BÁO CÁO HỘ SINH VIỆT NAM 2016

Đây là báo cáo quốc gia về hộ sinh đầu tiên được xây dựng nhằm rà soát các xu hướng gần đây và đánh giá thực trạng hiện nay của công tác hộ sinh ở Việt Nam nhằm giúp Bộ Y tế phát triển Tầm nhìn 2030 để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững về sức khỏe sinh sản, làm mẹ an toàn và chăm sóc sơ sinh. Báo cáo này cũng góp phần vào việc thực hiện Chiến lược Dân số - Sức khỏe sinh sản hiện nay, đồng thời cung cấp thông tin và nền tảng để xây dựng chiến lược cho giai đoạn tiếp theo.

 

Các phát hiện chính

Nhu cầu chăm sóc hộ sinh

Nhu cầu chăm sóc hộ sinh trước khi mang thai bao gồm tư vấn và cung cấp dịch vụ v các biện pháp kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) và kiểm soát các bệnh y truyền qua đường tình dục 

(BLTQĐTD) và HIV. Tất cả phụ nữ và nam giới trong độ tuổi sinh sản, bao gồm cả những người đã kết hôn và chưa kết hôn đều nhu cầu sử dụng các dịch vụ này.

Năm 2015, ước tính tổng số ca mang thai ở Việt Nam từ 2-2,3 triệu. Chăm sóc hộ sinh chủ yếu tập trung vào các dịch vụ chăm sóc trước sinh (CSTS) thiết yếu để theo dõi và quản lý thai nghén đồng thời phát hiện và giải quyết các biến chứng thể phát sinh. Mặc dù chăm sóc trước sinh là yêu cầu cơ bản v năng lực chuyên môn của hộ sinh, nhưng hiện nay tại Việt Nam, các bác sỹ chủ yếu thực hiện nhiệm vụ này. Hộ sinh cũng tham gia vào một số thủ thuật phá thai hoặc xử lý các trường hợp sẩy thai, tuy nhiên công việc này chủ yếu do các bác sỹ thực hiện.

Nhu cầu về dịch vụ hộ sinh

 

 

Nhu cầu

Dịch vụ hộ sinh

Chăm sóc trước khi thai

(Tất cả phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ

24 triệu lượt dịch vụ KHHGĐ

Chăm sóc trước sinh (Số thai x 4 lần khám thai)

8,4 – 9,2 triệu lượt khám thai

Số ca sinh

1,4 đến 1,7 triệu ca sinh được người đỡ đẻ kỹ năng thực hiện

Chăm sóc sau sinh (Số tr x 4 lần khám)

5,6 – 6,8 triệu lượt thăm khám

Năm 2015, ước tính Việt Nam khoảng 1,4-1,7 triệu ca sinh. Chăm sóc trong quá trình đẻ thường (CSTKĐ) là một trong những năng lực cơ bản khác của hộ sinh và bao gồm cả việc theo dõi khi chuyển dạ, liên tục động viên an ủi xử trí tích cực giai đoạn ba của cuộc đẻ (XTTCGĐ3). Phát hiện xử trí các tai biến sản khoa (TBSK) cũng là những yêu cầu năng lực hộ sinh thiết yếu.Việt Nam, hầu hết phụ nữ 

sinh con ở bệnh viện việc đỡ đẻ do các bác sỹ thực hiện thay vì phụ nữ sinh con tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu được người hộ sinh đỡ đẻ.

Các dịch vụ chăm sóc dự phòng sau đẻ (CSSĐ) cho bà mẹ tr sơ sinh bao gồm các dịch vụ thông thường như tiêm chủng hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ ngay sau khi sinh, theo dõi vấn cho sản phụ gia đình về những tai biến thể xảy ra đối với mẹ hoặc tr sơ sinh trong giai đoạn sau sinh. Những nhu cầu CSSĐ cũng bao gồm các can thiệp khi vấn đề phát sinh như sinh non, tr nhẹ cân hoặc trong trường hợp người mẹ những tai biến sản khoa như băng huyết sau sinh hoặc trầm cảm.

Sự sẵn

Hộ sinh mặt ở hầu hết các TYTX tất cả các bệnh viện khoa sản cung cấp các dịch vụ hộ sinh. Các cán bộ y tế chuyên môn khác như bác sỹ chuyên khoa, bác sỹ đa khoa điều dưỡng cũng thực hiện các dịch vụ hộ sinh. Tính đến năm 2013, 94% số hộ sinh đang làm việc tại Việt Nam đã được đào tạo ở trình độ trung cấp (đào tạo hộ sinh 2 năm) hoặc thấp hơn. Tại tuyến cơ sở, các loại thuốc trang thiết bị cơ bản cho các dịch vụ hộ sinh hiện không thường xuyên sẵn.

