CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYỀN QUYẾT ĐỊNH GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG GIA ĐÌNH NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

Mở đầu Quyền quyết định là một chỉ báo quan trọng về địa vị và quyền lực của vợ và chồng trong gia đình. Việc tham gia vào các quyết định của gia đình giúp người vợ khẳng định được vị trí của bản thân trong gia đình, khẳng định được vai trò của họ trong tiến trình phát triển chung của gia đình.

Trên cơ sở hai bộ số liệu về “Hôn nhân xuyên biên giới với phát triển xã hội ở các tỉnh miền núi nước ta hiện nay” do Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới thực hiện năm 2014 và “Nghiên cứu giới và gia đình” do Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội triển khai năm 2012, bài viết nhằm tìm hiểu các yếu tố tác động đến quyền quyết định giữa vợ và chồng trong gia đình người dân tộc thiểu số thông qua việc sử dụng phương pháp phân tích hồi quy đa biến, gồm: (i) Các yếu tố tác động đến việc người vợ là người quyết định chính một số công việc trong gia đình và (ii) Các yếu tố tác động đến việc người chồng là người quyết định chính công việc sản xuất/kinh doanh của hộ gia đình.

Các yếu tố tác động đến việc người vợ là người quyết định chính một số công việc trong gia đình

Quyền quyết định của vợ và chồng trong các công việc gia đình phản ánh mối quan hệ quyền lực giữa hai giới đồng thời thể hiện vị thế của người vợ và người chồng trong gia đình. Nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến quyền quyết định của người vợ và người chồng trong các gia đình dân tộc thiểu số nhằm tìm hiểu và thúc đẩy các biện pháp tăng cường cơ hội có tiếng nói, và tham gia bình đẳng của người vợ trong tương quan với người chồng trong các quyết định liên quan đến đời sống gia đình.

Lý thuyết phân bổ nguồn lực tương đối cho rằng giữa vợ và chồng ai có nhiều nguồn lực hơn sẽ có nhiều quyền lực hơn trong gia đình. Sự tham gia của người vợ và người chồng vào quá trình ra quyết định đối với các công việc của gia đình phản ánh cán cân quyền lực giữa họ. Các nguồn lực thường được đo bằng trình độ học vấn, thu nhập và uy tín nghề nghiệp mà người đó đang làm. Tuy nhiên, lý thuyết này không tính đến việc một số quyết định thường dựa trên cơ sở những thuận lợi vốn có hơn là khả năng có/sở hữu hay tiếp cận được nguồn lực hay không. Ví dụ, việc quyết định các chi tiêu hàng ngày thường thuộc về phụ nữ chỉ vì họ chứng tỏ được mình là người giỏi hơn trong việc mua bán. Lý thuyết này cũng bỏ qua ảnh hưởng yếu tố văn hoá tới tiếng nói của phụ nữ và nam giới trong các quyết định gia đình. Vì thế, cách tiếp cận tương đối văn hóa trong phân tích các yếu tố tác động đến quyền quyết định của người vợ và người chồng trong gia đình được sử dụng trong phân tích này. Lý giải về quyền quyết định của người vợ và người chồng trong gia đình, yếu tố văn hóa (thường được thể hiện qua sự khác biệt về dân tộc trong cộng đồng, phong tục tập quán, những đặc trưng về lịch sử/văn hóa) có vai trò quan trọng. Vì những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến việc giữa vợ và chồng ai là người có quyền lực hơn, ai được quyết định cuối cùng các vấn đề trong gia đình hơn, và ai dễ dàng thương thuyết hơn trong việc đưa ra các quyết định liên quan đến các công việc trong gia đình. Cách tiếp cận theo quan điểm giới cũng được nhóm nghiên cứu vận dụng vào tìm hiểu sự tác động của các yếu tố đến khả năng người vợ là người quyết định chính một số công việc liên quan đến hoạt động phân công công việc trong gia đình người dân tộc thiểu số. Từ quan điểm giới, cho thấy, người có quan điểm giới trung hoà sẽ bình đẳng hơn trong việc đưa ra quyết định trong gia đình so với những người có quan điểm truyền thống về vai trò giới. Trong phần phân tích này, yếu tố quan niệm giới về phân công lao động và quyền quyết định trong gia đình được dùng để phân tích gián tiếp tư tưởng giới.

