CÁC NƯỚC CHÂU Á VÀ THÁI BÌNH DƯƠNG CẦN ĐẨY NHANH TIẾN ĐỘ BÌNH ĐẲNG GIỚI ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Đó là nội dung chính của Báo cáo “Bình đẳng giới và các Mục tiêu Phát triển bền vững ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương: Số liệu ban đầu và lộ trình cho sự thay đổi vào năm 2030” do Ngân hàng Phát triển châu Á & Cơ quan Liên Hợp Quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ mới công bố.

Đây là đánh giá toàn diện đầu tiên về tình trạng của phụ nữ và trẻ em gái ở châu Á-Thái Bình Dương theo khuôn khổ các Mục tiêu Phát triển bền vững. Báo cáo này nêu bật những thách thức mà phụ nữ và trẻ em gái đang phải đối mặt và đưa ra giải pháp cải thiện tình hình để đạt được các Mục tiêu Phát triển bền vững (SDGs).

Theo Chương trình nghị sự 2030 về Phát triển bền vững, bình đẳng giới vừa là một mục tiêu độc lập (Mục tiêu số 5), vừa là một ưu tiên trong 16 mục tiêu còn lại về phát triển xã hội, kinh tế và môi trường, chẳng hạn như chấm dứt đói nghèo, đảm bảo giáo dục cho tất cả mọi người. Dựa trên việc đánh giá toàn diện các dữ liệu sẵn có để theo dõi tiến độ về tình trạng của phụ nữ và trẻ em gái khu vực châu Á-Thái Bình Dương, báo cáo cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa việc đạt được Bình đẳng giới và Chương trình nghị sự 2030.

Ông Bambang Susantono, Phó Chủ tịch Ngân hàng Phát triển châu Á về Quản trị tri thức và Phát triển bền vững cho biết: “Bình đẳng giới cần được giải quyết theo cách riêng của nó và là một chất xúc tác cho sự tiến bộ xuyên suốt các Mục tiêu Phát triển bền vững. Những phát hiện và khuyến nghị trong báo cáo tạo cơ hội để xóa bỏ bất bình đẳng giới, thông qua thay đổi mang tính chuyển biến và hỗ trợ tiến bộ hướng tới phát triển bền vững trong mọi khía cạnh: kinh tế, xã hội và môi trường”.

Bà Anna-Karin Jatfors, Giám đốc UN Women khu vực Châu Á-Thái Bình Dương chia sẻ: “Dữ liệu và bằng chứng giúp chúng ta hiểu hơn về việc làm thế nào mà phân biệt đối xử giới và quan hệ quyền lực khiến phụ nữ (hoặc nam giới) không thể hưởng thụ các quyền và đặc quyền nhất định. Vượt qua những bất bình đẳng giới đã hằn sâu không chỉ giúp cải thiện cuộc sống của phụ nữ và trẻ em gái mà còn giúp thế giới trở nên tốt đẹp hơn, trao quyền cho tất cả mọi người để họ nhận ra tiềm năng đầy đủ của mình, có một cuộc sống hạnh phúc và được tôn trọng. Ấn phẩm này cung cấp bằng chứng vô giá để hỗ trợ nỗ lực biến bình đẳng giới và phát triển bền vững thành sự thật cho tất cả mọi người.”