Đến năm 2016, Việt Nam 40 trường đang thực hiện đào tạo nhân lực hộ sinh trong đó 6 trường đào tạo cử nhân hộ sinh (4 năm), 21 trường đào tạo chương trình cao đẳng hộ sinh (3 năm) 27 cơ sở chương trình đào tạo trung cấp hộ sinh (2 năm). Số lượng tuyển sinh theo kế hoạch tuyển sinh hàng năm trong đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn hộ sinh (từ đào tạo hệ 2 năm lên đào tạo hệ 3 năm) vẫn còn thấp. Các cơ sở đào tạo hiện mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu nâng cao trình độ cho một đội ngũ khoảng 32.800 hộ sinh cho đến năm 2025 theo yêu cầu của Thông26/2015/TTLT-BYT- BNV (Thông tư 26). Thôngnày yêu cầu trình độ tối thiểu để thể đăng hành nghề hộ sinh là hoàn thành khóa đào tạo 3 năm và yêu cầu này sẽ được áp dụng từ năm 2025.

Rất nhiều dịch vụ hộ sinh cơ bản đã đang được cung cấp được mở rộng nhanh chóng tại tuyến y tế cơ sở, đặc biệt đối với dịch vụ siêu âm sản khoa xét nghiệm sàng lọc cổ tử cung tại các trạm y tế xã, dịch vụ điều trị vàng da chăm sóc tr sơ sinh nhẹ cân ở tuyến huyện. Tuy nhiên, việc thực hiện các dịch vụ cấp cứu sản khoa thiết yếu cơ bản tại các TYTX còn hạn chế. Thông tư 26 đã hạn chế bớt các chức năng nhiệm vụ của hộ sinh hạng IV (hộ sinh trình độ trung cấp cao đẳng) so với phạm vi công việc mà họ đang làm, đặc biệt trong các lĩnh vực như cung cấp các dịch vụ tránh thai lâm sàng, dịch vụ chăm sóc điều trị BLTQĐTD/HIV phá thai sớm.

Khả năng tiếp cận

Việc tiếp cận các dịch vụ hộ sinh đang ngày càng phát triển mặc dù vẫn cần được cải thiện. Nhu cầu chưa được đáp ứng về KHHGĐ nói chung tăng từ năm 2011 đến năm 2014, tuy vẫn còn tồn tại sự khác biệt, đặc biệt là nhu cầu chưa được đáp ứng về KHHGĐ cao hơn ở đồng bào dân tộc thiểu số ở nhóm thanh niên vị thành niên (TN/VTN). Đa số phụ nữ dân tộc Kinh đã tiếp cận phổ cập với việc khám thai được hỗ trợ khi sinh, mặc dù một số dịch vụ chăm sóc thiết yếu cơ bản hiện vẫn chưa được thực hiện như dịch vụ sàng lọc sớm HIV để phòng ngừa lây nhiễm từ mẹ sang con. Hiện nay chỉ 2/3 số phụ nữ dân tộc thiểu số tiếp cận được với các dịch vụ khám thai được hỗ trợ khi sinh. Tỷ lệ phụ nữ dân tộc thiểu số nhận được đầy đủ các nội dung của các dịch vụ chăm sóc thiết yếu còn thấp hơn.

Khoảng cách vẫn là một rào cản quan trọng ngăn cản việc tiếp cận với các dịch vụ cấp cứu sản khoa ở các khu vực đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Sự kỳ thị thái độ phán xét của cán bộ y tế ảnh hưởng bất lợi đến việc tiếp cận các dịch vụ KHHGĐ tránh thai, dịch vụ chăm sóc điều trị BLTQĐTD/HIV dịch vụ phá thai.

Sự hỗ trợ v tài chính và bảo hiểm y tế tác động tích cực đến việc sử dụng và cung cấp các dịch vụ đa dạng trong hệ thống y tế. Ở những nơi mà bảo hiểm y tế không chi trả cho các dịch vụ đỡ đẻ tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu, phụ nữ buộc phải sinh con tại các bệnh viện đang quá tải. Tiền thù lao hoặc lợi nhuận cao hơn khi thực hiện các can thiệp thuộc nhóm có thu phí” đã dẫn tới hiện tượng cung cấp các dịch vụ quá mức không cần thiết. Việc chưa quy định rõ ràng trong việc ai chịu trách nhiệm thanh toán các loại lệ phí khác nhau dẫn tới việc bệnh nhân phải tự bỏ tiền túi thanh toán nhiều hơn.