Trong bài viết này, biến số phụ thuộc “số các công việc trong gia đình mà người vợ là người quyết định chính“ của mô hình hồi quy đa biến với thủ tục MCA được thiết kế dựa trên nguồn số liệu của Nghiên cứu giới và gia đình Việt Nam năm 2012. Biến số này được xây dựng trên cơ sở 11 công việc gia đình bao gồm: chi tiêu hàng ngày; mua bán xây sửa nhà cửa/đất đai; mua sắm đồ dùng, trang thiết bị tài sản đắt tiền; tổ chức giỗ/tết; ma chay/cưới xin; các quan hệ họ mạc; các quan hệ cộng đồng; việc học hành của các thành viên trong gia đình; công ăn việc làm của các thành viên trong gia đình; chăm sóc sức khỏe/khám chữa bệnh; phân công công việc trong gia đình. Số lượng trung bình các công việc mà chỉ người vợ tham gia quyết định là 1,8/11 công việc. Kết quả bảng 1, thể hiện các yếu tố ảnh hưởng đến số công việc gia đình mà chỉ người vợ tham gia quyết định. Lý thuyết phân bổ nguồn lực tương đối, quan điểm giới và cách tiếp cận theo tương đối văn hóa được sử dụng để xây dựng mô hình hồi quy này.

Hệ biến số độc lập được xây dựng gồm có: (i) Các biến số can thiệp: địa bàn sinh sống; hiện sống cùng bố mẹ; số năm kết hôn; mức sống gia đình. (ii) Các biến số đo nguồn lực của người phụ nữ và của gia đình: người đóng góp thu nhập cao hơn; nghề nghiệp của người vợ; nghề nghiệp của người chồng. (iii) Biến số văn hóa: Dân tộc. (iv) Biến số quan điểm giới: quan niệm giới về phân công lao động và quyền quyết định trong gia đình. Kết quả phân tích mô hình hồi quy được thể hiện ở bảng 1. Tác động của mỗi yếu tố thể hiện qua mức sai khác của các giá trị so với giá trị trung bình chung các công việc mà chỉ người vợ tham gia quyết định (giá trị trung bình chung là 1,8).

Bảng 1. Mô hình hồi quy sự tác động của các biến số đến số công việc gia đình mà người vợ là người quyết định chính (thủ tục MCA)

Biến độc lập

Số lượng

Do ảnh hưởng   chung

Do ảnh hưởng riêng

Hình thức tổ chức gia đình

 

Mẫu hệ

264

.47

.13

Phụ hệ

270

-.46

-.13

Eta/Beta

 

0,21/0,06

 Quan điểm của người trả lời về vai trò giới trong phân công lao động và quyền quyết định trong gia đình  

Nhóm định kiến giới

260

-.20

-.22

Nhóm ít định kiến giới

274

.19

.20

Eta/Beta

 

0,09/0,09**

 Địa bàn phỏng vấn

 

 

Phú Thọ

218

-.62

-.62

Lâm Đồng

230

.51

.53

Bình Thuận

86

.20

.14

Eta/Beta

 

0,24/0,24**

 Số năm kết hôn

 

 

 

10 năm trở xuống

172

.04

-.19

11-20 năm

137

.15

.22

21-30 năm

140

-.16

-.00

Trên 30 năm

85

-.07

.04

Eta/Beta

 

0,05/0,07

 Mức sống gia đình 

 

Khá

152

-.32

-.20

Trung bình

263

.14

.18

Nghèo

119

.09

-.15

Eta/Beta

 

0,09/0,08

 Nghề của người vợ 

Nông nghiệp

493

-.00

.02

Phi nông nghiệp

41

.11

-.35

Eta/Beta

 

0,01/0,04

 Nghề của người chồng

 

Nông nghiệp

449

-.06

-.10

Phi nông nghiệp

85

.36

.55

Eta/Beta

 

0,07/0,10**

 Hiện sống cùng bố mẹ

 

121

.38

.54

Không

413

-.11

-.15

Eta/Beta

 

0,09/0,13**

 So sánh thu nhập giữa vợ và chồng  

 

Chồng có thu nhập cao hơn

256

-.06

-.04

Vợ có thu nhập cao hơn

91

.52

.60

Hai vợ chồng thu nhập bằng nhau

187

-.16

-.23

Eta/Beta

 

0,11/0,13**

Mức ý nghĩa thống kê: *P<0,1;  **P<0,05;   ***P<0,01

Nguồn: Nghiên cứu Phát triển Xã hội (2012), Nghiên cứu giới và gia đình Việt Nam.