Một số phát hiện chính của báo cáo

  • Mặc dù tỷ lệ tử vong mẹ giảm từ 178 ca xuống 86 ca trên 100.000 ca sinh từ năm 2000 đến 2015, tử vong mẹ vẫn đang là một vấn đề nghiêm trọng do tiến bộ này không đồng đều giữa các quốc gia. Trong năm 2015, gần 92% số ca tử vong mẹ tại khu vực - khoảng 78.000 người - xảy ra ở 12 quốc gia, trong đó Nam Á và Tây Nam Á chiếm tỷ lệ lớn nhất với số lượng ca tử vong cao nhất do dân số đông.
  • Mặc dù số bé gái được sinh ra sống sót nhiều hơn số bé trai, nhưng tỷ lệ giới tính khi sinh ở một số quốc gia trong khu vực vẫn có sự chênh lệch nhất định. Điều này cho thấy tình trạng phân biệt đối xử theo hướng trọng nam khinh nữ đã dẫn đến việc phá thai để chọn giới tính của con, bỏ qua và cố ý giết hại trẻ sơ sinh. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương có số lượng phụ nữ bị mất tích cao nhất trên thế giới.
  • Tỷ lệ nhiễm HIV có xu hướng tăng lên trong khu vực từ năm 2000 đến 2015, từ 23 trường hợp lên 29 trên 100.000 người, và tăng từ 10 lên 13 trường hợp trên 100.000 phụ nữ trong độ tuổi 15-49. Với đặc điểm sinh học của mình, phụ nữ có khả năng bị nhiễm HIV cao hơn, cùng với sự bất bình đẳng về quyền lực trong các mối quan hệ và tình trạng bạo lực đối với phụ nữ đã khiến họ phải đối mặt với một số rủi ro.
  • Mục tiêu 4 có một bộ các chỉ tiêu toàn diện nhằm vượt qua mục tiêu về tỉ lệ trẻ em gái và trẻ em trai đến trường mà hướng đến giáo dục có chất lượng, một vấn đề có ý nghĩa quan trọng về giới nhìn từ góc độ kinh tế. Tuy nhiên vẫn có những khoảng trống về số liệu ở quy mô quốc gia và theo thời gian. Việc phân tách dữ liệu không đầy đủ là một thách thức để hiểu các khía cạnh khác nhau của bất bình đẳng và phân biệt đối xử bên cạnh vấn đề giới (bao gồm tôn giáo, dân tộc và chủng tộc).
  • Số bé gái đạt được trình độ thông thạo môn toán và môn đọc nhiều hơn số bé trai ở hầu hết các quốc gia. Mặt khác, các bé gái ít có khả năng được đi học trước khi tham gia chương trình tiểu học so với các bé trai trongkhu vực.
  • Tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, 22 trong số 28 quốc gia báo cáo đã thực hiện lồng ghép giáo dục giới tính ở cấp trung học, tuy nhiên vẫn thiếu thông tin về chất lượng và nội dung của hoạt động này.
  • Thiếu dữ liệu về giới: Mặc dù châu Á-Thái Bình Dương đã đạt được một số tiến bộ nhất định về bình đẳng giới, những dữ liệu liên quan đến các chỉ số của các SDGs cho thấy rõ vẫn có sự bất bình đẳng đáng kể đối với phụ nữ và trẻ em gái. Hơn nữa, vẫn còn thiếu hụt đáng kể về dữ liệu sẵn có và khả năng so sánh dữ liệu trong khu vực.

Chẳng hạn như thiếu dữ liệu về 41% hay 36 trong số 85 chỉ số Phát triển bền vững về giới. Báo cáo nhấn mạnh tính khẩn cấp của việc cải thiện việc xây dựng và sử dụng các số liệu thống kê về giới để thực hiện và giám sát các Mục tiêu Phát triển bền vững ở cấp quốc gia. Báo cáo sử dụng dữ liệu sẵn có tại 57 quốc gia và vùng lãnh thổ, giúp thiết lập cơ sở để các chính phủ giám sát và tập trung nỗ lực vào các cam kết bình đẳng giới mà họ đang tụt hậu nhất.

Trong số 85 chỉ số SDGs có liên quan đến giới được sử dụng trong báo cáo này, chỉ có 26% chỉ số là có thể tiếp cận được ở hơn 2/3 quốc gia hoặc vùng lãnh thổ trong khu vực, và 41% số chỉ số không có dữ liệu liên quan ở cấp khu vực. Chỉ có 3 trên tổng số 14 chỉ số của Mục tiêu 5 được phân loại là “Cấp I" với dữ liệu được cập nhật thường xuyên theo phương pháp luận thống nhất, tuy nhiên dữ liệu cấp khu vực hiện có chỉ đáp ứng được một trong ba chỉ số này. 11 chỉ số khác của mục tiêu 5 được phân loại thành "Cấp II" hoặc "Cấp III" bởi dữ liệu không được các quốc gia thu thập thường xuyên, hoặc các chỉ số này vẫn đang trong xây dựng nội dung hoặc phương pháp luận. Như vậy, cần nhiều nỗ lực hơn nữa để đẩy mạnh công tác giám sát bình đẳng giới trong các SDGs.

Vẫn còn sự bất bình đẳng đáng kể với phụ nữ và trẻ em gái

Báo cáo cho thấy, trong khi khu vực Châu Á-Thái Bình Dương đã có những tiến bộ trong một số lĩnh vực bình đẳng giới, vẫn còn có sự bất bình đẳng đáng kể đối với phụ nữ và trẻ em gái. Ví dụ:

- Ở các quốc gia có số liệu trong khu vực, cứ hai phụ nữ thì có một người từng bị bạo lực thể chất và/hoặc bạo lực tình dục do bạn tình gây ra trong 12 tháng gần nhất.

- Về việc tiếp cận nguồn lực kinh tế và sản xuất, khả năng tiếp cận của phụ nữ đến các dịch vụ tài chính và đầu vào sản xuất, bao gồm đất đai, vốn, dịch vụ khuyến nông, chương trình đào tạo, và công nghệ thông tin thấp hơn so với nam giới.

