BƯỚC ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC: CHUYỂN HƯỚNG TỪ DÂN SỐ-KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH SANG DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN

Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/11/2017 Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành TW Đảng khoá XII (Nghị quyết TW 21) quyết định chuyển hướng từ Dân số-Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) sang Dân số và Phát triển.

Đây là quyết sách mang tính cách mạng lần thứ hai trong công tác dân số ở nước ta. Vào đầu những năm 1990, kết quả TĐTDS 1989 cho thấy sau 3 kỳ đại hội, mục tiêu giảm tỷ lệ phát triển dân số ở mức 1,7% đã không đạt được. Do vậy, Đảng đã ban hành Nghị quyết TW 04 khóa 7 về chính sách DS-KHHGĐ (Nghị quyết TW 04). Quyết sách này đã tạo ra cuộc cách mạng, đạt được mục tiêu giảm tỷ lệ phát triển dân số và những thành quả ngày nay. Việt Nam đã được Liên Hợp Quốc trao giải thưởng về công tác dân số vào năm 1999. Đứng trước tình hình mới về dân số Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn chuyển đổi nhân khẩu học, Nghị quyết 21 tạo cơ sở phục vụ công cuộc phát triển kinh tế-xã hội đất nước trong tình hình mới. Để hiểu rõ sự chuyển hướng này, cần điểm lại về những bước phát triển và những quyết sách của Đảng qua thực trạng, quan điểm và những mục tiêu của hai Nghị quyết của TW Đảng về công tác dân số.

Thực trạng khi ban hành Nghị quyết

Tình hình thực hiện công tác DS-KHHGĐ khi ban hành Nghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày  14/11/1993 Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành TW khoá VII về chính sách của Dân số và KHHGĐ

Từ đầu những năm 1960, Đảng và Nhà nước đã sớm đề ra chủ trương, chính sách về dân số và kế hoạch hoá gia đình (DS-KHHGĐ), và đã đạt được một số kết quả: phát động cuộc vận động về KHHGĐ, từng bước huy động các lực lượng xã hội tham gia, tranh thủ được sự giúp đỡ về vật chất và kinh nghiệm của quốc tế, đã giảm số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ từ trên 6 con (vào những năm 1960) xuống khoảng 4 con. Tuy nhiên những kết quả đạt được còn rất thấp so với yêu cầu. Đến cuối năm 1992, dân số Việt Nam đã lên đến 70 triệu người. Nếu cứ tiếp tục tốc độ tăng dân số hằng năm trên 2% và bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có gần 4 con, thì cứ khoảng 30 năm một lần dân số Việt Nam sẽ tăng gấp đôi.  

Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng tăng dân số quá nhanh trước hết là do các cấp uỷ đảng và chính quyền chưa thực sự quán triệt chủ trương coi việc giảm tốc độ gia tăng dân số là một quốc sách, lơi lỏng việc lãnh đạo và chỉ đạo tổ chức thực hiện; phong trào quần chúng thực hiện KHHGĐ chưa được phát động rộng khắp; công tác tuyên truyền giáo dục nhằm khắc phục ảnh hưởng tâm lý và tập quán cũ làm còn yếu; đầu tư của Nhà nước cho công tác DS-KHHGĐ chưa thoả đáng; phương tiện cho công tác này còn thiếu nghiêm trọng; bộ máy chuyên trách yếu kém; thống kê dân số chưa chính xác. Sự gia tăng dân số quá nhanh là một trong những nguyên nhân quan trọng cản trở tốc độ phát triển kinh tế-xã hội, gây khó khăn lớn cho việc cải thiện đời sống, hạn chế điều kiện phát triển về mặt trí tuệ, văn hoá và thể lực của giống nòi. Nếu xu hướng này cứ tiếp tục diễn ra thì trong tương lai không xa đất nước sẽ đứng trước những khó khăn rất lớn, thậm chí những nguy cơ về nhiều mặt.

Trước thực trạng này, Đảng xác định mục tiêu trọng tâm, ưu tiên của giai đoạn này là giảm sinh, làm tốt công tác KHHGĐ, thực hiện gia đình ít con, giảm nhanh tỉ lệ phát triển dân số, tiến tới ổn định quy mô dân số là vấn đề rất quan trọng và cấp bách đối với nước ta.

