BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG BỐI CẢNH ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƯỜI: THỰC TRẠNG VÀ GỢI Ý GIẢI PHÁP

Sự nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong hoạt động đảm bảo bình đẳng giới đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần tạo cơ hội cho sự phát triển của phụ nữ và nam giới. Tuy nhiên, tình trạng bất bình đẳng giới ở một số lĩnh vực, ở cộng đồng các dân tộc vẫn còn chưa giải quyết thỏa đáng, trong đó có tình trạng bất bình đẳng giới trong cộng đồng tộc thiểu số.

Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng, người phụ nữ dân tộc thiểu số là người thiệt thòi hơn nam giới trên mọi phương diện, từ sự phân công lao động trong gia đình cho đến việc tiếp cận các nguồn lực tài sản gia đình và tiếng nói của họ trong gia đình, cộng đồng [3]. Chính điều này đã tạo ra mô hình quyền lực giới trong gia đình và cộng đồng có xu hướng thiên về nam giới, dù xã hội phụ hệ hay mẫu hệ. Do đó, phụ nữ dân tộc thiểu số có nguy cơ bị tổn thương từ tinh thần và thể xác, một nghiên cứu về bạo lực quốc gia cho thấy, phụ nữ dân tộc thiểu số bị bạo lực thể xác và tình dục chiếm tỷ lệ khá cao, trong đó phụ nữ dân tộc Mường chịu bạo lực chiếm khoảng 36,0%, phụ nữ dân tộc Hoa chiếm hơn 33,0%, phụ nữ dân tộc thái chiếm cũng gần 30% [6].

Như vậy, bất bình đẳng giới là một trong những nguyên nhân đe dọa đến an ninh con người, trong đó có phụ nữ dân tộc thiểu số; bởi lẽ, an ninh con người tức là đảm bảo an toàn trước các mối đe dọa triền miên như đói khát, bệnh tật và áp bức; con người được bảo vệ trước những biến động bất thường và có hại đối với cuộc sống hằng ngày - bất luận trong gia đình, nơi công sở hay ở cộng đồng [7]. Mọi hành vi bạo lực gây tổn thương cho phụ nữ có nguồn gốc sâu xa từ bất bình đẳng giới. Vì thế, phân tích thực trạng và kiến giải vấn đề bất bình đẳng giới trong cộng đồng dân tộc thiểu số có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động tìm kiếm giải pháp nhằm giảm thiều rủi ro do bất bình đẳng giới đối với vấn đề an ninh con người trong vùng dân tộc thiểu số.

1.Thực trạng bất bình đẳng giới trong cộng đồng dân tộc thiểu số

Các nghiên cứu trước đây đã chỉ rõ rằng, tình trạng bất bình đẳng giới trong dân tộc thiểu số được thể hiện ở các một số khía cạnh như phân công lao động, kiểm soát các nguồn lực, cơ hội giáo dục, việc làm…

1.1 Phân công lao động theo giới

Nghiên cứu của Oxfam và cộng sự (2010) đã chỉ rõ rằng, lao động trong các dân tộc thiểu số vẫn được phân công theo “việc đàn ông” và “việc đàn bà”.  Vai trò của phụ nữ ở các xã hội vùng cao ở Việt Nam bị giới hạn và gần như bị gói trọn trong phạm vi gia đình. Người phụ nữ khi là con gái trong gia đình thì phải tuân theo sự chỉ bảo của bố mẹ và cố gắng giúp đỡ và chăm sóc bố mẹ. Khi họ ở vị trí người vợ, họ có bổn phận tương tự với người chồng và chăm sóc bố mẹ chồng… Mặc dù vậy, phụ nữ vẫn có vị trí lệ thuộc vào nam giới. Họ có quyền tự chủ và quyền lực ít hơn, nhưng lại phải chịu trách nhiệm nhiều hơn trong việc nuôi dưỡng gia đình [3].

Một nghiên cứu khác cũng cho thấy tương tự rằng, phụ nữ Raglai làm việc nhiều hơn giới 4-5 giờ/ngày, công việc của phụ nữ thường chăm sóc cây trồng, vật nuôi, thu hoạch, việc trong nhà... cho nên được coi là“ nhẹ nhàng“, ít quan trọng[8]. Do đó, phụ nữ ít tham gia vào công việc xã hội và cộng đồng. Ngoài ra, quan niệm giới của đồng bào Raglai trong phân công lao động ở gia đình cho thấy, phụ nữ thường đóng vai trò chủ hộ, người quyết định sở hữu tài sản; nam giới thường làm những việc nặng nhọc, hoạt động bên ngoài xã hội... Có một nghịch lý diễn ra rằng, phụ nữ đóng vai trò chủ hộ nhưng ít tham gia các hoạt động xã hội và cộng đồng, trong khi đó nam giới thì ngược lại. Chính nghịch lý này đã khiến phụ nữ Raglai chưa phát huy vai trò chủ hộ của mình trong phát triển kinh tế hộ gia đình, để hướng đến thoát nghèo [5].