- Nam Á và Tây Nam Á có tỷ lệ kết hôn trẻ em cao nhất trong khu vực và trên thế giới, trong đó cứ 3 phụ nữ thì có 1 người kết hôn hoặc sống chung với bạn tình vào năm 18 tuổi.

- Phụ nữ và trẻ em gái dành thời gian nhiều hơn gấp 11 lần so với nam giới và trẻ em trai thực hiện công việc chăm sóc không được trả công và công việc nội trợ, bao gồm nấu ăn, dọn dẹp, đi lấy nước và nhiên liệu.

- Vai trò lãnh đạo và đại diện của phụ nữ trong việc ra quyết định vẫn còn hạn chế: dưới 1/5 đại biểu quốc hội là nữ.

- Tăng trưởng kinh tế trong khu vực không mang lại lợi ích công bằng cho phụ nữ và nam giới. Châu Á-Thái Bình Dương là khu vực duy nhất mà sự tham gia lực lượng lao động của phụ nữ giảm từ 56% năm 1990 xuống 49% năm 2013. Ở một nửa các nước châu Á-Thái Bình Dương, số phụ nữ tham gia các công việc phi nông nghiệp không chính thức nhiều hơn nam giới. Ngay cả trong cáccông việc chính thức, họ kiếm được ít tiền hơn so với nam giới rất nhiều. Trẻ em gái dưới 15 tuổi chiếm phần lớn trong số những người phải sống trong các khu ổ chuột. Việc thiếu nhà ở và không được đảm bảo về nơi ở làm tăng khả năng bị bóc lột và lạm dụng trẻ em gái.

- Phụ nữ có nguy cơ trở thành nạn nhân buôn người cao hơn so với nam giới. Năm trong số tám quốc gia trong khu vực có dữ liệu về nạn buôn người ở cả nam và nữ từ 18 tuổi trở lên, tỷ lệ nạn nhân nữ trong số 100.000 dân cao hơn so với nam giới. Đối với trẻ em, ở cả năm quốc gia này cho thấy, trẻ em gái là đối tượng dễ bị tổn thương hơn so với trẻ em trai.

- Về việc tiếp cận nguồn lực kinh tế và sản xuất, khả năng tiếp cận của phụ nữ đến các dịch vụ tài chính và đầu vào sản xuất, bao gồm đất đai, vốn, dịch vụ khuyến nông, chương trình đào tạo, và công nghệ thông tin thấp hơn so với nam giới.

Về các cơ hội kinh tế và nghề nghiệp

Phụ nữ châu Á-Thái Bình Dương ít được tiếp cận hơn với các dịch vụ tài chính và công cụ sản xuất. Trong khi đó, so với các bé trai, các bé gái ít có cơ hội được học tập bài bản trước bậc tiểu học. Châu Á-Thái Bình Dương là khu vực duy nhất trên toàn cầu có sự chênh lệch giới ngày càng gia tăng trong lực lượng lao động. Phụ nữ cũng ít hiện diện hơn trong các vị trí ra quyết định và lãnh đạo.

Bốn lĩnh vực chính sách mà các nước cần tập trung

Để giải quyết những vấn đề liên quan tới bình đẳng giới và thúc đẩy tiến độ hướng tới các Mục tiêu Phát triển bền vững trong khu vực, báo cáo nêu bật 4 lĩnh vực chính sách mà các nước cần tập trung bao gồm: (i) Thúc đẩy quyền về sức khỏe sinh sản và tình dục; (ii) Giảm thiểu và phân bố lại các công việc chăm sóc không được trả lương và việc nhà; (iii) Chấm dứt bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái; (iv) và Trao quyền cho phụ nữ để đối phó với biến đổi khí hậu và rủi ro thiên tai. Bằng cách đầu tư vào các lĩnh vực này, các nước trong khu vực sẽ không chỉ cải thiện cuộc sống của phụ nữ và trẻ em gái, mà còn đẩy nhanh tiến độ đạt được các Mục tiêu phát triển bền vững.

Bốn lĩnh vực này có liên quan chặt chẽ đến quá trình phát triển bền vững trong khu vực, nhấn mạnh bản chất tích hợp mạnh mẽ các Mục tiêu Phát triển Bền vững, và có khả năng tạo ra sự thay đổi tích cực thông qua các Mục tiêu, cũng như thay đổi cuộc sống của phụ nữ và trẻ em gái. Thất bại trong việc giải quyết bốn lĩnh vực quan trọng này sẽ có nguy cơ dẫn đến thất bại trong việc hiện thực hóa một số SDGs và thậm chí cả Chương trình Nghị sự.