 

Bảng 1 cho thấy, quan điểm về vai trò giới trong phân công lao động và quyền quyết định trong gia đình có ảnh hưởng rõ nét tới khả năng tham gia quyết định của người vợ trong các công việc gia đình. Xem xét ảnh hưởng của yếu tố này trong bối cảnh bao gồm tác động của các biến số độc lập khác, ở nhóm gia đình mà thành viên ít mang định kiến về vai trò giới truyền thống, số các công việc gia đình chỉ người vợ có quyền quyết định tăng lên 0,2 so với giá trị trung bình chung. Ở nhóm gia đình mà thành viên có định kiến giới, số các công việc chỉ người vợ có quyền quyết định giảm xuống 0,2 so với giá trị trung bình chung. Số liệu phân tích cho thấy giảm định kiến về vai trò giới trong gia đình sẽ tăng khả năng tham gia của người vợ vào việc quyết định các công việc gia đình.

Thu nhập của người vợ trong tương quan với thu nhập của người chồng cũng là yếu tố có ảnh hưởng đáng kể quyền quyết định của người vợ trong các công việc gia đình. Khi người vợ có thu nhập cao hơn so với người chồng, số công việc mà người vợ có quyền quyết định tăng lên 0,6 so với giá trị trung bình chung. Trong khi đó, những trường hợp thu nhập của người vợ bằng hoặc thấp hơn so với người chồng, số công việc mà chỉ họ có quyền quyết định có xu hướng thấp hơn so với giá trị trung bình chung.

Nghề nghiệp của người chồng có sự tác động nhất định đến quyền quyết định của người vợ trong các công việc gia đình. Khi công việc chính của người chồng là nông nghiệp thì số công việc mà người vợ có quyền quyết định giảm 0,1 so với giá trị trung bình chung.

Khi công việc của người chồng là công việc phi nông nghiệp thì điều đó làm tăng số lượng công việc mà người vợ có quyền quyết định lên 0,5 so với giá trị trung bình chung. Có lẽ, những người chồng làm các công việc phi nông nghiệp có quỹ thời gian dành cho các công việc gia đình ít hơn so với người vợ và thời gian ở nhà của họ cũng không nhiều nên trong một số trường hợp quyền quyết định sẽ được chuyển giao cho người vợ.

Phân tích trên cho thấy, các yếu tố hình thức tổ chức gia đình, nghề nghiệp của người vợ, mức sống của gia đình và số năm kết hôn không có tác động mang ý nghĩa thống kê đến quyền quyết định của người vợ trong gia đình dân tộc thiểu số đối với các công việc gia đình.

Các yếu tố tác động đến việc người chồng là người quyết định chính công việc sản xuất/kinh doanh của hộ

Trong gia đình người dân tộc thiểu số, những yếu tố nào đã giúp người chồng củng cố vai trò là người đưa ra quyết định cuối cùng đối với các công việc liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ? Xuất phát từ câu hỏi trên, mô hình hồi quy đa biến, với biến phụ thuộc được xây dựng: “Chồng là người quyết định cuối cùng các công việc sản xuất kinh doanh của hộ”, với các phương án trả lời: 1. Có; 0. Không. Biến độc lập, bao gồm các biến số: (i) Các yếu tố mang đặc trưng của hộ: Hình thức tổ chức gia đình, mức sống của gia đình; (ii) Các yếu tố mang đặc trưng nhân khẩu học của chồng: tuổi, nghề nghiệp; (iii) Các biến số khác: số năm kết hôn, sự thành thạo tiếng Việt của vợ/chồng, hộ có chồng/vợ làm ăn xa, so sánh học vấn của vợ/chồng, người làm chính công việc sản xuất kinh doanh, hiện sống cùng bố mẹ vợ/chồng, khu vực cư trú.

