DI CƯ XUYÊN QUỐC GIA QUA KẾT HÔN VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI CỦA PHỤ NỮ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TỪ LÝ THUYẾT XÃ HỘI HỌC

Di cư là phương thức để ổn định sinh kế của người dân trong điều kiện đói nghèo 6 và do đó, ngày càng nhiều người có xu hướng lựa chọn di cư với mong muốn tìm kiếm cơ hội đổi đời.

. Trong số nhiều loại hình di cư, di cư xuyên quốc gia theo hình thức kết hôn với người nước ngoài là một trong những loại hình di cư được lựa chọn ngày càng nhiều hơn, đặc biệt là sau những năm 1980 [7]. Đa số lựa chọn loại hình di cư này là nữ thanh niên. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng, nhu cầu của loại hình di cư này chủ yếu xuất phát từ yếu tố kinh tế [11]. Bài viết phân tích bản chất của di cư xuyên quốc gia theo hình thức kết hôn với người nước ngoài từ lý thuyết xã hội học, với mong muốn dưới góc nhìn của lý thuyết có thể đóng góp vào tìm ra ẩn số của bài toán di cư theo loại hình này.

Thực trạng di cư xuyên quốc gia theo hình thức kết hôn với người nước ngoài ở Đồng bằng sông Cửu Long

Ở Đồng bằng sông Cửu Long, xu hướng nữ thanh niên di cư xuyên quốc gia theo hình thức kết hôn với người nước ngoài ngày càng nhiều trong những năm gần đây. Các nước có xu hướng lựa chọn chủ yếu là Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc. Bên cạnh những cơ hội của loại hình di cư này, những thách thức, rủi ro là rất lớn.

Trong những năm đầu của thế kỷ này, nữ thanh niên ở ĐBSCL chủ yếu có xu hướng di cư theo hình thức kết hôn với người Đài Loan. Theo một thống kê chính thức, tính đến năm 2005 đã có 72.835 cuộc hôn nhân dạng này (hai người xa lạ, chênh lệch về tuổi tác, kết hôn qua môi giới, động cơ kết hôn khác nhau). Trong giai đoạn 2001-2003, có tới 89,2% các cô gái lấy chồng Đài Loan xuất thân từ nông thôn; cô dâu dưới 20 tuổi chiếm 41,43%, từ 20 -30 tuổi chiếm 53,37%. Trong khi đó, 50,91% các chú rể Đài Loan tuổi từ 31-40; 6,98% trên 50 tuổi [5].

Gần đây, xu hướng di cư sang Hàn Quốc thông qua kết hôn đang gia tăng. Từ năm 2000-2016, có 87.025 trường hợp kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với nam giới Hàn Quốc. Ước tính cứ 4 phụ nữ di cư theo diện kết hôn sang Hàn Quốc thì có 1 phụ nữ là người Việt Nam [11]. Trong đó, các tỉnh/thành phố Tây Nam bộ có số lượng phụ nữ kết hôn với người Hàn Quốc cao nhất. Tại Cần Thơ từ 2004 đến 2016, có 20.970 trường hợp kết hôn với người nước ngoài, trong đó với người Hàn Quốc là 12.154 trường hợp. Riêng năm 2017, có 1366 trường hợp, kết hôn với Hàn Quốc có 647 trường hợp (phụ nữ chiếm 90%) [2]. Mặc dù vậy, không phải ai cũng có được cơ hội đổi đời từ quyết định di cư theo hình thức kết hôn. Tình trạng phụ nữ bị bạo hành, ngược đãi nơi xứ người và hôn nhân đổ vỡ cũng rất cao. Theo ước tính cuối năm 2016, cứ 5 phụ nữ Việt Nam di cư theo hình thức kết hôn sang Hàn Quốc thì có khoảng 1 người ly hôn. Bên cạnh đó, số gia đình Việt-Hàn ly hôn khi có con chung trong độ tuổi vị thành niên cũng chiếm tới 19%, với 3.184 trường hợp và có khoảng 3.777 trẻ em Việt-Hàn [11]. Điều này đã khiến cho nhiều phụ nữ Việt Nam nói chung, ở ĐBSCL nói riêng hồi hương với trạng thái tâm lý tiêu cực như trầm cảm, khó hòa nhập. Không chỉ vậy, nhiều phụ nữ ở ĐBSCL hồi hương đang trong tình trạng quan hệ hôn nhân trên mặt pháp lý cũng đã phát sinh hệ lụy. Hiện nay, ở Cần Thơ có 155 trẻ em Việt-Hàn không có đầy đủ giấy tờ liên quan đến thân nhân nên đã ảnh hưởng rất nhiều đến quyền lợi như khai sinh, học hành, bảo hiểm y tế…[6]

Loại hình di cư này tiềm ẩn những rủi ro, nguy cơ song nhiều phụ nữ vẫn quyết định lựa chọn đổi đời bằng hình thức kết hôn với người nước ngoài. 