  1. Thúc đẩy quyền về sức khỏe sinh sản và tình dục

Công nhận quyền và chăm sóc sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản của phụ nữ là động lực để đạt được phát triển bền vững. Khả năng tự quyết định của phụ nữ và trẻ em gái trong vấn đề sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản của chính họ là vô cùng quan trọng trong việc đạt được bình đẳng giới và phát triển bền vững. Báo cáo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp, cũng như mối liên hệ giữa thực hiện hóa chăm sóc và quyền về sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục (Mục tiêu 5) và quá trình thực hiện các SDGs khác trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Thúc đẩy quyền và chăm sóc sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản của phụ nữvà trẻ em gái giúp tạo điều kiện thuận lợi để phụ nữ và trẻ em gái được hưởng các cơ hội kinh tế và xã hội khác. Giảm tình trạng mang thai ngoài ý muốn, tiết kiệm chi phí gia đình và tăng hiệu quả sản xuất giúp cải thiện sức khỏe bà mẹ và trẻ em (Mục tiêu 3), dinh dưỡng (Mục tiêu 2), mức sống của hộ gia đình (Mục tiêu1) và giáo dục (Mục tiêu 4). Điều này cũng sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn cho cộng đồng và nền kinh tế nói chung.

Đảm bảo tiếp cận phổ cập đến quyền và dịch vụ sức khỏe sinh sản và tình dục trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương bao gồm đáp ứng nhu cầu tránh thai hiện đại, cải thiện tiếp cận các phương pháp nạo phá thai an toàn, tăng cường các quyền và chăm sóc về sức khỏe sinh sản của thanh thiếu niên và những cộng đồng bị thiệt thòi, cũng như phòng chống HIV/AIDS. Khả năng tự quyết về sức khỏe sinh sản và sử dụng các phương pháp tránh thai hiện đại cũng giúp nâng cao quyền năng cho phụ nữ. Mặc dù các biện pháp tránh thai hiện đại đang ngày một phổ biến ở châu Á-Thái Bình Dương, nhưng khoảng cách giữa tỷ lệ sinh thực tế và tỷ lệ sinh mong muốn (ở những quốc gia có dữ liệu như Pakistan, Samoa và Vanuatu) cho thấy nhu cầu kế hoạch hóa gia đình của phụ nữ trong khu vực vẫn chưa được đáp ứng đầy đủ. Không chỉ vậy, bằng chứng cũng cho thấy khi việc phá thai được hợp pháp hóa, các dịch vụ cho phụ nữ cũng an toàn và dễ tiếp cận hơn, góp phần vào việc cải thiện sức khỏe nói chung. Tuy nhiên, trong năm 2014, ước tính khoảng 6% trường hợp tử vong mẹ ở châu Á là do phá thai không an toàn. Chỉ có 18 quốc gia cho phép phá thai theo yêu cầu, nhưng ngay cả khi được phép, nhiều phụ nữ trong khu vực vẫn không tiếp cận được các dịch vụ phá thai an toàn.

Các yếu tố dẫn đến tình trạng mang thai ngoài ý muốn trong độ tuổi thanh thiếu niên, bao gồm thiếu giáo dục giới tính toàn diện, các khuôn mẫu về giới và bất bình đẳng trong quan hệ quyềnlực đã hạn chế khả năng thương lượng về tình dục an toàn của trẻ em gái vị thành niên. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ mang thai cao trong độ tuổi vị thành niên, đặc biệt ở Nam Á, đó là tình trạng kết hôn sớm. Bangladesh có tỷ lệ kết hôn trẻ em cao nhất, với 52% trẻ em gái kết hôn trước tuổi 18. Việc diễn giải mang tính bảo thủ về văn hóa và tôn giáo đã bị lợi dụng nhằm củng cố vai trò giới truyền thống (đặc biệt là vai trò của phụ nữ và trẻ em gái trong gia đình, quyền về cơ thể và tình dục của họ) tiếp tục là một thách thức trong khu vực.