Việc tập trung mở rộng dịch vụ quá mức dẫn đến trình trạng không chú trọng xây dựng các thực hành dựa trên bằng chứng nhằm ngăn chặn việc cung cấp các dịch vụ quá mức cần thiết và thể gây hại cho phụ nữ. Ba dịch vụ được cung cấp tại Việt Nam hiện vượt quá mức các khuyến cáo quốc tế bao gồm siêu âm sản khoa, cắt tầng sinh môn và mổ đẻ.

Khả năng chấp nhận dịch vụ

Cung cấp dịch vụ chăm sóc tôn trọng khách hàng sẽ giúp nâng cao quyền của phụ nữ khi họ sử dụng các dịch vụ hộ sinh và giúp cải thiện các kết quả đầu ra còn hạn chế trong một số khía cạnh chăm sóc. dụ, hiện nay công tác đào tạo hoặc thực hành lâm sàng chưa nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giúp sản phụ cảm thấy thoải mái bằng cách cho phép họ chọn người được vào cùng trong phòng đẻ với mình trong lúc đẻ hoặc lựa chọn tư thế đẻ và cả hai sự lựa chọn này đều giúp cải thiện các kết quả đầu ra v mẹ và trẻ sơ sinh. Một vấn đề khác cần cải thiện là việc cung cấp thông tin cho sản phụ v những lợi ích và bất lợi của các can thiệp khác nhau vẫn còn hạn chế, ví dụ như can thiệp cắt tầng sinh môn mà không hỏi xem người phụ nữ đồng ý hay không

Nhu cầu chưa được đáp ứng về các biện pháp tránh thai hay các dịch vụ chăm sóc điều trị các BLTQĐTD rất cao cho thấy sự sẵn của các dịch vụ thân thiện với TN/VTN hiện nay còn thấp. Việc người dân ít sử dụng các dịch vụ khám thai và dịch vụ sinh đẻ hỗ trợ của người đỡ đẻ kỹ năng không những phản ánh sự khó khăn v khoảng cách địa lý,còn phản ánh sự thiếu nhạy cảm v văn hoá của người cung cấp dịch vụ cũng như việc phụ nữ dân tộc thiểu số và gia đình của họ chưa được cung cấp đầy đủ thông tin v chăm sóc sức khỏe. Hiện nay, cô đỡ thôn bản (TB) đã được tập huấn v cung cấp dịch vụ nhạy cảm văn hóa, chỉ mới đáp ứng được 20% nhu cầu về nhóm nhân lực nàytuyến thôn bản.

Chất lượng

Các bằng chứng khẳng định mô hình chăm sóc do hộ sinh thực hiện và chịu trách nhiệm sẽ góp phần nâng cao chất lượng của các dịch vụ chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh, nếu hộ sinh đủ trình độ chuyên môn, được quy định hành nghề đầy đủ, và việc chăm sóc được thực hiện theo mô hình chăm sóc hộ sinh liên tục và được hỗ trợ trong các trường hợp tai biến xảy ra. Lợi ích của mô hình chăm sóc này bao gồm ít can thiệp y khoa hơn, ít xảy ra biến chứng hơn và chi phí thấp hơn.

Hộ sinh Việt Nam được đào tạo ở các hệ trung cấp, cao đẳng và đại học. Chương trình đào tạo dựa trên năng lực được áp dụng trong đào tạo hệ cao đẳng từ năm 2010 và được áp dụng trong hệ đào tạo cử nhân vào năm 2014. Những thay đổi trong chương trình đào tạo này đã đưa Việt Nam gần đến việc đạt được các tiêu chuẩn v đào tạo chính quy do Liên đoàn Hộ sinh Quốc tế (ICM) ban hành. TB được đào tạo theo phương pháp dựa trên năng lực các dịch vụ hộ sinh thiết yếu cơ bản cần thiết cho địa bàn thôn bản mà họ đang làm việc. Một 

số vấn đề còn tồn tại liên quan đến chất lượng đào tạo bao gồm việc không đủ nhân lực hộ sinh làm giảng viên thiếu các kỹ năng giảng dạy theo phương pháp sư phạm mới, tỷ lệ TB tham gia chương trình đào tạo dựa trên năng lực thấp, và việc cập nhật kịp thời các tài liệu giảng dạy còn chậm so với sự tiến bộ y học.