Áp dụng lý thuyết xã hội học để giải thích di cư xuyên quốc gia theo hình thức kết hôn với người nước ngoài

Lý thuyết áp lực cấu trúc

Việc kết hôn với người nước ngoài của phụ nữ Việt Nam nói chung, ở ĐBSCL nói riêng là một hiện tượng bình thường, hợp với quy luật tự nhiên, của xã hội và pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tình hình di cư theo hình thức kết hôn với người nước ngoài, đặc biệt là Đài Loan, Hàn Quốc đã diễn biến ngày càng phức tạp, nhiều trường hợp kết hôn thông qua môi giới, đa phần không xuất phát từ tình yêu chân chính và chủ yếu vì mục đích kinh tế [3]. Xét về khía cạnh này có thể nói đây là biểu hiện của “sự lệch chuẩn”.

Sự lệch chuẩn là một trong những hiện tượng xã hội được xã hội học quan tâm và có nhiều cách lý giải về hiện tượng này. Trong đó, khuynh hướng lý thuyết cấu trúc - chức năng là một trong những cách tiếp cận có nhiều ảnh hưởng nhất. Các nhà xã hội học theo khuynh hướng chức năng luận nhìn nhận hiện tượng sai lệch như là hệ quả của áp lực từ hệ thống xã hội. Theo cách tiếp cận này, sự không tương thích giữa mục tiêu giá trị và cách thức, biện pháp thực hiện thành công mục tiêu đó sẽ tạo ra động lực khuyến khích hành vi sai lệch ở một bộ phận thành viên trong xã hội. Với việc đưa ra thuật ngữ “Anomie”, nhà xã hội học người Pháp E. Durkheim được coi là một trong những người đầu tiên thực hiện nghiên cứu xã hội học về các biểu hiện sai lệch trong xã hội [4]. Theo Durkheim, lệch chuẩn là sự thiếu vắng các chuẩn mực, thiếu sự điều tiết, thiếu sự quản lý, kiểm soát của xã hội [8]. Trên cơ sở các ý tưởng của Durkheim và kết hợp với việc phân tích cấu trúc xã hội của Mỹ những năm 1930, Robert Merton, nhà xã hội học Mỹ, đã phát triển “thuyết Anomie” trở thành lý thuyết có ảnh hưởng rộng rãi trong việc lý giải về nguồn gốc của các biểu hiện sai lệch. Theo Merton, tình trạng lệch chuẩn là sự không phù hợp, sự “lệch pha” giữa mục tiêu văn hóa và phương tiện được thiết chế hóa [8]. Khi nghiên cứu xã hội Mỹ đương thời, Merton khẳng định rằng trong các xã hội công nghiệp như xã hội Mỹ luôn tồn tại các giá trị xã hội đề cao sự thành công vật chất; lao động chăm chỉ và kỷ luật của cá nhân được coi là những cách thức hợp pháp qua đó người ta đạt được sự thành công. Theo đó, dù ở bất kỳ điểm xuất phát nào, một người vẫn có thể đạt được sự thành công vật chất nếu anh ta làm việc thực sự chăm chỉ. Tuy nhiên, điều này lại không tồn tại trong thực tế xã hội Mỹ bởi những người yếu thế thuộc các tầng lớp dưới trong xã hội thường chỉ được cung cấp những cơ hội rất hạn chế, thậm chí không có cơ may để phát triển. Những người này cảm nhận được sự bất lực của họ trong việc vươn lên giành lấy những thành công về vật chất. Trong những tình huống như vậy, họ bị thôi thúc bởi áp lực phải tiếp tục tiến lên bằng bất cứ giá nào, kể cả hợp thức cũng như bất hợp thức. Do vậy, Merton khẳng định, các biểu hiện sai lệch như tội phạm và tệ nạn xã hội sẽ xuất hiện khi trong xã hội tồn tại sự bất bình đẳng kinh tế và sự thiếu hụt các cơ hội công bằng cho mọi người vươn lên thực hiện các giá trị xã hội phổ biến [4]. Như vậy, theo Merton, sự lệch chuẩn là do lệch lạc so với chuẩn mực xã hội trong việc lựa chọn một trong hai thành tố quan trọng của cấu trúc hành động, đó là mục tiêu và phương tiện [8].