  1. Giảm thiểu và phân bố lại các công việc chăm sóc không được trả lương và việc nhà

Một trong những hạn chế nổi bật về nâng cao quyền năng kinh tế của phụ nữ đó là sự phân chia không đồng đều các công việc không được trả công giữa phụ nữ và nam giới. Tại bốn quốc gia châu Á (Bangladesh, Trung Quốc, Mông Cổ và Pakistan), có khoảng 90% phụ nữ thực hiện các công việc chăm sóc và nội trợ không được trả công, so với 31% đến 75% nam giới. Tái phân chia khối lượng công việc chăm sóc và nội trợ giữa phụ nữ và nam giới (Mục tiêu 5) sẽ mở ra tiềm năng kinh tế và đẩy mạnh các mục tiêu phát triển khác, bao gồm tăng thêm thời gian cho phụ nữ tham gia vào các hoạt động và cơ hội kinh tế và việc làm thoả đáng (Mục tiêu 8), tham gia vào giáo dục (Mục tiêu 4) vào công tác chính trị và lãnh đạo (Mục tiêu 5), và có thêm nhiều thời gian giải trí và chăm sóc bản thân. Hơn 20% phụ nữ trong khu vực chia sẻ rằng sự cân bằng giữa công việc và gia đình là một thách thức lớn để họ có thể tham gia vào lực lượng lao động. Khoảng 83% phụ nữ Bangladesh và 73% phụ nữ Pakistan cho rằng trách nhiệm làm các công việc nội trợ là lý do chính khiến họ không tham gia vào công việc được trả lương. Ngoài việc hạn chế sự tham gia của phụ nữ vào thị trường lao động, các công việc chăm sóc và nội trợ không được trả lương cũng ảnh hưởng tới xu hướng lựa chọn loại hình công việc, chất lượng công việc và mức lương của phụ nữ. Các phân tích xuyên quốc gia trong khu vực cho thấy ở các quốc gia có tỷ lệ phụ nữ tham gia vào các công việc chăm sóc không được trả công cao hơn thường có tỷ lệ phụ nữ làm các công việc bán thời gian và công việc dễ tỗn thương cao hơn. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng và dịch vụ (Mục tiêu 9) sẽ giúp giảm bớt gánh nặng công việc chăm sóc và nội trợ không được trả công của phụ nữ và trẻ em gái, đồng thời tạo thêm nhiều lựa chọn cho phụ nữ và trẻ em gái trong việc thoát nghèo cho bản thân và giúp gia đình thoát nghèo (Mục tiêu 1).

Làm cho công việc chăm sóc không được trả công trở nên hữu hình hơn thông qua các số liệu thống kê là việc quan trọng cần phải làm. Dữ liệu về sử dụng thời gian có thể thể hiện chi tiết cách thức và khoảng thời gian một cá nhân dành cho những công việc được trả công và công việc không được trả công. Tuy nhiên, chưa đến một nửa số nước trong khu vực thu thập ít nhất một lần dữ liệu về thời gian và chỉ có sáu quốc gia đã tiến hành lồng ghép các cuộc điều tra sử dụng thời gian vào trong các hệ thống thống kê và thu thập dữ liệu định kỳ ở cấp quốc gia.

Những thay đổi về nhân khẩu học của khu vực đã tạo ra một số khía cạnh mới cho vấn đề liên quan đến dịch vụ chăm sóc và y tế bởi con người giờ đây có tuổi thọ cao hơn, nhu cầu chăm sóc cũng cao hơn, đồng thời tạo thêm nhiều áp lực đối với các ngành dịch vụ y tế. Thay đổi về nhân khẩu học diễn ra trong bối cảnh các mô hình đô thị hóa và di cư có xu hướng làm thay đổi nhanh chóng lưới an sinh của các hộ gia đình với vai trò là nơi chăm sóc truyền thống. Như vậy, đầu tư vào các dịch vụ chăm sóc với giá cả có khả năng chi trả, dễ tiếp cận và có chất lượng cho trẻ em, người khuyết tật và người cao tuổi là ưu tiên mang tính cấp bách nhằm giảm thiểu và phân phối lại công việc chăm sóc không được trả lương, những công việc chủ yếu do phụ nữ thực hiện.

(iii) Chấm dứt bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái – một ưu tiên xuyên suốt cho sự phát triển bền vững

Chấm dứt bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái đồng nghĩa với việc giải quyết hình thức bất bình đẳng giới và sự phân biệt đối xử nghiêm trọng nhất - nguyên nhân khiến cho các quyền lợi cơ bản và cơ hội phát triển của phụ nữ và trẻ em gái bị tước đoạt. Giải quyết tình trạng bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái sẽ tạo nhiều cơ hội cho phụ nữ được hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông (Mục tiêu 4), tham gia vào việc làm được trả công (Mục tiêu 8), và tăng mức thu nhập (Mục tiêu 1), cũng như giúp họ giảm tính dễ bị tổn thương về mặt kinh tế và xã hội. Hơn nữa, việc này sẽ làm giảm rủi ro phải chịu những tổn hại về thể chất mà có thể gây ra ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của phụ nữ (Mục tiêu 3). Bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái nơi công cộng, đặc biệt là bạo lực và quấy rối tình dục vẫn đang diễn ra hàng ngày (Mục tiêu 11).