Tình hình thực hiện công tác DS-KHHGĐ khi ban hành Nghị quyết 21

Sau 24 năm thực hiện Nghị quyết 4 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá VII và các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tác DS-KHHGĐ đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Tốc độ gia tăng dân số đã được khống chế thành công, đạt mức sinh thay thế sớm 10 năm so với mục tiêu Nghị quyết đề ra và tiếp tục duy trì cho đến nay, hạn chế tăng thêm hàng chục triệu người. Cơ cấu dân số chuyển dịch tích cực. Dân số trong độ tuổi lao động tăng mạnh. Từ năm 2007, Việt Nam bước vào thời kỳ dân số vàng. Chất lượng dân số được cải thiện về nhiều mặt. Tuổi thọ trung bình tăng nhanh, đạt 73,4 tuổi năm 2016, cao hơn nhiều nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người. Tình trạng suy dinh dưỡng, tử vong mẹ và trẻ em đã được cải thiện. Tầm vóc, thể lực người Việt Nam có bước cải thiện. Dân số đã có sự phân bố hợp lý hơn, gắn với quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá và yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Công tác tuyên truyền, giáo dục, nhận thức về dân số và kế hoạch hoá gia đình của các cấp, các ngành và toàn dân có bước đột phá. Mỗi cặp vợ chồng có 2 con đang trở thành chuẩn mực trong xã hội. Dịch vụ DS-KHHGĐ được mở rộng, chất lượng ngày càng cao.

Tuy nhiên, công tác DS-KHHGĐ còn nhiều hạn chế: chênh lệch đáng kể về mức sinh giữa các vùng; mất cân bằng giới tính khi sinh tăng nhanh, ở mức nghiêm trọng; thời kỳ dân số vàng và thích ứng với già hoá dân số, mức sinh cao ở nhóm dân số nghèo; chỉ số phát triển con người (HDI) còn thấp; tỉ lệ suy dinh dưỡng, tử vong bà mẹ, trẻ em còn cao; tầm vóc, thể lực của người Việt Nam chậm được cải thiện; tuổi thọ bình quân tăng nhưng số năm sống khoẻ mạnh thấp so với nhiều nước; tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết thống còn phổ biến ở một số dân tộc ít người; phân bố dân số, quản lý nhập cư, di dân còn nhiều bất cập. Việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người di cư và ở nhiều đô thị, khu công nghiệp còn nhiều hạn chế. Công tác truyền thông, giáo dục về dân số ở một số khu vực, nhóm đối tượng hiệu quả chưa cao, vai trò nhà trường còn hạn chế. Nội dung truyền thông, cung cấp dịch vụ chưa toàn diện, chủ yếu tập trung vào KHHGĐ. Một số cơ chế, chính sách về dân số chậm đổi mới. Tổ chức bộ máy thiếu ổn định, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ làm công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình ở cấp cơ sở còn thấp. Chức năng, nhiệm vụ chưa được điều chỉnh phù hợp với diễn biến tình hình dân số. Các nội dung về dân số trong phát triển kinh tế-xã hội còn chưa được chú trọng đúng mức. Nguồn lực đầu tư cho DS-KHHGĐ còn thấp, chưa tương xứng với yêu cầu.

Những hạn chế, yếu kém trên đây có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu: a) Một số cấp uỷ, chính quyền chưa nhận thức đúng và đầy đủ về tính chất lâu dài, khó khăn, phức tạp, tầm quan trọng và ý nghĩa của công tác DS-KHHGĐ; lãnh đạo, chỉ đạo chưa quyết liệt, chưa hiệu quả; b) Trong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ làm công tác dân số vẫn còn nặng về KHHGĐ, chưa chú trọng các mặt cơ cấu, phân bố, chất lượng dân số và tác động qua lại với phát triển; c) Tư tưởng muốn có nhiều con, trọng nam hơn nữ vẫn còn khá phổ biến trong một bộ phận nhân dân, kể cả cán bộ, đảng viên.

Trước thực trạng này, Nghị quyết 21 của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành TW khóa XII đã đưa ra quyết sách chuyển hướng từ DS-KHHGĐ sang Dân số và Phát triển trong tình hình mới. Định hướng này cũng phù hợp với chương trình nghị sự Liên hợp Quốc trong phiên họp thứ 48 “Để hiện thực hóa tương lai, chúng ta cần lồng ghép các vấn đề dân số vào phát triển bền vững, kể cả trong các chương trình nghị sự phát triển sau năm 2015”.