Thực tế cho thấy, sự phát triển kinh tế thị trường không chỉ mang lại nhiều cơ hội mà còn đối diện với không ít thách thức trong quá trình phát triển xã hội, đó là sự phân hóa sâu sắc trong xã hội và sai lệch xã hội. Hình thức kết hôn với người nước ngoài vì mục đích kinh tế là một hiện tượng như vậy. Ước mơ đổi đời là mong ước của nhiều người có hoàn cảnh khó khăn, chị em phụ nữ nghèo ở ĐBSCL cũng không phải trường hợp ngoại lệ. Nhiều nữ thanh niên sinh ra và lớn lên từ những vùng nông thôn nghèo đã biến cuộc hôn nhân với người đàn ông không quen biết thành một phương tiện để giúp mình và gia đình thoát nghèo. Kết quả khảo sát xã hội học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (2004) cho thấy, hoàn cảnh khó khăn lại không nhiên, trong những năm gần đây, tình hình di cư theo hình thức kết hôn với người nước ngoài, đặc biệt là Đài Loan, Hàn Quốc đã diễn biến ngày càng phức tạp, nhiều trường hợp kết hôn thông qua môi giới, đa phần không xuất phát từ tình yêu chân chính và chủ yếu vì mục đích kinh tế [3]. Xét về khía cạnh này có thể nói đây là biểu hiện của “sự lệch chuẩn”.

Sự lệch chuẩn là một trong những hiện tượng xã hội được xã hội học quan tâm và có nhiều cách lý giải về hiện tượng này. Trong đó, khuynh hướng lý thuyết cấu trúc - chức năng là một trong những cách tiếp cận có nhiều ảnh hưởng nhất. Các nhà xã hội học theo khuynh hướng chức năng luận nhìn nhận hiện tượng sai lệch như là hệ quả của áp lực từ hệ thống xã hội. Theo cách tiếp cận này, sự không tương thích giữa mục tiêu giá trị và cách thức, biện pháp thực hiện thành công mục tiêu đó sẽ tạo ra động lực khuyến khích hành vi sai lệch ở một bộ phận thành viên trong xã hội. Với việc đưa ra thuật ngữ “Anomie”, nhà xã hội học người Pháp E. Durkheim được coi là một trong những người đầu tiên thực hiện nghiên cứu xã hội học về các biểu hiện sai lệch trong xã hội [4]. Theo Durkheim, lệch chuẩn là sự thiếu vắng các chuẩn mực, thiếu sự điều tiết, thiếu sự quản lý, kiểm soát của xã hội [8]. Trên cơ sở các ý tưởng của Durkheim và kết hợp với việc phân tích cấu trúc xã hội của Mỹ những năm 1930, Robert Merton, nhà xã hội học Mỹ, đã phát triển “thuyết Anomie” trở thành lý thuyết có ảnh hưởng rộng rãi trong việc lý giải về nguồn gốc của các biểu hiện sai lệch. Theo Merton, tình trạng lệch chuẩn là sự không phù hợp, sự “lệch pha” giữa mục tiêu văn hóa và phương tiện được thiết chế hóa [8]. Khi nghiên cứu xã hội Mỹ đương thời, Merton khẳng định rằng trong các xã hội công nghiệp như xã hội Mỹ luôn tồn tại các giá trị xã hội đề cao sự thành công vật chất; lao động chăm chỉ và kỷ luật của cá nhân được coi là những cách thức hợp pháp qua đó người ta đạt được sự thành công. Theo đó, dù ở bất kỳ điểm xuất phát nào, một người vẫn có thể đạt được sự thành công vật chất nếu anh ta làm việc thực sự chăm chỉ. Tuy nhiên, điều này lại không tồn tại trong thực tế xã hội Mỹ bởi những người yếu thế thuộc các tầng lớp dưới trong xã hội thường chỉ được cung cấp những cơ hội rất hạn chế, thậm chí không có cơ may để phát triển. Những người này cảm nhận được sự bất lực của họ trong việc vươn lên giành lấy những thành công về vật chất. Trong những tình huống như vậy, họ bị thôi thúc bởi áp lực phải tiếp tục tiến lên bằng bất cứ giá nào, kể cả hợp thức cũng như bất hợp thức. Do vậy, Merton khẳng định, các biểu hiện sai lệch như tội phạm và tệ nạn xã hội sẽ xuất hiện khi trong xã hội tồn tại sự bất bình đẳng kinh tế và sự thiếu hụt các cơ hội công bằng cho mọi người vươn lên thực hiện các giá trị xã hội phổ biến [4]. Như vậy, theo Merton, sự lệch chuẩn là do lệch lạc so với chuẩn mực xã hội trong việc lựa chọn một trong hai thành tố quan trọng của cấu trúc hành động, đó là mục tiêu và phương tiện [8].