1.2 Tiếp cận và kiểm soát nguồn lực

Nguồn lực là yếu tố cơ bản vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của con người nói chung và người lao động nói riêng. Trong các nghiên cứu về giới hiện nay, người ta đặc biệt quan tâm đến cơ hội tiếp cận và kiểm soát nguồn lực của phụ nữ và nam giới. Theo quan điểm của họ "Địa vị thấp kém của người phụ nữ có thể giới hạn bởi sự tham gia và điều khiển của họ đối với nguồn lực". Điều này càng thể hiện rõ hơn trong cộng đồng dân tộc thiểu số. Nghiên cứu của Oxfam và cộng sự (2010) cho thấy, phụ nữ các dân tộc thiểu số là nhóm xã hội dễ bị tổn thương, bởi lẽ bản thân của họ còn gặp nhiều khó khăn do các quy định khắc khe về sở hữu tài sản đối với con gái và phụ nữ trong xã hội truyền thống. Đối với các cộng đồng phụ hệ như miền núi phía Bắc, tất cả các tài sản là do dàn ông sở hữu và quản lý, định đoạt. Đối với nhóm dân tộc phụ hệ như Hmông, Dao, Bru Vân Kiều thì tài sản thuộc về người chủ hộ trong gia đình và thường người chủ hộ là nam giới, cho nên người đàn ông là người đứng tên sở hữu tài sản của vợ chồng. Một nghiên cứu khác của tác giả Lê Thị Kim Lan (2005) [1] cũng cho thấy tương tự rằng, mặc dù giữa nam và nữ đều có cơ hội trong vấn đề tiếp cận các nguồn lực và lợi ích, thế nhưng nam giới người Bru Vân Kiều vẫn là người nắm giữ và chi phối phần lớn các yếu tố về nguồn lực và lợi ích. Sự tham gia của phụ nữ trong kiểm soát và phân phối nguồn lực và lợi ích rất hạn chế và chỉ tập trung vào một số yếu tố gắn liền với địa vị do tín ngưỡng đem lại. Điều này cho thấy nam giới là người có lợi thế trong việc phát huy hơn nữa quyền lực và sức mạnh của mình từ vị thế chủ hộ và địa vị của đàn ông trong hệ tư tưởng gia trưởng. Phụ nữ một lần nữa lại chịu thiệt thòi do có những đóng góp trong gia đình và xã hội nhưng không có quyền tương xứng với nam giới trong kiểm soát các nguồn lực và lợi ích.

Nghiên cứu của CSDP (2010) cũng cho thấy rằng, đa số đồng bào Raglai ở Huyện Bác Ái, Thuận Bắc tham gia thảo luận nhóm ở các xã Phước Thắng, Phước Tân (huyện Bác Ái), và xã Lợi Hải (huyện Thuận Bắc) đều chưa qua hết tiểu học. Nhiều người trong số họ không hiểu hết hoặc diễn đạt rất khó khăn bằng tiến phổ thông (CSDP, 2010) [8]. Chính điều này đã làm cho việc tiếp cận, hiểu biết về kỹ thuật cũng như thị trường của người Raglai, đặc biệt là phụ nữ còn khá hạn chế (CSDP, 2010) [8]. Để rồi, cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ sản xuất rất khó khăn và hệ lụy là đa số đồng bào Raglai vẫn sản xuất theo lối canh tác truyền thống, lạc hậu... Cho nên năng suất, hiệu quả thấp và thu nhập không cải thiện. Vì thế, nghèo đói vẫn còn “đồng hành“ với đồng bào Raglai.

