mỹ Latinh, và người Mỹ bản xứ, những người có các chỉ báo sức khoẻ kém hơn. Những khác biệt về sức khoẻ dân tộc/chủng tộc chủ yếu ở phụ nữ hơn nam giới. Các nhà lập chính sách cần tập trung nhiều vào tăng cường bình đẳng kinh tế-xã hội và tiếp cận chăm sóc sức khoẻ cho các nhóm và sự khác biệt lớn về sức khoẻ dân tộc/chủng tộc.

3. Những khác biệt liên quan tới kinh tế-xã hội trong vấn đề sức khoẻ và tử vong là sâu sắc và rộng

Theo một báo cáo của Trường Đại học Duke, những người có trình độ học vấn từ cao đẳng trở lên có tình trạng sức khoẻ tốt nhất và tuổi thọ cao nhất, trong khi những người có trình độ học vấn dưới trung học có tình trạng sức khoẻ kém nhất và tuổi thọ thấp nhất. Những khác biệt này gia tăng theo trình độ học vấn; sự khác biệt lớn nhất về tuổi thọ sẽ tồn tại hay mất đi là giữa những người đã tốt nghiệp đại học và chưa tốt nghiệp trung học. Người da trắng có nhiều khác biệt về trình độ học vấn so với người da đen.

Nghiều nghiên cứu cho thấy sự khác biệt trong tử vong ở người cao tuổi liên quan nhiều tới điều kiện kinh tế-xã hội và tình trạng sức khoẻ thời niên thiếu. Bằng chứng là sức khoẻ và hạnh phúc của người cao tuổi phản ánh hiệu quả tích luỹ của các điều kiện kinh tế-xã hội trong suốt vòng đời. Việc hiểu được cách thức tác động của những bất lợi trong thời thơ ấu và ảnh hưởng tới sức khoẻ và tử vong ở người cao tuổi có thể giúp các nhà lập chính sách sớm đưa ra các đầu tư (về dinh dưỡng, giáo dục) và các can thiệp khác nhằm cải thiện sức khoẻ tuổi già.

4. Người cao tuổi ngày càng sống tập trung tại một số khu vực

Khu vực nông thôn ở Mỹ đang già hoá nhanh và có nhiều người cao tuổi sống hơn. Tuổi trung vị ở nông thôn là 51 so với 45 ở thành thị. Người cao tuổi nông thôn có thể ít tiếp cận hơn tới các dịch vụ y tế và thời gian di chuyển để được chăm sóc cũng lâu hơn.

Tại các khu đô thị, các khu vực ngoại ô cũng già hoá nhanh hơn các khu vực nội đô. Các khu vực ngoại ô có nhiều thách thức đối với già hoá tại chỗ như giao thông công cộng hạn chế, kinh doanh tập trung, và nhà 2 tầng cho các gia đình đơn thân; những điều kiện này khiến người cao tuổi thấy khó khăn trong cuộc sống và di chuyển. Nhiều khu vực ngoại ô có cơ sở tầng xuống cấp và tình trạng nghèo gia tăng.

Số liệu phân tích từ Dự án già hoá, sức khoẻ và đời sống xã hội quốc gia cho thấy sống trong những khu vực bất lợi có liên quan tới sức khoẻ kém ngay cả khi xem xét các yế tố khác. Những người sống ở những nơi có nhiều người thu nhập thấp hay nhà cửa hư hỏng; nhiều tội phạm, nhiều rác, ô nhiễm, tiếng ồn, hay các quan hệ xã hội hạn chế, có xu hướng bị trầm cảm hơn. Các số liệu mới có thể giúp các nhà lập chính sách và kế hoạch hiểu hơn về tác động của nơi sống tới sức khoẻ người cao tuổi. Ví dụ, số liệu về tội phạm, đường xá nhiều ổ gà, thậm trí cả việc nhìn thấy chuột cũng có thể liên quan tới các chỉ số sức khoẻ và phúc lợi.