Các khóa đào tạo y khoa liên tục đã được t chức cho hộ sinh và người làm công tác liên quan tới hộ sinh. Các quy định mới yêu cầu cứ hai năm một lần, hộ sinh phải tham gia một khóa đào tạo liên tục tối thiểu 48 tiết học thì mới được phép tiếp tục đăng hành nghề hộ sinh. Tuy nhiên các cơ chế để củng cố việc thực hiện, cập nhật nội dung và lập kế hoạch chiến lược cho hoạt động đào tạo y khoa liên tục vẫn còn hạn chế.

Hội Nữ Hộ sinh Việt Nam được thành lập năm 1995 và đã tham gia vào công tác vận động và hoạch định chính sách cho các chương trình đào tạo hộ sinh và đào tạo y khoa liên tục. Tuy nhiên vai trò của Hội vẫn còn hạn chế và Hội ít đóng góp ý kiến cho các văn bản chính sách. Hội cũng chưa đáp ứng được các điều kiện để được tổ chức các khóa đào tạo y khoa liên tục.

T năm 2007, Việt Nam đã xây dựng rất nhiều hướng dẫn lâm sàng về các dịch vụ hộ sinh. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu thực địa cho thấy nhân viên nhiều bệnh viện không hề biết những hướng dẫn này. Mặc dù thể Sở Y tế đã nhận được những văn bản về việc triển khai các hướng dẫn mới này từ BYT, việc phổ biến các hướng dẫn này dường như chưa đến được các cơ sở lâm sàng hiện chưa các cơ chế hiệu quả để đảm bảo việc tuân thủ thực hiện các hướng dẫn.

Khung pháp lý

Việc ban hành các quy chế v hộ sinh không chỉ liên quan đến các Cục, vụ trong Bộ Y tế, mà còn liên quan tới Bộ Giáo dục Đào tạo (Bộ GD-ĐT), Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) và Bộ Nội vụ. Khuôn khổ pháp lý vcông tác hộ sinh ở Việt Nam đã được xây dựng và hoàn thiện trong những năm qua, đặc biệt trong việc ban hành Thông tư 26, các tiêu chuẩn vkỹ năng và năng lực hộ sinh và cải cách chương trình đào tạo. Tuy nhiên, hộ sinh mới chỉ được xem vấn đề nhỏ trong quá trình xây dựng các quy chế chính sách liên quan vàvy tất các vấn đề liên quan đến hộ sinh chưa được phản ánh và thể hiện đầy đủ.

Một số chính sách hiện chưa nhất quán kể cả việc hạn chế không cần thiết phạm vi thực hiện công việc của hộ sinh. Lộ trình nâng cao trình độ chuyên môn cho hộ sinh từ 2 năm lên 3 năm không thể hiện tính khả thi và hiện vẫn thiếu các quy định đặc thù cho hộ sinh trong hoạt động đăng ký hành nghề, quy tắc ứng xử và các thủ tục liên quan tới khiếu nại.

Kết luận và khuyến nghị

Tình hình thực tiễn của hộ sinh Việt Nam vẫn khác xa với Tầm nhìn Hộ sinh Toàn cầu 2030. Nhu cầu chưa được đáp ứng về các dịch vụ trước khi mang thai, chăm sóc khi mang thai, trong khi sinh và sau sinh vẫn cao và vẫn còn tồn tại nhiều sự khác biệt trong việc tiếp cận các dịch vụ nói trên. Hiện các dịch vụ hộ sinh ở Việt Nam chủ yếu do các bác sỹ thực hiện tại các bệnh viện, chi phí cao và dễ dẫn đến hiện tượng lạm dụng các biện pháp can thiệp y khoa không cần thiết và gây hại cho người sử dụng dịch vụ so với mô hình cung cấp dịch vụ hộ sinh do hộ sinh chăm sóc và chịu trách nhiệm.

Kết quả đánh giá 6 trụ cột của hệ thống y tế ở Việt Nam cho thấy một số thách thức lớn và đòi hỏi các bên phải thực hiện các hành động cần thiết trong những năm tới: 

Quản trị: Sự tham gia của hộ sinh trong các hoạt động xây dựng các chính sách, các quy định và hướng dẫn còn hạn chế và thiếu các quy định chuyên ngành đặc thù cho hộ sinh như chưa thành lập Hội đồng Hộ sinh. Thông26 hạn chế quá mức phạm vi công việc của hộ sinh trình độ dưới đại học và đặt ra khung thời gian không khả thi trong lộ trình đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho hộ sinh hệ trung cấp (2 năm) lên hệ cao đẳng (3 năm) hoặc cao hơn. Chưa các chế tài đảm bảo việc thực hiện các hướng dẫn lâm sàng đã được phê duyệt.