1.3 Cơ hội trong giáo dục và việc làm

Về khoảng cách giới trong giáo dục, mặc dù, chính sách giáo dục Việt Nam đã góp phần mang lại cơ hội đến trường cho người dân; song khoảng cách giới trong giáo dục của nhóm dân tộc thiểu số vẫn còn tồn tại. Nghiên cứu của Oxfam (2010) cho thấy, các em gái dân tộc thiểu số là nhóm có khả năng tiếp cận giáo dục thấp nhất. Các em gái dân tộc thiểu số có tỷ lệ nhập học thấp hơn nhiều và ít có khả năng học lên trung học phổ thông, cao đẳng và đại học hơn so với các em trai [4]. Tương tự, theo kết quả tổng quan kinh tế- xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2015, tỷ lệ người biết đọc là nam giới cao hơn nữ giới ở tất cả các dân tộc thiểu số. Tỷ lệ biết đọc, biết viết ở nam giới tính chung cho dân tộc thiểu số là 86,3% so với nữ giới là 73,4%. So sánh giữa các dân tộc với nhau thì cho thấy, có một khoảng cách giới về giáo dục khá lớn ở các nhóm dân tộc Lự, Kháng, Sila, Mông, Hà Ha, Hà Nhì, Cơ Lao và Xinh Mun (chênh lệch về tỷ lệ biết đọc, biết viết giữa nam và nữ trên 28%) và nhóm dân tộc có khoảng cách giới về giáo dục thấp nhất là nhóm dân tộc Thổ, Mường, Tày, Pu Péo, Hoa (chệch lệch dưới 7%). Trong đó, tỷ lệ mù chữ của nữ dân tộc thiểu số chiếm khá cao (40%) [2].

Về cơ hội việc làm, kết quả điều tra 53 dân tộc thiểu số cho thấy, lao động nam có việc làm chiếm 52% so với 48% của nữ. Trong đó, một số dân tộc có tỷ lệ nam giới có việc làm cao hơn rất nhiều so với nữ, chẳng hạn dân tộc Ngái, với 76,4% lao động có việc làm nam, tương tự, dân tộc Hoa có 58,4%. Sở dĩ nam giới ở hai dân tộc này có việc làm cao nhất là vì nam giới ở đây nắm vai trò quyết định các công việc lớn trong gia đình. Một số dân khác như Pu Péo, Cơ Lao, Khmer, Thổ, Chơ Ro và Chăm thì tỷ lệ lao động nam cũng không cao, chiếm khoảng 55%. Tuy nhiên, cũng có một số dân tộc khác có tỷ lệ nữ có việc làm cao hơn nam nhưng sự chênh lệch này không đáng kể (Rơ Măm, Si La, Gié Triêng, Gia Rai, Xinh Mun) [2]. Chính điều này đã ảnh hưởng đến cơ hội đóng góp của phụ nữ dân tộc thiểu số vào kinh tế hộ gia đình. Để rồi, vị thế, vai trò của họ trong gia đình, cộng đồng thường được coi nhẹ và nguy cơ bị tổn thương càng nhiêu hơn vì họ phụ thuộc kinh tế vào người chồng.

2. Bàn luận và gợi ý một số giải pháp giảm thiểu sự bất bình đẳng giới đảm bảo an ninh con người cho phụ nữ dân tộc thiểu số

2.1 Bàn luận

Bất bình đẳng giới trong đồng bào dân tộc thiểu số vẫn luôn hiện hữu trong bối cảnh hiện nay, mặc dù chúng ta đã và đang nỗ lực thúc đẩy bình đẳng giới. Từ những thực trạng trên, có một số nhận định được đưa ra như sau:

Thứ nhất, phụ nữ dân tộc thiểu số dù ở chế độ phụ hệ hay mẫu hệ nhưng họ đều có điểm chung rằng, phụ nữ thường làm công việc nhiều hơn nam giới trong gia đình song tầm quan trọng của công việc mà phụ nữ đảm nhận trong gia đình dường như ít được đánh giá cao. Thậm chí, có nhóm phụ nữ dân tộc thiểu số theo mẫu hệ như tộc người Raglai, phụ nữ đóng vai trò chủ hộ nhưng vẫn phải chịu “lép vế” so so với nam giới. Lẽ đó, phụ nữ dân tộc thiểu số luôn chịu thiệt thòi nhiều, “lép vế” trong gia đình và cộng đồng. Có lẽ rằng, văn hóa truyền thống và xã hội đã “gán” về sự phân chia vai vế giữa phụ nữ và nam giới thông qua quá trình xã hội hóa cá nhân. Điều này đã được các nhà xã hội học theo trường phái chức năng khẳng định trước đó rằng, mô hình phân công lao động giữa nam và nữ trong xã hội, bởi vì nó là một hiện tượng tự nhiên, một trật tự cần thiết. Nếu làm ngược lại với sự phân công đó thì xã hội sẽ loạn chức năng và trở nên “bệnh hoạn”. Xã hội vận hành có hiệu quả khi có sự phân công lao động rõ ràng theo giới, trong đó nam giới đóng vai trò công cụ và phụ nữ đóng vai trò tình cảm. Tức là, phụ nữ phù hợp với các công việc gia đình, chăm sóc con cái, kết nối tình cảm giữa các thành viên trong gia đình.