Kết quả đa biến về ảnh hưởng của các biến số độc lập đến việc người chồng là người đưa ra quyết định cuối cùng đối với các công việc liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của gia đình được trình bày trong Bảng 2. Mô hình đầu: Yếu tố hình thức tổ chức gia đình (mẫu hệ, phụ hệ) được đưa vào mô hình. Mô hình cuối: Tất cả các biến số được đưa vào mô hình. Số liệu báo cáo trong Bảng 2 ứng với các phân loại của mỗi biến số là tỉ số chênh lệch giữa các đặc trưng đó đến người chồng là người đưa ra quyết định cuối cùng cho các công việc liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của gia đình so với tác động của loại đặc trưng dùng để so sánh.

Khi xem xét chủ đề quyền quyết định giữa vợ và chồng trong gia đình, các nhà xã hội học cố gắng giải thích tại sao trong hoạt động này người chồng là người có tiếng nói quyết định cuối cùng nhưng trong một số hoạt động khác người vợ lại là người quyết định cuối cùng, từ nhiều quan điểm khác nhau. Lý thuyết phân bổ nguồn lực tương đối tập trung vào khía cạnh kinh tế với những yếu tố ảnh hưởng như học vấn, nghề nghiệp và thu nhập. Các nghiên cứu đã có nhận định rằng công việc của người chồng mang lại thu nhập cao hơn so với người vợ thì điều đó đồng nghĩa với việc anh ta có nhiều quyền hơn trong gia đình. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy thu nhập không có ý nghĩa như nhau đối với người vợ và người chồng, người vợ có thu nhập và uy tín cao hơn chồng thì vẫn không có sự bình đẳng trong gia đình. Vì vậy, trong nghiên cứu của Phạm Quỳnh Hương (2012) về người dân tộc thiểu số, có thể dựa vào đặc trưng văn hóa tộc người để lý giải hiện tượng một số phụ nữ dân tộc thiểu số mặc dù có khả năng tiếp cận tài chính và có thu nhập cao hơn chồng nhưng điều đó cũng không đồng nghĩa với việc làm tăng quyền của họ trong gia đình.

Xuất phát từ gợi ý trên, phân tích áp dụng cách tiếp cận theo lý thuyết tương đối văn hóa để tìm hiểu về quyền quyết định giữa vợ và chồng trong gia đình người dân tộc thiểu số. Cách tiếp cận theo lý thuyết tương đối văn hóa xem xét các nền văn hóa bình đẳng với nhau, nhấn mạnh sự đa dạng, độc đáo của mỗi nền văn hóa. Để đánh giá được đúng thực trạng quyền quyết định giữa vợ và chồng trong các gia đình dân tộc thiểu số cần phải đặt nó vào đúng bối cảnh văn hóa của nó có như vậy mới tránh được các đánh giá mang tính định kiến.

Nhận diện sự tác động của yếu tố hình thức tổ chức gia đình đến việc người chồng là người đưa ra quyết định cuối cùng về các công việc liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của gia đình, kết quả mô hình đầu cho thấy, khả năng người chồng là người đưa ra quyết định cuối cùng về các công việc liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của gia đình ở nhóm các gia đình dân tộc thiểu số theo chế độ phụ hệ cao gấp 1,86 lần so với nhóm các gia đình dân tộc thiểu số theo chế độ mẫu hệ. Kết quả này, tương đồng với đặc trưng văn hóa của các hình thức tổ chức gia đình. Trong các gia đình dân tộc thiểu số theo chế độ mẫu hệ, mặc dù hiện nay đã có sự chuyển giao quyền lực giữa vợ và chồng nhưng do những dấu vết về phong tục tập quán của chế độ mẫu hệ vẫn còn tồn tại nên quyền quyết định trong gia đình không hoàn toàn thuộc về người chồng mà nó có sự phân phối phù hợp giũa vợ và chồng. Trong các công việc liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ sẽ có một số công việc người chồng là người quyết định cuối cùng và một số công việc sẽ do người vợ quyết. Do đó, khả năng người chồng ở nhóm các dân tộc thiểu số theo chế độ mẫu hệ là người quyết định cuối cùng công việc sản xuất kinh doanh của gia đình sẽ thấp hơn so với khả năng người chồng là người quyết định cuối cùng các công việc liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của gia đình ở nhóm các gia đình dân tộc thiểu số theo chế độ phụ hệ.