Khuyến nghị: Nâng cao năng lực và vị thế của cơ quan phụ trách quản lý công tác hộ sinh; sửa đổi Thông tư 26 về quy định chức năng nhiệm vụ của hộ sinh hạng IV trở xuống, điều chỉnh lộ trình và các giải pháp khả thi để đào tạo nâng cấp trình độ chuyên môn cho hộ sinh; khi công tác đào tạo được cải thiện, Bộ Y tế cần cân nhắc mở rộng phạm vi thực hành cho hộ sinh nhằm đáp ứng nhu cầu của Tầm nhìn Hộ sinh 2030 trong đó cho phép hộ sinh hoạt động độc lập ở phạm vi rộng hơn.

Hệ thống thông tin y tế: Chưa đủ các số liệu thống kê về lực lượng hộ sinh công tác đào tạo hộ sinh để xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực hộ sinh; thiếu thông tin cập  nhật thường xuyên về hoạt động của CĐTB nhu cầu về TB; chưa thực hiện đầy đủ công tác theo dõi chất lượng đào tạo; chưa quan tâm đúng mức đến cơ chế thu thập sử dụng thông tin cho hoạt động sẵn (ví dụ như các kết quả thẩm định tử vong mẹ); thiếu các thông tin về nhu cầu đối với một số dịch vụ hộ sinh quan trọng khả năng đáp ứng của các cơ sở y tế; thiếu các thông tin về cung cấp dịch vụ hộ sinh của các cơ sở tư nhân thông tin về số lượng hộ sinh đang làm việc tại các cơ sở này.

Khuyến nghị: Tận dụng các dữ liệu hiện có về nhân sự từ dữ liệu đăng ký hành nghề; củng cố 

thông tin về đào tạo hộ sinh tại tuyến trung ương để hỗ trợ nỗ lực kết nối cung và cầu hộ sinh; tăng cường hiệu quả công tác thu thập và phân tích dữ liệu nhằm kịp thời giải quyết các vấn đề như tử vong mẹ và tử vong sơ sinh và vấn đề lạm dụng dịch vụ. Cải thiện việc thiếu hụt thông tin về nhu cầu các dịch vụ y tế và các dịch vụ khác do tư nhân cung cấp.

Nguồn nhân lực y tế: Mức độ bao phủ của lực lượng TB tại các địa bàn nhu cầu còn thấp; phạm vi cung cấp dịch vụ của hộ sinh hạng IV để đáp ứng các nhu cầu v hộ sinh hạn chế; chưa các nỗ lực để gắn kết nhu cầu v hộ sinh của các cơ sở y tế với các cơ sở đào tạo hộ sinh; việc quản lý phối hợp trong đào tạo ngành hộ sinh giữa ba Bộ còn rời rạc và chưa đồng bộ; chưa đến 1/3 số tỉnh thành thực hiện đào tạo hộ sinh bậc cao đẳng; năng lực thực hiện chương trình đào tạo chính qui cao đẳng, đại học và đào tạo nâng cao liên tục cho hộ sinh yếu; chất lượng đào tạo hộ sinh hạn chế do chưa đủ hộ sinh thể làm giảng viên và những khó khăn trong việc bố trí thực hành lâm sàng; hoạt động đào tạo y khoa liên tục chưa được đưa vào phối hợp với việc ban hành các hướng dẫn mới; và chưa chú trọng tới hoạt động nâng cao trình độ chuyên môn/kỹ năng cho hộ sinh.

Khuyến nghị: Đẩy mạnh các nỗ lực sắp xếp việc làm cho sinh viên cao đẳng hộ sinh mới tốt nghiệp và có năng lực; mở rộng hoạt động đào tạo hộ sinh cao đẳng và các hệ cao hơn, đồng thời thực hiện việc đầu tư và đảm bảo chất lượng đào tạo; ngừng đào tạo mới hộ sinh trung cấp và chuyển các nguồn lực cho các trường cao đẳng và đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho hộ sinh; tăng cường phối hợp và củng cố các hoạt động đào tạo và giáo dục liên tục cho cán bộ y tế.