Quan điểm xuyên suốt qua hai Nghị quyết TW về chính sách dân số

Hệ thống các quan điểm chỉ đạo về chính sách dân số của Đảng là xuyên suốt qua hai Nghị quyết TW 4 (1993) và Nghị quyết TW 21 (2017). Hai nghị quyết đều thống nhất 5 quan điểm, tuy nhiên thứ tự và nội dung từng quan điểm có sự thay đổi cho phù hợp với tình hình thực tiễn.

Quan điểm 1 về công tác dân số

Nghị quyết TW 4 nêu: “Công tác DS-KHHGĐ là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế-xã hội hàng đầu của nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và của toàn xã hội”. Sau 25 năm, Nghị quyết TW 21 tiếp tục xác định “ Dân số là yếu tố quan trọng hàng đầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác dân số là nhiệm vụ chiến lược, vừa cấp thiết vừa lâu dài; là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân”. Nghị quyết TW 21 nhấn mạnh thêm dân số là yếu tố quan trọng hàng đầu của sự nghiệp bảo vệ tổ quốc, đồng thời nhấn mạch là nhiệm vụ chiến lược vừa cấp thiết, vừa lâu dài là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân.

Quan điểm 2 về giải pháp cơ bản

Nghị quyết TW 4 xác định “Giải pháp cơ bản để thực hiện công tác DS-KHHGĐ là vận động, tuyên truyền và giáo dục gắn liền với đưa dịch vụ KHHGĐ đến tận người dân; có chính sách mang lại lợi ích trực tiếp cho người chấp nhận gia đình ít con, tạo động lực thúc đẩy phong trào quần chúng thực hiện kế hoạch hoá gia đình”. Quan điểm của Nghị quyết TW 21 nêu rõ “Chính sách dân số phải bảo đảm cân bằng, hài hoà giữa quyền và nghĩa vụ của mọi người dân; giữa việc tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi với thực thi nghiêm kỷ cương pháp luật; giữa việc mở rộng, ứng dụng các kỹ thuật mới với việc nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân”. Qua quan điểm này cho thấy Nghị quyết TW 4 tập trung vận động truyền thông giáo dục gắn liền với dịch vụ đến mọi người dân, Nghị quyết TW 21 đã chuyển đổi tới chính sách dân số phải đảm bảo cân bằng, hài hòa giữa quyền lợi và nghĩa vụ cho mọi người dân. Nâng cao chất lượng dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân.

Quan điểm 3 về đầu tư cho công tác dân số

Nghị quyết TW 4 xác định: “Đầu tư cho công tác DS-KHHGĐ là đầu tư mang lại hiệu quả kinh tế trực tiếp rất cao. Nhà nước cần tăng mức chi ngân sách cho công tác DS-KHHGĐ, đồng thời động viên sự đóng góp của cộng đồng và tranh thủ sự viện trợ của quốc tế”. Theo Nghị quyết TW 21, “Đầu tư cho công tác dân số là đầu tư cho phát triển. Nhà nước ưu tiên bố trí ngân sách, đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá; tranh thủ sự hỗ trợ của quốc tế để bảo đảm nguồn lực cho công tác dân số”. Như vậy, quan điểm về đầu tư cho công tác DS-KHHGĐ được hiểu một cách rộng hơn với sự thay đổi từ ‘mang lại hiệu quả “kinh tế” sang “phát triển”.

Quan điểm 4 về tổ chức bộ máy và huy động nguồn nhân lực  

Nghị quyết TW 4 xác định: “Huy động lực lượng của toàn xã hội tham gia công tác DS-KHHGĐ, đồng thời phải có bộ máy chuyên trách đủ mạnh để quản lý theo chương trình mục tiêu, bảo đảm cho các nguồn lực nói trên được sử dụng có hiệu quả và đến tận người dân”. Nghị quyết TW 21 khẳng định: “Tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với trọng tâm công tác dân số trong từng thời kỳ, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của cấp uỷ, chính quyền các cấp và sự quản lý chuyên môn, nghiệp vụ”. Như vậy, Nghị quyết TW 21 theo hướng cải cách hành chính, xây dựng bộ máy tinh gọn, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả, đặc biệt là phù hợp với trọng tâm công tác dân số trong từng thời kỳ.