Bên cạnh sự tác động của yếu tố hình thức tổ chức gia đình đến khả năng người chồng là người quyết định cuối cùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tác giả tiếp tục tìm hiểu sự tác động của các yếu tố khác đến phụ thuộc, kết quả được thể hiện ở mô hình cuối như sau: Không có bằng chứng thống kê để khẳng định sự tác động của các biến số, tuổi của chồng, sự thành thạo tiếng Việt của vợ/chồng, học vấn của vợ/chồng, vợ làm ăn xa, mức sống, số năm kết hôn và tình trạng sống cùng với bố mẹ vợ/chồng đến khả năng người chồng là người đưa ra quyết định cuối cùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của gia đình.

Yếu tố hình thức tổ chức gia đình tiếp tục thể hiện sự tác động mang ý nghĩa thống kê đến khả năng người chồng là người quyết định cuối cùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Về nghề nghiệp, khả năng người chồng là người quyết định cuối cùng hoạt động sản xuất kinh doanh trong gia đình của nhóm người chồng làm nông nghiệp cao hơn 3,7 lần so với nhóm người chồng làm công việc phi nông nghiệp. So sánh giữa nhóm gia đình có chồng đi làm ăn xa với nhóm gia đình không có chồng đi làm ăn xa về khả năng người chồng là người quyết định cuối cùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của gia đình cho thấy, khả năng người chồng là người quyết định cuối cùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của gia đình ở nhóm gia đình có chồng đi làm ăn xa giảm 0,66 lần so với nhóm so sánh. Kết quả phân tích sự tác động của hai yếu tố, nghề nghiệp của chồng và gia đình có chồng đi làm ăn xa, đã gợi ra rằng, có thể một số trường hợp người chồng làm công việc phi nông nghiệp phải đi xa nhà, nên khả năng người chồng là người quyết định cuối cùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của gia đình của hai nhóm người chồng làm công việc phi nông nghiệp, nhóm người chồng đi làm ăn xa thấp hơn so với nhóm so sánh.

Bảng 2. Mô hình hồi quy các yếu tố tác động đến việc người chồng là người quyết định chính công việc sản xuất/kinh doanh của hộ

Biến số độc lập

Tỉ số chênh lệch (Odds Ratios)

Mô hình đầu

Mô hình cuối

Số lượng mô hình cuối

Hình thức tổ chức gia đình

 

 

 

Phụ hệ

1,86**

3,54***

629

Mẫu hệ

1

1

79

Mức sống của gia đình

 

 

 

Trung bình, khá

 

1,28

322

Cận nghèo

 

0,72

162

Nghèo

 

1

224

Tuổi của chồng

 

1,02

 

Số năm kết hôn

 

1

 

Nghề nghiệp của chồng

 

 

 

Nông nghiệp

 

3,70***

620

Phi nông nghiệp

 

1

88

Sự thành thạo tiếng Việt của chồng

 

 

 

Không

 

1,35

85

 

1

623

Sự thành thạo tiếng Việt của vợ

 

 

 

Không

 

1,34

203

 

1

505

Hộ có chồng làm ăn xa

 

 

 

Không

 

0,66*

554

 

1

154

Hộ có vợ làm ăn xa

 

 

 

Không

 

1,46

636

 

1

72

Người làm chính công việc sxkd

 

 

 

Chồng

 

6,93***

219

Vợ

 

0,63**

155

Cả hai

 

1

334

So sánh học vấn của vợ và chồng

 

 

 

Vợ có học vấn cao hơn chồng

 

0,85

136

Chồng có học vấn cao hơn vợ

 

1,34

338

Học vấn bằng nhau

 

1

234

Hiện sống cùng bố mẹ vợ/chồng

 

 

 

Không

 

1,10

561

 

1

147

Khu vực cư trú

 

 

 

Miền Bắc

 

0,67*

437

Miền Trung

 

1

271

N

804

                            708

Mức ý nghĩa thống kê: *P<0,1   **P<0,05   ***P<0,001

Nguồn: Hôn nhân xuyên biên giới với phát triển xã hội ở các tỉnh miền núi nước ta hiện nay (KX 02.21/11-15)