Thứ hai, phụ nữ dân tộc thiểu số có tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực phát triển kinh tế của phụ nữ thường hạn chế hơn so với nam giới. Do đó, tiếng nói trong gia đình, mọi sự quyết định đều có sự tham gia của phụ nữ; song, những quyết định có tính chất quan trọng dường như vẫn thuộc về nam giới. Sở dĩ là do, quan niệm giới truyền thống đã chi phối quyền lực giới trong gia đình. Quyền lực trong gia đình và xã hội được củng cố thông qua quá trình tương tác giữa các thành viên của gia đình và xã hội. Cơ sở của quyền lực bất bình đẳng trong gia đình và xã hội là do sự kiểm soát của đàn ông đối với cuộc sống của phụ nữ. Theo Kamala Bhasin (1993) cho rằng, đàn ông kiểm soát cuộc sống của phụ nữ thông qua các lĩnh vực (1) kiểm soát quyền sản xuất và lao động của phụ nữ; (2) kiểm soát quyền tái sản xuất của phụ nữ và (3) kiểm soát toàn bộ tình dục của phụ nữ [9]. Hệ quả là vị thế, vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong cộng đồng và gia đình khá nhạt nhòa và thậm chí, quan niệm sở hữu vẫn còn tồn tại trong suy nghĩa của nam giới các dân tộc thiểu số.

Thứ ba, khoảng cách giới về việc làm, giáo dục cũng là biểu hiện của thực trạng bất bình đẳng giới trong cộng đồng dân tộc thiểu số. Mặc dù vậy, ở các nhóm dân tộc thiểu số khác nhau thì có khoảng cách giới khác nhau. Sở dĩ là do, nó bị chi phối bởi các quan niệm giới truyền thống, lạc hậu của các nhóm dân tộc thiểu số và bị chi phối nhiều công việc gia đình cho nên con đường chinh phục đỉnh cao tri thức của trẻ em gái, phụ nữ dân tộc thiểu số càng gian nan hơn.

Như vậy, mặc dù các giá trị xã hội đã có thay đổi ít nhiều theo hướng tích cực hơn nhưng thực trạng bất bình đẳng giới trong cộng đồng dân tộc thiểu số vẫn còn hiện hữu trong bối cảnh hiện nay. Chính điều này đã chi phối khuôn mẫu hành vi của cả hai giới phụ nữ và nam giới. Phụ nữ dân tộc thiểu vẫn còn thái độ cam chịu, chấp nhận thậm chí tự ti; trong khi đó, nam giới dân tộc thiểu số vẫn cho rằng, họ có được cái quyền sở hữu “vợ”, kiểm soát “vợ”. Vì thế, phụ nữ dân tộc thiểu số càng có nguy cơ bị bạo lực gia đình và đe dọa đến vấn đề an ninh con người trong cộng đồng dân tộc thiểu số.

2.2 Gợi ý giải pháp

Các bằng chứng nghiên cứu đã cho thấy, bất bình đẳng giới trong dân tộc thiểu số vẫn còn đang hiện hữu trong bối cảnh hiện nay. Điều này cho thấy, thời cuộc đã thay đổi, vai trò của mỗi giới trong gia đình và xã hội cũng theo đó đã đổi thay, song sự kỳ vọng của gia đình và xã hội đối với phụ nữ vẫn còn phụ thuộc khá mạnh mẽ vào khuôn mẫu giới truyền thống. Do đó, để góp phần giảm thiểu bất bình đẳng giới trong cộng đồng dân tộc thiểu số, nghiên cứu gợi mở một số giải pháp như sau:

Thứ nhất, cần thay đổi chương trình truyền thông và giáo dục về giới theo cách trước đây, bởi vì hầu hết các chương trình quảng cáo, truyền thông, thậm chí các chương trình giảng dạy cho học sinh các cấp thường gắn việc nhà, chăm sóc con cái với hình ảnh của người phụ nữ. Chính điều này đã hằn sâu trong suy nghĩ của nhiều thế hệ rằng, phụ nữ phải đảm đang và gánh vác mọi việc trong gia đình. Để làm được điều này, trước hết, cần xây dựng các chương trình truyền thông, tuyên truyền mang tính nhạy cảm giới; thứ hai, rà soát lại toàn bộ các chương trình giáo dục cho học sinh để xem xét các chương trình này có thể hiện định kiến giới hay không, từ đó có thể biên soạn và chỉnh sửa cho phù hợp; thứ ba, người làm chương trình truyền thông cũng cần được bồi dưỡng kiến thức về giới để tránh tình trạng mù giới trong việc xây dựng và chạy các chương trình truyền thông liên quan đến giới.