Quan điểm 5 về phương châm thực hiện công tác dân số

Nghị quyết hội nghị TW 4 đề ra phương châm: “Để đạt được mục tiêu trong thời gian tương đối ngắn, điều có ý nghĩa quyết định là Đảng và chính quyền các cấp phải lãnh đạo và chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác DS-KHHGĐ theo chương trình”. Nghị quyết TW 21 khẳng định phương châm: “Tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ KHHGĐ sang dân số và phát triển. Công tác dân số phải chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt là chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo đảm phát triển nhanh, bền vững”. Điều này cho thấy bước đột phá về chuyển trọng tâm từ DS-KHHGĐ sang Dân số và Phát triển, đồng thời xác định đầy đủ các vấn đề về dân số và phát triển đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh đảm bảo phát triển nhanh và bền vững nước ta trong thời gian tới.

Mục tiêu của Nghị quyết bước chuyển đổi toàn diện

Trước hết về mục tiêu tổng quát, Mục tiêu của Nghị quyết TW 4 về Chính sách DS-KHHGĐ xác định: “Thực hiện gia đình ít con, khoẻ mạnh, tạo điều kiện để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc”. Mục tiêu của Nghị quyết TW 4 cho thấy trọng tâm là giảm sinh để thực hiện gia đình ít con, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Nghị quyết TW 21 về công tác dân số trong tình hình mới xác định mục tiêu chung: “Giải quyết toàn diện, đồng bộ các vấn đề về quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế-xã hội. Duy trì vững chắc mức sinh thay thế; đưa tỉ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên; tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng, thích ứng với già hoá dân số; phân bố dân số hợp lý; nâng cao chất lượng dân số, góp phần phát triển đất nước nhanh, bền vững”. Mục tiêu chung của Nghị quyết TW 21 cho thấy rõ sự chuyển đổi toàn diện, đồng bộ về tất cả các mặt của công tác dân số trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế để góp phần phát triển đất nước nhanh, bền vững không còn bó hẹp chỉ trong phạm vi đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho các gia đình.

Nghị quyết TW 4 về Chính sách DS-KHHGĐ đưa ra mục tiêu cụ thể: “Mỗi gia đình chỉ có một hoặc hai con, để tới năm 2015 bình quân trong toàn xã hội mỗi gia đình (một cặp vợ chồng) có 2 con, tiến tới ổn định quy mô dân số từ giữa thế kỷ XXI. Tập trung mọi nỗ lực nhằm tạo chuyển biến rõ rệt ngay trong thập kỷ 90 này. Đồng thời cũng xác định về dài hạn là tiến tới ổn định qui mô dân số từ giữa thế kỷ 21. 

Mục tiêu cụ thể đến năm 2030 của Nghị quyết TW 21 về công tác dân số trong tình hình mới gồm:

  1. Duy trì vững chắc mức sinh thay thế (bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 2,1 con), quy mô dân số 104 triệu người.
  2. Giảm 50% chênh lệch mức sinh giữa nông thôn và thành thị, miền núi và đồng bằng; 50% số tỉnh đạt mức sinh thay thế; mọi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đều được tiếp cận thuận tiện với các biện pháp tránh thai hiện đại; giảm 2/3 số vị thành niên và thanh niên có thai ngoài ý muốn.
  3. Bảo vệ và phát triển dân số các dân tộc có dưới 10 nghìn người, đặc biệt là những dân tộc có rất ít người.
  4. Tỉ số giới tính khi sinh dưới 109 bé trai/100 bé gái sinh ra sống; tỉ lệ trẻ em dưới 15 tuổi đạt khoảng 22%; tỉ lệ người từ 65 tuổi trở lên đạt khoảng 11%; tỉ lệ phụ thuộc chung đạt khoảng 49%.
  5. Tỉ lệ nam, nữ thanh niên được tư vấn, khám sức khoẻ trước khi kết hôn đạt 90%; giảm 50% số cặp tảo hôn, giảm 60% số cặp hôn nhân cận huyết thống; 70% phụ nữ mang thai được tầm soát ít nhất 4 loại bệnh tật bẩm sinh phổ biến nhất; 90% trẻ sơ sinh được tầm soát ít nhất 5 bệnh bẩm sinh phổ biến nhất.
  6. Tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi, trong đó thời gian sống khoẻ mạnh đạt tối thiểu 68 năm; 100% người cao tuổi có thẻ bảo hiểm y tế, được quản lý sức khoẻ, được khám, chữa bệnh, được chăm sóc tại gia đình, cộng đồng, cơ sở chăm sóc tập trung.
  7. Chiều cao người Việt Nam 18 tuổi đối với nam đạt 168,5 cm, nữ đạt 157,5 cm. Chỉ số Phát triển con người (HDI) nằm trong nhóm 4 nước hàng đầu khu vực Đông Nam Á.
  8. Tỉ lệ dân số đô thị đạt trên 45%. Bố trí, sắp xếp dân cư hợp lý ở vùng biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn. Bảo đảm người di cư được tiếp cận đầy đủ và công bằng các dịch vụ xã hội cơ bản.
  9. 100% dân số được đăng ký, quản lý trong hệ thống cơ sở dữ liệu dân cư thống nhất trên quy mô toàn quốc.