Vai trò là người làm chính trong công việc sản xuất kinh doanh của gia đình có sự tác động nhất định đến khả năng người chồng là người quyết định cuối cùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của gia đình. So với nhóm các gia đình dân tộc thiểu số có hai vợ chồng là người làm chính công việc sản xuất kinh doanh thì khả năng người chồng là người quyết định cuối cùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ mà người vợ là người làm chính thấp hơn 0,63 lần. Trong khi đó khả năng này ở nhóm các gia đình dân tộc thiểu số có chồng là người làm chính công việc sản xuất kinh doanh của hộ cao gấp 6,93 lần so với nhóm mang đặc trưng so sánh. Như vậy, có thể thấy một thực tế về người quyết định cuối cùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của gia đình ở các dân tộc thiểu số là: giữa vợ và chồng người nào là người làm chính công việc sản xuất kinh doanh của hộ thì người đó sẽ có nhiều khả năng là người đưa ra các quyết định cuối cùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ.

Có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê về sự tác động của yếu tố địa bàn cư trú đến khả năng người chồng là người quyết định cuối cùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ. Khả năng người chồng là người quyết định cuối cùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ ở nhóm các gia đình dân tộc thiểu số sống ở miền Bắc thấp hơn so với khả năng người chồng là người quyết định cuối cùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ ở nhóm các gia đình dân tộc thiểu số sống ở miền Trung là 0,67 lần.

Kết luận

Các yếu tố thu nhập, quan điểm giới và nghề nghiệp của người chồng có tác động đáng kể đến số công việc trong gia đình mà người vợ là người quyết định chính. Thu nhập của vợ cao hơn chồng làm tăng số lượng công việc gia đình mà người vợ là người quyết định chính, quan điểm giới của thành viên trong gia đình bình đẳng hơn cũng là một trong những nhân tố khiến cho số lượng công việc gia đình mà người vợ là người quyết định chính tăng lên. Khi người chồng làm công việc phi nông nghiệp, cũng có nghĩa là số công việc trong gia đình mà người vợ được đóng vai trò là người quyết định chính cũng tăng lên.

So với người chồng thuộc nhóm mẫu hệ thì người chồng ở nhóm phụ hệ có nhiều khả năng là người quyết định cuối cùng công việc sản xuất/kinh doanh của hộ hơn. Đặc trưng hoạt động sản xuất của người dân tộc thiểu số nói chung là làm nông nghiệp. Vì vậy, nhóm người chồng làm nông nghiệp có nhiều khả năng là người quyết định cuối cùng các công việc liên quan đến hoạt động sản xuất của gia đình hơn nhóm người chồng làm công việc phi nông nghiệp. Khả năng là người quyết định chính công việc sản xuất/ kinh doanh trong hộ của người chồng sẽ giảm nếu người chồng đó phải đi làm ăn xa. Bởi lẽ, khi người chồng tham gia nhiều hơn vào công việc sản xuất/kinh doanh của hộ thì cũng đồng nghĩa với việc anh ta sẽ người đưa ra các quyết định cuối cùng đối với công việc sản xuất/kinh doanh của gia đình. Người chồng ở miền Trung có nhiều khả năng là người quyết định chính công việc sản xuất kinh doanh của hộ hơn người chồng ở miền Bắc.

Tà liệu tham khảo

  • Đặng Thị Hoa (2014), Tiếp cận lý thuyết nhân học trong nghiên cứu về gia đình, Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới, số 4.
  • Nguyễn Minh Tuấn (2012), Bình đẳng giới trong gia đình người dân tộc Ê đê ở Đăk lăk. Tạp chí Xã hội học số 2 (118).
  • Nguyễn Thị Thanh Tâm (2006), Một số nét về bình đẳng giới ở các dân tộc thiểu số (qua khảo sát một số địa bàn tại Sa Pa), Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới, số 02.
  • Phạm Quỳnh Phương (2012), Giới, tăng quyền và phát triển – Quan hệ giới từ góc nhìn của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội.
  • Phạm Thị Huệ (2007), Quyền lực của vợ chồng trong gia đình nông thôn Việt Nam, Tạp chí Xã hội học, số 3.