5. Chăm sóc gia đình truyền thống cho người cao tuổi đang suy giảm

Vợ/chồng và con cái trưởng thành là người chăm sóc chính để người cao tuổi có thế sống độc lập và không phải vào các nhà dưỡng lão chi phí cao. Tuy nhiên sự suy giảm hôn nhân, ly hôn tăng, và mức sinh thấp cho thấy nhiều người thuộc thế hệ “bùng nổ trẻ em” đang bước vào tuổi 65 không có vợ/chồng hay con cái để chăm sóc. Ly hôn và tái hôn liên quan tới tình trạng “ít giao lưu, giảm hỗ trợ, và giảm chất lượng các quan hệ” của cha mẹ và con cái trưởng thành so với các cuộc hôn nhân bền vững. Con cái trưởng thành cảm thấy ít nghĩa vụ chăm sóc cha mẹ dượng, những người chúng không cùng sống khi còn nhỏ.

Các nghiên cứu và chính sách liên quan tới chăm sóc gia đình tập trung vào vai trò của anh chị em ruột, bạn bè, những người sống cùng và họ hàng xa. Những người cao tuổi có thu nhập thấp đặc biệt dễ bị tổn thương, không chỉ vì họ có xu hướng có quan hệ không ổn định và thay đổi, mà vì họ thường là những người chăm sóc chính cho các cháu.

6. Nhiều người cao tuổi làm việc lâu hơn

Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động tăng cả với nam và nữ trong 20 năm qua. Động lực chính của xu hướng này là:

  • Trình độ học vấn tăng. Những người có trình độ học vấn cao hơn tham gia lực lượng lao động lâu hơn.
  • Sự tham gia lực lượng lao động của phụ nữ tăng và sẵn sàng tham gia lâu hơn có thể ảnh hưởng tới nam giới bởi nhiều cặp vợ chồng muốn cùng nghỉ hưu.
  • Thay đổi kế hoạch hưu trí được đảm bảo. Lương hưu cố định được trả thường xuyên được thay thế bằng kế hoạch 401(k) với các khoản tiền trả phụ thuộc vào tiết kiệm của người nghỉ hưu và hiệu quả đầu tư; khác với các kế hoạch trước, kế hoạch 401(k) không khuyến khích tuổi nghỉ hưu cụ thể.

Chương trình An sinh Xã hội thay đổi các khuyến khích như tăng tuổi nhận phúc lợi đầy đủ, tín dụng nhiều, và giảm phạt thuế lao động khi nhận phúc lợi sau khi đủ tuổi nghỉ hưu theo An sinh Xã hội.

Đồng thời, nhiều lao động Mỹ dời lực lượng lao động sớm hơn qua sử dụng bảo hiểm mất sức An sinh Xã hội (DI). Năm 2016, khoảng 16% công nhân Mỹ nhận DI trước để có phúc lợi An sinh Xã hội, tăng 11% đối với nam và 8% đối với nữ so với năm 1980. Những thay đổi trong các tiêu chuẩn phù hợp về y học, sự tham gia lực lượng lao động của nữ, và các nhân tố kinh tế là động lực chính của xu hướng này.

Bằng chứng cho thấy nhiều công nhân cao tuổi nghỉ hưu đã chuyển sang một việc làm mới, làm việc bán thời gian, hoặc tự làm việc. Người gốc Mỹ Latinh và những người có trình độ học vấn thấp hơn ít có khả năng làm việc khi tuổi cao so với người da trắng hay những người có trình độ học vấn cao hơn.

Các nhà nghiên cứu và lập chính sách cần tập trung vào kinh nghiệm của những người có trình độ học vấn thấp, nghỉ hưu sớm hơn, tuổi thọ thấp và có xu hướng sử dụng DI. Những thay đổi về An sinh Xã hội và các chương trình khác khuyến khích làm việc lâu hơn có thể có những tác động không lường trước tới phúc lợi của những người không thể tiếp tục làm việc.

