CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG NGƯỜI CAO TUỔI VIỆT NAM QUA KHẢO SÁT TẠI BẮC NINH VÀ HẢI PHÒNG

Ăn uống và mặc của người cao tuổi Kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu Người cao tuổi Việt Nam cho thấy có 70,1% người cao tuổi (NCT) thường xuyên được ăn đúng/đủ bữa khi có nhu cầu, 29,9% NCT còn lại thỉnh thoảng được đáp ứng đúng/đủ bữa và không có NCT nào không được đáp ứng nhu cầu muốn ăn mà không được ăn. Tỷ lệ NCT thường xuyên được đáp ứng nhu cầu ăn tương đối cao và dường như NCT hài lòng với nhu cầu ăn1. Quan niệm về việc được ăn đầy đủ và đúng bữa của NCT tương đối đơn giản. Một bữa ăn được NCT coi là đáp ứng nhu cầu của họ bao gồm rau, thịt và cuối tuần đổi món với thịt gà hoặc một loại gia cầm nào đó.

Trong chăm sóc sức khỏe (CSSK), nhu cầu ăn của NCT là rất quan trọng, nhu cầu ăn/ khả năng ăn ở NCT hoàn toàn khác với người trẻ tuổi. Ăn ở NCT phải phù hợp với sức khỏe và khả năng hấp thu. Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, CSSK NCT nhiều khi tập trung vào chương trình răng/miệng cho NCT tức đảm bảo sức nhai để NCT ăn được. Từ hàng chục năm nay, Việt Nam đã giải quyết được vấn đề lương thực một cách vững chắc.

Như vậy, trên bình diện vĩ mô, Việt Nam hoàn toàn có thể giải quyết vấn đề lương thực cho toàn bộ dân số, trong đó có NCT. Tuy nhiên, tình trạng thiếu lương thực vẫn có thể xảy ra cục bộ khi thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn,...Bên cạnh đó, Nhà nước có một số chính sách cho NCT:

Trợ cấp thường xuyên: NCT thuộc hộ nghèo; người từ đủ 80 tuổi trở lên (không phân biệt thuộc hộ nghèo hay không) đều được trợ cấp xã hội (TCXH) với mức chuẩn là 270.000 đồng. Một số đối tượng NCT được trợ cấp gấp rưỡi hoặc gấp đôi mức này.

  1. Chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng hoặc tại các cơ sở BTXH, nhà xã hội. NCT thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng có thể sống ở cộng đồng nếu có người nhận chăm sóc (được hỗ trợ bằng 3 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội) hoặc sẽ được nhận vào cơ sở BTXH, nhà xã hội (được hỗ trợ bằng 4 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội).
  2. Hỗ trợ đột xuất. Chính sách hỗ trợ lương thực không chỉ riêng cho NCT mà cho tất cả thành viên hộ gia đình thiếu đói trong và sau thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa, giáp hạt hoặc lý do bất khả kháng khác. Nhà nước hỗ trợ 15 kg gạo/người/tháng trong thời gian không quá 03 tháng cho mỗi đợt trợ giúp và hỗ trợ 15 kg gạo/người đối với tất cả thành viên hộ gia đình thiếu đói trong dịp Tết âm lịch với quan điểm “không để người dân đói” khi tai họa xảy ra.

Do tuổi thọ ngày càng cao, NCT càng không có khả năng tự lo cho bữa ăn, do đó nhu cầu cần được ăn đầy đủ đúng bữa càng trở nên khó khăn hơn. Khi bước vào tuổi 60, hầu như tất cả NCT đều được quan tâm chăm sóc, hơn một nửa NCT được ăn đầy đủ và đúng bữa. Thường xuyên chuẩn bị bữa ăn cho NCT cũng là một trong những tiêu chí hướng đến đáp ứng nhu cầu ăn của NCT.

NCT là đối tượng cần được chăm sóc đặc biệt trong gia đình về dinh dưỡng vì cơ thể họ đã bị lão hóa. Chức năng của các cơ quan, bộ phận đều bị suy giảm và thường hay mắc các bệnh mạn tính. Trong điều tra 4 xã/phường ở Hải Phòng, nhiều NCT cho rằng bữa ăn của họ bình thường, đạm bạc và nhiều khi có thức ăn ngon cũng không ăn được do bệnh tật, sức khỏe không tốt. Chính điều này đã làm giảm chất lượng cuộc sống về mặt thể chất”2

Song song với việc ăn đầy đủ, đúng bữa, cung cấp vitamin ở NCT cũng rất quan trọng, đặc biệt là canxi do nguy cơ loãng xương. So với người trẻ, NCT ăn giảm khoảng 20-30%. Kinh nghiệm của NCT cho rằng : “tránh ăn quá no, đặc biệt khi có các vấn đề về tim mạch ; nên ăn các thức ăn dễ tiêu, nấu nhừ và chia làm nhiều bữa nhỏ, luôn phải giữ gìn vệ sinh khi chế biến đồ ăn3”.
Mặc của NCT chủ yếu dựa theo thời tiết và điều kiện kinh tế của gia đình. NCT không tiêu tốn nhiều tiền vào việc mặc.

Nhà ở của NCT

Theo Điều tra dân số giữa kỳ 2014, hầu hết (99,96%) hộ gia đình Việt Nam có nhà ở. Hiện cả nước có 427 Trung tâm BTXH của nhà nước, tổ chức và cá nhân dành cho NCT cô đơn, hoàn cảnh khó khăn, không nơi nương tựa với gần 40.000 NCT được chăm sóc4.