Dựa trên dữ liệu của 39 quốc gia, bạo lực gây ra bởi bạn tình là một dạng bạo lực phổ biến nhất trong khu vực. Tỷ lệ phổ biến của bạo lực thể chất và/hoặc bạo lực tình dục gây ra bởi bạn tình là từ 6,1% ở Singapore đến 67,6% ở Kiribati. Một số quốc gia có tỷ lệ bạo lực cao nhất nằm ở khu vực Thái Bình Dương. Bạo lực gia đình/bạo lực gây ra bởi bạn tình là nguyên nhân chính dẫn đến cái chết của nhiều phụ nữ, với gần một nửa số nạn nhân nữ (47%) so với 6% nạn nhân nam bị giết hại bởi một thành viên trong gia đình hoặc bạn tình (Mục tiêu 16). Số liệu về các vụ bạo lực đối với người đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính, chuyển giới, đồng tính và song tính (LGBTQI) thường không được lưu trữ trong hệ thống tại khu vực.

Tư tưởng và khuôn mẫu xã hội cố hữu liên quan đến vai trò giới là một trong những nguyên nhân chính đằng sau tình trạng bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái. Nâng quyền năng cho phụ nữ và trẻ em gái, và kêu gọi nam giới tham gia hành động, chính là chìa khóa để giải quyết vấn đề này. Những chuẩn mực về nam tính được tạo ra bởi xã hội đóng vai trò trung tâm dẫn đến bạo lực, và nam giới có vai trò tích cực trong việc thay đổi những chuẩn mực đó.

Nghiên cứu cho thấy trong nhiều xã hội, cả nam giới và phụ nữ, người trẻ tuổi và người cao tuổi dùng những chuẩn mực này để giải thích và hợp lý hóa hành vi bạo lực với vợ mình. Các lĩnh vực can thiệp đầy hứa hẹn trong việc ngăn chặn bạo lực trong khu vực bao gồm: huy động cộng đồng để trao quyền năng cho phụ nữ và kêu gọi nam giới tham gia thay đổi các khuôn mẫu và chuẩn mực giới ở cấp cộng đồng; ưu tiên giáo dục và lôi cuốn sự tham gia của thanh niên để ngăn chặn bạo lực trong trường học; và sử dụng chính sách và cải cách tư pháp để giải quyết bất bình đẳng có tính hệ thống.

(iv) Trao quyền cho phụ nữ để đối phó với biến đổi khí hậu và rủi ro thiên tai

Nâng cao quyền năng của phụ nữ trong công tác ứng phó với biến đổi khí hậu và giảm nhẹ rủi ro thiên tai hướng tới phát triển bền vững châu Á-Thái Bình Dương là khu vực dễ bị tổn thương nhất bởi biến đổi khí hậu và tác động của thiên tai.

Các thảm họa liên quan đến khí hậu hiện chiếm hơn 80% tống số các thảm họa trong khu vực. Phụ nữ và trẻ em gái bị ảnh hưởng nghiêm trọng hơn cả do bất bình đẳng giới và những bất lợi về kinh tế-xã hội. Ở những nơi có dữ liệu phân tách giới, tỷ lệ tử vong của phụ nữ trong các thảm họa nghiêm trọng cao hơn nam giới, ví dụ tử vong phụ nữ chiếm 77% do trận sóng thần ở Indonesia năm 2004 và 96% do trận lũ năm 2014 ở quần đảo Solomon. Sinh kế của phụ nữ và trẻ em gái đặc biệt phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên và nhạy cảm với khí hậu (Mục tiêu 1) và chiếm phần lớn trong số đối tượng bị ảnh hưởng bởi an ninh lương thực (Mục tiêu 2).

Những nông dân và ngư dân là phụ nữ thường ít có năng lực thích ứng với tác động của biến đổi khí hậu và thiên tai, bao gồm những ảnh hưởng tiêu cực đối với nguồn nước về số lượng và chất lượng (Mục tiêu 6) và nguồn tài nguyên biển và ven biển (Mục tiêu 14), do thiếu kiến thức, quyền tiếp cận và quản lý đất đai cũng như các tài nguyên sản xuất khác (Mục tiêu 5). Trách nhiệm thực hiện các công việc chăm sóc và nội trợ không được trả công của phụ nữ (Mục tiêu 5) có xu hướng tăng do tác động của khí hậu. Trong và sau thiên tai, nhiều phụ nữ và trẻ em gái phải đối mặt với nguy cơ bạo lực cao hơn, và thậm chí sẽ còn nghiêm trọng hơn do tình trạng di cư do thiên tai, ví dụ trong trận lũ năm 2010 ở Pakistan.