Đây là một hệ thống 9 mục tiêu toàn diện, đồng bộ để giải quyết các vấn đề dân số Việt Nam trong tình hình mới. Mục tiêu 1 nhằm củng cố vững chắc thành quả thực hiện mục tiêu giảm sinh trong việc thực hiện mục tiêu cụ thể của Nghị quyết TW 4; Mục tiêu 2  là nhằm thực hiện khắc phục các tồn tại khi còn sự chênh lệnh trong việc thực hiện mục tiêu giữa thành thị và nông thôn, giữa các tỉnh, thành phố. Nâng cao chất lượng dịch vụ KHHGĐ. Chú trọng đến nhóm đối tượng thanh niên và vị thành niên trong việc có thai ngoài ý muốn; Mục tiêu 3 chú trọng việc bảo tồn và phát triển các nhóm dân tộc thiểu số còn rất ít người dưới 10 nghìn người); Mục tiêu 4 đề cập vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh bắt đầu xảy ra vào 2006-2007. Mục tiêu này cũng đề cập đến mức độ hài hòa giữa các tỷ lệ phụ thuộc trẻ em và người già và tỷ lệ phụ thuộc chung; Mục tiêu 7 hướng tới các dịch vụ nhằm nâng cao chất lượng dân số như tư vấn khám sức khỏe tiền hôn nhân, nạn tảo hôn, kết hôn cận huyết thống và tầm soát một số loại bệnh tật bẩm sinh phổ biến nhất; Mục tiêu 6 về già hóa dân số, vấn đề này xảy ra từ 2011 khi dân số Việt Nam chính thức bước vào già hóa dân số. Mục tiêu cũng đã đề cập đến vấn đề nâng cao tuổi thọ nhưng cũng chú trọng đến cả chất lượng, tức tuổi thọ bình quân khỏe mạnh; Mục tiêu 7 về nâng cao chất lượng dân số Việt Nam về thể lực, đồng thời cũng chú trọng đến phát triển đồng đều về trình độ học vấn và mức sống thông qua mục tiêu nâng cao chỉ số phát triển con người (HDI); Mục tiêu 8 về phân bố dân cư, đồng thời cũng đề cập đến đảm bảo công bằng các dịch vụ xã hội cơ bản cho nhóm dân số di cư; Mục tiêu 9 nhằm hoàn thành hệ thống quản lý dân cư hiện đại, chuyển đổi từ cách quản lý hành chính sang phương thức quản lý dịch vụ công đem lại quyền cho mọi người dân. 

Qua nghiên cứu các mục tiêu cụ thể của Nghị quyết TW 21, có thể thấy rõ sự chuyển biến toàn diện, đồng bộ về công tác dân số. Từ tập trung vào mục tiêu giảm sinh, công tác DS-KHHGĐ chuyển sang thực hiện một hệ thống gồm 9 mục tiêu cụ thể và đã ấn định thời gian cần hoàn thành vào năm 2030. Trong số 9 mục tiêu này chỉ có mục tiêu 1 là tiếp tục củng cố, duy trì vững chắc mục tiêu giảm sinh trong Nghị quyết TW  4 đã đạt được và vượt mức trong thời gian qua. 8 mục tiêu còn lại đề cập giải quyết toàn điện các vấn đề dân số trong tình hình mới, đặc biệt đây là giai đoạn dân số Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi nhân khẩu học cùng với cải cách toàn diện hướng tới phát triển bền vững.

 

TS. NGUYỄN QUỐC ANH