NCT Việt Nam thường có câu “trẻ cậy cha già cậy con”, vì thế phần lớn NCT đều chọn cách sống chung với con cái tại ngôi nhà chủ yếu thuộc quyền sở hữu của chính NCT. 81% NCT trả lời ngôi nhà mà họ đang sống thuộc quyền sở hữu của họ và 19% nói rằng họ đang sống trong ngôi nhà của con cái. Như vậy, phần lớn NCT Việt Nam không phụ thuộc vào con cái về nơi ở. Nhiều NCT muốn sửa chữa và cải thiện chất lượng ngôi nhà đang ở nhưng rất khó khăn: “Tôi muốn sửa cái nhà của tôi để ở cho đàng hoàng nhưng không thể làm được nữa vì tuổi cao, sức khỏe yếu, kinh tế eo hẹp, chất lượng ở của tôi còn thấp lắm”5.

Đa số NCT được điều tra ở 4 xã/phường có đời sống vật chất ở mức trung bình. Có một bộ phận lớn NCT ở nhóm tuổi 60-75, thậm chí còn cao hơn ở nông thôn hiện vẫn đang phải lao động để đảm bảo cuộc sống. Nhiều NCT không có thu nhập, sống nhờ vào sự giúp đỡ của gia đình và xã hội. Chỉ khoảng 50% NCT cho rằng đời sống kinh tế của họ được đảm bảo (chủ yếu trên khía cạnh chi tiêu cho ăn uống sinh hoạt). Điều này cho thấy đời sống của NCT còn nhiều khó khăn, chất lượng cuộc sống thấp.

Tại địa bàn khảo sát, tỷ lệ NCT được tiếp cận với các tiện nghi cơ bản như điện, nước sạch và có nhà vệ sinh riêng chiếm khá cao ở thành phố, trong khi ở địa bàn nông thôn vấn đề nước sạch và nhà vệ sinh còn hạn chế. Ở thành phố, NCT chủ yếu sử dụng nước máy cho sinh hoạt hàng ngày, còn ở nông thôn chủ yếu NCT sử dụng nước giếng khoan và giếng đào, nước mưa, không có NCT nào sử dụng nước ao, hồ, sông trong sinh hoạt, ăn uống. Cá biệt ở một số nơi, NCT vẫn phải sử dụng nguồn nước ô nhiễm nặng, không đảm bảo sức khỏe6.

Về nguồn thắp sáng, theo kết quả điều tra ở 2 xã của Bắc Ninh và 2 phường ở Hải Phòng cho thấy, 100% NCT sinh sống trong hộ gia đình dùng nguồn thắp sáng. Đây là điều khá phấn khởi khi mà đa số người dân nói chung, trong đó có NCT được dùng điện thắp sáng. Các tiện nghi trong gia đình NCT cũng khá đa dạng. 96,5% NCT đã có tivi, tiếp đó là điện thoại. Tỷ lệ NCT sử dụng điện thoại cố định cao gần gấp đôi tỷ lệ NCT sử dụng điện thoại di động do tuổi cao, chủ yếu giao tiếp hàng ngày và ít sử dụng mạng. 

Một số NCT sử dụng máy tính trong gia đình, hầu hết ở độ tuổi 60-70. Phương tiện để NCT tiếp cận với các thông tin truyền thông, tìm hiểu các tin tức trong nước và quốc tế chủ yếu dựa vào các tiện nghi quen thuộc như tivi và đài. Nhiều NCT ít tiếp cận với máy tính là do sự phức tạp và trình độ văn hóa tương đối thấp.

Đi lại (di chuyển) của NCT

Phương tiện đi lại thân thiện cho NCT cũng cần được chú trọng theo nhóm đối tượng. Đối với nhóm đối tượng là NCT khuyết tật/ốm yếu thì cần có những phương tiện chuyên dụng đặc biệt, như xe lăn, thiết bị nâng, giá đỡ.

Tuy tuổi cao, sức khỏe đã giảm sút nhưng NCT vẫn có nhu cầu đi lại. Sức khỏe không cho phép nên việc đi lại cũng trở thành một hoạt động khó khăn thậm chí rất khó khăn với nhiều NCT. Nhiều NCT muốn đi xa phải nhờ đến sự giúp đỡ của người thân trong gia đình hoặc phải sử dụng các phương tiện khác. Điều này cũng hạn chế việc di chuyển của NCT. Đặc biệt ở các vùng nông thôn, nơi giao thông công cộng không thuận tiện cho NCT. Đây là một khó khăn trở ngại lớn cho việc đi lại của người già đặc biệt là những người đã cao tuổi. Đối với những người già có sức khỏe tốt họ có thể tận dụng các phương tiện có sẵn như xe đạp hoặc xe máy để di chuyển, nhưng đối với người già cao tuổi việc di chuyển dựa chủ yếu vào con cháu trong gia đình.

Như vậy, chất lượng cuộc sống về thể chất của NCT phụ thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện của bản thân và gia đình mà ở đó, NCT thấy được sự quan tâm chăm sóc chu đáo của các thành viện trong gia đình hay không, NCT sẽ nhận được chất lượng cuộc sống ở cấp độ cao thấp khác nhau.

 

2 PVS NCT xã Mộ Đạo, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, tháng 8/2018.

3 PVS NCT Phường Dư hàng Kênh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, tháng 8/2018.

4 Cục bảo trợ Xã hội Tham luận khoa học Phát huy vai trò NCT, 10/2018.

5 PVS NCT xã Mộ Đạo, huyện Quế Võ, tháng 8/2018.

 

6 PVS NCT xã Mộ Đạo hiện đang chịu ô nhiếm nước ngầm rất nặng, tháng 8/2018

 

ThS. Nguyễn Thế Anh