Tài chính y tế: Giá dịch vụ y tế các ưu đãi về bảo hiểm dẫn đến hiện tượng không sử dụng không cung cấp đầy đủ một số dịch vụ hộ sinh thiết yếu, đồng thời hiện tượng lạm dụng một số dịch vụ hộ sinh khác; gánh nặng tài chính về chi phí đi lại tại một số vùng sâu vùng xa chi phí cung cấp dịch vụ quá mức ở một số khu vực khác; thiếu một chiến lược tài chính nhằm hỗ trợ công tác đào tạo mới đào tạo y khoa liên tục cho hộ sinh.

Khuyến nghị: Thay đổi các hình thức khuyến khích tài chính bằng cách sửa đổi và liệt kê các loại phí dịch vụ y tế phản ánh các loại dịch vụ hộ sinh. Đảm bảo sự rõ ràng, minh bạch trong các khoản thu theo gói dịch vụ. Thể hiện sự minh bạch tài chính nhằm giảm gánh nặng chi tiêu cho những gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Ban hành các quy định đảm bảo các nguồn tài chính cho đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn và đào tạo liên tục hộ sinh, các nguồn nay có thể từ học phí học viên đóng góp, từ các cơ sở hộ sinh đang làm việc hoặc từ các nguồn khác.

Dược phẩm và trang thiết bị: Thiếu một hệ thống để kiểm tra xác minh sự sẵn thuốc thiết yếu trang thiết bị để đảm bảo việc bù đắp các thiếu hụt về thuốc thiết yếu trang thiết bị, đặc biệt là tại các trạm y tế xã.

Khuyến nghị: Đảm bảo các cơ sở y tế luôn có sẵn các loại thuốc thiết yếu sử dụng trong chăm sóc hộ sinh tại tuyến cơ sở, đặc biệt là thuốc dành cho cấp cứu sản khoa tại các cơ sở cung cấp dịch vụ  đỡ đẻ; đảm bảo các cơ sở thực hiện đỡ đẻ có đủ các trang thiết bị khám thai và các trang thiết bị phục vụ đỡ đẻ; xây dựng các quy định và các hình thức lựa chọn xét nghiệm nhanh và có que thử sàng lọc các bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD) và thử nồng độ protein trong nước tiểu; đầu tư đầy đủ các thiết bị  mô phỏng phục vụ chương trình đào tạo mới, đào tạo nâng cao và đào tạo liên tục cho hộ sinh tại các cơ sở đào tạo và các cơ sở thực hành lâm sàng.

Cung cấp dịch vụ y tế: Các mô hình chăm sóc hiện nay không đáp ứng được nhu cầu chăm sóc trước khi mang thai cho TN/VTN chưa kết hôn, trong khi các chương trình mục tiêu quốc gia chưa tìm được các nguồn tài chính thay thế; mô hình chăm sóc thai sản hiện nay được cung cấp tại bệnh viện do các bác sỹ thực hiện là chủ yếu đây là một mô hình không bền vững thể ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng của các dịch vụ do việc lạm dụng quá mức cần thiết các biện pháp can thiệp. Hoạt động cung cấp dịch vụ hộ sinh của khu vực tư nhân chưa phổ biến rộng rãi làm giảm khả năng cạnh tranh để các cơ sở y tế công cải thiện chất lượng dịch vụ.

Khuyến nghị: Duy trì và mở rộng mạng lưới các dịch vụ thân thiện với TN/VTN, giới thiệu mô hình dịch vụ chăm sóc hộ sinh do hộ sinh chịu trách nhiệm; kiểm định và cấp giấy công nhận các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu của nhà nước và tư nhân cung cấp các dịch vụ đỡ đẻ do hộ sinh thực hiện; nghiên cứu khả năng xây dựng các cơ sở đỡ đẻ thân thiện với mẹ và bé; thực hiện các chiến lược truyền thông và các chiến lược khác nhằm nâng cao sự tin tưởng của các gia đình đối với các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu có cung cấp dịch vụ hộ sinh; nỗ lực giới thiệu và hỗ trợ hoạt động của các CĐTB tại các vùng dân tộc; tăng cường thu thập thông tin và có các biện pháp đảm bảo việc tuân thủ thực hiện các hướng dẫn quốc gia và giảm tình trạng lạm dụng một số dịch vụ.

UNFPA, Bộ Y tế (2017). Báo cáo Hộ sinh Việt Nam 2016