Thứ hai, phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ cơ sở trong việc thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách về bình đẳng giới, đặc biệt các chính sách liên quan đến cơ hội tiếp cận các nguồn lực phát triển kinh tế- xã hội của phụ nữ, nhằm đảm bảo quyền tiếp cận các nguồn của phụ nữ, góp phần nâng cao địa vị của họ trong gia đình và ngoài xã hội. Để làm được điều này, trước hết, đội ngũ cán bộ địa phương thực thi chính sách cần có kiến thức về giới để có thể thực hiện một cách hiệu quả trong các chương trình lồng ghép giới. Thứ hai, đội ngũ cán bộ tích cực nhận thức và cập nhật kiến thức về bình đẳng giới để có chiến lược tuyên truyền, vận động các chính sách liên quan đến giới phù hợp. Thứ ba, bản thân của người phụ nữ cũng có sự hợp tác tích cực đối với cán bộ thực hiện chính sách này.

Thứ ba, tạo cơ hội cho phụ nữ dân tộc thiểu số tiếp cận các dịch vụ lao động, việc làm và các nguồn vốn sản xuất. Bởi vì, các nhà nữ quyền Macxit đã khẳng định, cần tạo điều kiện cho phụ nữ tiếp cận các nguồn lực kinh tế, lao động, việc làm để có thể nâng cao vị thế của họ trong gia đình và xã hội. Để làm được điều này, thứ nhất, chính quyền địa phương cần thực hiện nghiêm túc chính sách vay vốn tín dụng ưu đãi, đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho phụ nữ dân tộc thiểu số sau khi được đào tạo; thứ hai, cần xã hội hóa các chính sách, chương trình an sinh xã hội liên quan đến phát triển cơ hội của phụ nữ dân tộc thiểu số; thứ ba, lồng ghép giới vào trong các chương trình phát triển kinh tế- xã hội, đặc biệt là chính sách giảm nghèo, ứng phó với biến đổi khí hậu... Có như vậy, sẽ mang lại cơ hội có thu nhập cho phụ nữ nói chung, phụ nữ dân tộc thiểu số nói riêng và giảm tính dễ tổn thương, nâng cao khả năng ứng phó của họ với rủi ro, nhằm góp phần nâng cao vị thế của phụ nữ trong gia đình và cộng đồng.

Tài liệu tham khảo:

1. Lê Thị Kim Lan (2005), Phân công lao động theo giới trong gia đình của người Bru Vân kiều, huyện D’Kong, Quảng Trị, luận án tiến sĩ, Học viện KHXN Việt Nam, Hà Nội.

2. Irich Aid, Ủy Ban dân tộc và UNDP (2017), Tổng quan thực trạng kinh tế- xã hội của 53 dân tộc thiểu số (dự trên kết quả phâ tích điều tra thực trạng kinh tê xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2015), Hà Nội.

3. Oxfam, actinaid, isee (2010), Báo cáo hiện trạng bất bình đẳng giới trong cộng đồng dân tộc thiểu số, Hà Nội.

4. Oxfam (2010), Thu hẹp khoảng cách: Cùng giảm bất bình đẳng ở Việt Nam, Hà Nội.

5. Phan Thuận (2017), Vốn con người trong giảm nghèo bền vững cho đồng bào Raglai
ở Ninh Thuận nhìn từ giác độ giới: Từ thực tiễn đến gợi ý chính sách, Kỷ yếu hội thảo, Đại học Tôn Đức Thắng, TP Hồ Chí Minh.

6. Tổng Cục thống kê (2010), Kết quả từ nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam, Hà Nội.

7. Tạ Minh Tuấn (2008), An ninh con người và những mối đe dọa toàn cầu, truy cập tại http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2008/1177/An-ninh-con-nguoi-va-nhung-moi-de-doa-toan-cau.aspx, ngày truy cập 24/1/2018.

8. Trung tâm nghiên cứu chính sách phát triển bền vững  (2010), Phân tích thực trường và định hướng phát triển kinh doanh cho phụ nữ dân tộc Raglai ở hai huyện Bác Ái và Thuận Bác tỉnh Ninh Thuận, Hà Nội.

9. Lê Ngọc Văn (2016), Lý thuyết nghiên cứu về giới và gia đình. NXB KHXH, Hà Nội.