Phụ nữ là một nhân tố quan trọng để tạo ra sự thay đổi. Vai trò của phụ nữ trong việc giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu cần được tăng cường hơn nữa. Để làm được điều này, một trong những việc cần thực hiện đó là đầu tư mạnh mẽ hơn vào công tác thu thập dữ liệu và bằng chứng để từ đó cải thiện việc lập kế hoạch, theo dõi và thực hiện hành động ứng phó với biến đổi khí hậu có trách nhiệm giới. Bên cạnh đó dữ liệu phân tách giới về nhóm dân số bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bao gồm tỷ lệ tử vong, cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng. Phụ nữ cần được trao quyền với vai trò là người thực hiện chính trong ứng phó với biến đổi khí hậu, được trang bị đầy đủ năng lực phòng chống, chuẩn bị, và phục hồi sau thiên tai và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, ví dụ như tham gia tích cực vào hệ thống cảnh báo sớm, quản lý hệ sinh thái và đất đai một cách bền vững, tiếp cận các dịch vụ và sản phẩm phục hồi sau thiên tai như bảo hiểm vi mô. Các hành động cần thiết khác bao gồm khuyến khích sự tham gia mạnh mẽ của phụ nữ vào lĩnh vực năng lượng tái tạo và sử dụng năng lượng hiệu quả, và đảm bảo rằng phụ nữ được hưởng lợi từ việc mở rộng cơ hội công việc xanh (ví dụ, doanh nghiệp xây hầm khí biogas do phụ nữ đứng đầu tại Việt Nam), cũng như lồng ghép giới vào lĩnh vực tài chính khí hậu.

Lộ trình và các hành động chính sách để tạo ra sự thay đổi mang tính chuyển biến Báo cáo tổng hợp các khuyến nghị quan trọng tập trung vào các vấn đề bình đẳng giới sẽ được giải quyết như thế nào, thông qua các SDGs nhằm hiện thực hóa Chương trình Nghị sự 2030.

Báo cáo đề xuất các hành động chính sách quan trọng trong các lĩnh vực nhằm thúc đẩy phương pháp tiếp cận có nhạy cảm giới trong theo dõi và thực hiện các SDGs ở cấp địa phương và cấp quốc gia. Những hành động này đòi hỏi sự thay đổi cơ bản theo hướng tiếp cận phát triển mà ở đó có ghi nhận sự kết hợp và liên kết giữa việc thực hiện các SDGs với bình đẳng giới và trao quyền năng cho phụ nữ. Các tổ chức và cơ quan địa phương có trách nhiệm giới thực hiện lồng ghép và ưu tiên bình đẳng giới như là vấn đề xuyên suốt trong các lĩnh vực chính sách khác nhau.

- Địa phương hóa Chương trình Nghị sự 2030 thông qua quy trình lập kế hoạch ở cấp quốc gia và địa phương, bao gồm việc áp dụng các chỉ tiêu và chỉ số cụ thể dựa trên cơ sở giới ở cấp quốc gia với hệ thống giám sát và đánh giá hiệu quả.

- Thể chế hóa các cơ chế phối hợp quốc gia bao gồm nhiều bên liên quan khác nhau (như chính phủ, tổ chức công và tư nhân, xã hội dân sự và các nhóm phụ nữ), thiết lập quan hệ đối tác và sử dụng phương pháp tiếp cận mới để hỗ trợ tiến trình bình đẳng giới trong các lĩnh vực. Ví dụ, Thái Lan đã thành lập Ủy ban Quốc gia về Phát triển bền vững. Tương tự, Azerbaijan đã thành lập Hội đồng Điều phối Quốc gia về Phát triển Bền vững, và Hội đồng này đã tổ chức tham vấn với nhiều bên liên quan, bao gồm các tổ chức xã hội dân sự của phụ nữ. Đảm bảo sự tham gia tích cực và bình đẳng, tính đại diện và vai trò lãnh đạo của phụ nữ ở tất cả các cấp.

- Tăng cường tiếng nói và sự đại diện của phụ nữ trong quá trình đưa ra quyết định nhằm đề ra các ưu tiên cho từng SDGs của quốc gia, cũng như trong việc giám sát và thực hiện các SDGs. Điều này đặc biệt cần có sự tham gia của phụ nữ thuộc nhóm yếu thế, ví dụ như trong quá trình phân tích giới trong các báo cáo rà soát quốc gia tự nguyện, hay quá trình quản lý tài nguyên có trách nhiệm giới để thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm thiểu rủi ro thiên tai (Chương 6).