7. Số người cao tuổi Mỹ sống với một hay nhiều tàn tật dự kiến sẽ tăng 

Thế hệ bùng nổ trẻ em ở Mỹ được giáo dục tốt hơn các thế hệ trước, nhưng có tỷ lệ béo phì và đau ốm liên quan tới di chuyển cao hơn. Về khả năng tàn tật tăng theo tuổi, nghiên cứu xu hướng già hoá và sức khoẻ quốc gia cho thấy chỉ hơn 20% người độ tuổi 65-69 là không bị hạn chế về thể chất, thị lực, thính giác kém, hay mất trí nhớ, trong khi ở độ tuổi 90 hơn 80% bị kém đi nhiều.

Gần 1/4 người cao tuổi có thể khắc phục những tổn hại về năng lực thể chất và tiếp tục thực hiện các sinh hoạt hàng ngày một cách dễ dàng và không cần trợ giúp bằng việc sử dụng các dụng cụ như gậy, khung tập đi, và thanh nắm. Những thay đổi về hành vi như sử dụng các phương tiện hay điều chỉnh môi trường tự nhiên có thể xác định liệu sống lâu hơn có đồng nghĩa với khả năng độc lập lâu hơn.

Phụ nữ cao tuổi dân tộc thiểu số đặc biệt bị bất lợi. Họ ít khả năng khắc phục việc thiếu canxi bằng sử dụng các phương tiện hỗ trợ và có thể nhận trợ giúp để tự chăm sóc, di chuyển hay sinh hoạt trong nhà gấp 2-3 lần so với phụ nữ da trắng không phải gốc Mỹ Latinh. Việc hiểu rõ tình trạng tàn tật cuối đời có thể giúp các nhà lập chính sách xác định các can thiệp y tế công để tối đa hoá chức năng độc lập, tăng cường chất lượng cuộc sống và giảm thiểu việc sống tại các cơ sở điều dưỡng tập trung.

8. Việc giảm tỷ trọng người cao tuổi Mỹ bị mất trí nhớ có thể có nguy cơ do tỷ lệ cao người bị béo phì và tiểu đường

Tỷ trọng dân số cao tuổi mắc chứng mất trí nhớ giảm trong hơn 2 thập kỷ qua. Xu hướng giảm này là kết quả của tình trạng sức khoẻ trí não tốt hơn có liên quan tới trình độ học vấn cao hơn.

Các nhà nghiên cứu đặt câu hỏi liệu tỷ lệ mất trí nhớ có thể tiếp tục giảm đồng thời với tỷ lệ béo phì và tiểu đường cao - các yếu tố nguy cơ cao với bệnh mạch vành, mất trí nhớ. Một tập hợp các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng mắc chứng mất trí nhớ, bao gồm vấn đề gen, môi trường cuộc sống đầu đời, giáo dục, và các điều kiện cuối đời như tăng cường nhận thức và mạng lưới xã hội.

Những khác biệt lớn đang tăng về nguy cơ mất trí nhớ theo tình trạng kinh tế-xã hội và dân tộc/chủng tộc có thể làm chậm lại việc giảm mức độ mất trí nhớ. Hiểu rõ các nguyên nhân làm tăng tỷ lệ mất trí nhớ có thể giúp đưa ra những can thiệp làm giảm căn bệnh, cùng với khuyến cáo hữu ích cho người cao tuổi, gia đình họ, và chi phí các chương trình công. Các chính sách nhấn mạnh vào những khác biệt về nguy cơ mất trí nhớ bằng việc đảm bảo sự công bằng trong tiếp cận các nguồn và môi trường tăng cường chức năng nhận biết là điều trọng yếu đối với sức khoẻ của dân số cao tuổi ở Mỹ.

NGỌC MINH
Nguồn: Population Reference Bureau.