Tăng cường đầu tư và hỗ trợ tài chính

  • Tăng cường lập ngân sách đáp ứng giới có sự tham gia, kiểm toán xã hội và giải trình công khai để thúc đẩy minh bạch và trách nhiệm giải trình đối với các quyết định chi tiêu đã được đưa ra, cũng như để đánh giá tác động giới của các quyết định đó.
  •  Đưa bình đẳng giới trở thành ưu tiên trong việc huy động nguồn lực trong nước. Các chính sách kinh tế vĩ mô, bao gồm chính sách thuế, quản lý chi tiêu và nợ công, ảnh hưởng trực tiếp đến các nguồn lực hiện có cho mục tiêu bình đẳng giới. Ví dụ, Chính phủ Sri Lanka đã giảm chi tiêu quốc phòng và an ninh để tăng chi tiêu cho mục tiêu xã hội.
  •  Thu hút khu vực tư nhân tham gia tài trợ và triển khai Chương trình Nghị sự 2030, tuân thủ các chuẩn mực về quyền con người, các tiêu chuẩn về môi trường và lao động trong hoạt động kinh doanh. Xóa bỏ sự phân biệt đối xử trong khung pháp lý và thúc đẩy sự thay đổi các chuẩn mực xã hội.
  •  Cần đảm bảo tính toàn diện của hiến pháp và khung pháp lý nhằm đảm bảo bình đẳng giới và xóa bỏ các quy định có tính phân biệt đối xử về giới. Ví dụ, luật pháp quốc gia nên cấm việc thực hiện những hành vi vi phạm quyền về sức khỏe sinh sản và tình dục của phụ nữ và trẻ em gái, như yêu cầu phải có sự đồng ý của cha mẹ hoặc vợ chồng khi sử dụng dịch vụ y tế, hay việc cấm kết hôn sớm hoặc cưỡng ép kết hôn (Chương 3); luật pháp và các Kế hoạch Hành động Quốc gia cần được thông qua nhằm hình sự hóa mọi hình thức bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái, bao gồm việc xâm hại tình dục trong hôn nhân (Chương 5). Tương tự, các luật bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ đối với nguồn lực và tài sản phục vụ cho sản xuất, bao gồm các quyền thừa kế, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao quyền năng kinh tế của phụ nữ (Chương 4).
  •  Thay đổi các chuẩn mực và thực hành có tính phân biệt đối xử để thúc đẩy bình đẳng giới. Điều này đã được nhấn mạnh trong cả bốn lĩnh vực chính sách. Ví dụ, thay đổi chuẩn mực xã hội về vai trò truyền thống của gia đình có thể dẫn đến sự cởi mở hơn trong tái phân phối trách nhiệm thực hiện các công việc chăm sóc người cao tuổi không được trả công, đặc biệt là tái phân phối lại các công việc không lương này của các thành viên nữ trong gia đình cho những người cung cấp dịch vụ mất phí từ bên ngoài. Việc này có thể được thực hiện thông qua các chính sách của chính phủ, chẳng hạn như trường hợp Nhật Bản và Hàn Quốc (Chương 4). Tương tự như vậy, kêu gọi sự tham gia của nam giới cũng là một chiến lược hiệu quả để thay đổi các chuẩn mực xã hội để ngăn chặn bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái (Chương 5).

Đẩy mạnh việc thu thập dữ liệu, phân tích và sử dụng dữ liệu và thống kê về giới.

  •  Cải thiện chính sách và môi trường pháp lý hướng tới thống kê về giới, bao gồm phân tách dữ liệu để hiểu rõ hơn các vấn đề xuyêt suốt có liên quan đến bất bình đẳng giới (như tuổi tác, sắc tộc, xu hướng tình dục và vị trí địa lý) để đảm bảo “không ai bị bỏ lại phía sau”, đặc biệt là nhóm phụ nữ và trẻ em gái yếu thế.
  •  Tăng cường năng lực của hệ thống thống kê quốc gia và hợp tác giữa các cơ quan thống kê quốc gia, các tổ chức phụ nữ và các nhà hoạch định chính sách, đảm bảo chất lượng và tính toàn diện của dữ liệu, thông qua phát triển phương pháp luận, phổ biến dữ liệu và sử dụng dữ liệu để tác động đến quá trình xây dựng chính sách và trách nhiệm giải trình của các nhà hoạch định chính sách.

 Xác định nguồn dữ liệu mới, bao gồm "nguồn siêu dữ liệu" với tiềm năng đầy hứa hẹn nhằm khắc phục những thiếu sót trong việc thu thập dữ liệu và những thông tin chi tiết về các lĩnh vực không thể đo lường khác.

THẢO VÂN
Nguồn: ADB và UN Women (2018), Bình đẳng giới và các Mục tiêu Phát triển bền vững ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương: Số liệu ban đầu và Lộ trình cho sự thay đổi vào năm 2030.