Thực tế cho thấy, sự phát triển kinh tế thị trường không chỉ mang lại nhiều cơ hội mà còn đối diện với không ít thách thức trong quá trình phát triển xã hội, đó là sự phân hóa sâu sắc trong xã hội và sai lệch xã hội. Hình thức kết hôn với người nước ngoài vì mục đích kinh tế là một hiện tượng như vậy. Ước mơ đổi đời là mong ước của nhiều người có hoàn cảnh khó khăn, chị em phụ nữ nghèo ở ĐBSCL cũng không phải trường hợp ngoại lệ. Nhiều nữ thanh niên sinh ra và lớn lên từ những vùng nông thôn nghèo đã biến cuộc hôn nhân với người đàn ông không quen biết thành một phương tiện để giúp mình và gia đình thoát nghèo. Kết quả khảo sát xã hội học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (2004) cho thấy, hoàn cảnh khó khăn lại không hành động; ngược lại, nếu “cái mất” nhiều hơn hành động thì họ không hành động.

Như vậy, sự quyết định di cư theo hình thức kết hôn với người nước ngoài là sự lựa chọn hợp lý được dựa trên cơ sở đánh giá các yếu tố, điều kiện khách quan của hành động từ phía bản thân chủ thể. Bởi vì, trên thực tế nhiều phụ nữ nhận thấy sự thành công của những người đi trước. Theo kết quả khảo sát của Trần Thị Phụng Hà (2017) cho thấy sự thay đổi của các gia đình có con gái di cư theo hình thức kết hôn. Nhiều gia đình thoát nghèo vươn lên nhờ nguồn ngoại tệ. Hơn nữa, một nghiên cứu trước đây của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP, Hồ Chí Minh (2004) cho thấy, nữ thanh niên rất ít lạc quan với nam thanh niên trong vùng vì tình trạng say xỉn, bạo hành gia đình, hôn nhân đổ vỡ… Chính vì thế, nhiều nữ thanh niên đã có quyết định hoặc nhu cầu di cư theo hình thức này để hiện thực hóa khát vọng đổi đời và mong muốn được hạnh phúc bên người chồng ngoại quốc. Nhưng họ không thể lường được những nguy cơ sau đó.

Lý thuyết mạng lưới xã hội

Lý thuyết mạng lưới xã hội nghiên cứu trúc bên trong của xã hội. Đó là cấu trúc của các mối liên hệ xã hội, tương tác xã hội và quan hệ xã hội giữa các cá nhân. Các lý thuyết cấu trúc xã hội đưa ra lời giải đáp về tác động của các đặc điểm của các cấu trúc mạng lưới xã hội đối với hành vi của cá nhân, các thành viên tham gia vào cấu trúc xã hội đó. Nghiên cứu mạng lưới xã hội, các nhà xã hội học chú ý đến tần suất tiếp xúc, cường độ giao tiếp và các đặc điểm định tính như chiều, hướng, vị trí, kiểu, dạng, loại hình của mối liên hệ, cấp độ, đơn vị phân tích [8]. Trong bối cảnh di cư, mạng lưới xã hội là yếu tố không thể thiếu, bởi nó ảnh hưởng đến quyết định di cư hay không. Để nghiên cứu mạng lưới xã hội của người di cư, Taylor đã chỉ ra rằng, các nhân tố hút ở các mạng lưới cá nhân của người di cư gồm những người có quan hệ dòng họ, bạn bè và cùng chung nguồn gốc ở nơi đến. Các mạng lưới di cư này thu hút những người di cư bằng nhiều cách khác nhau như: giảm chi phí, giảm rủi ro và tạo các điều kiện, cơ hội cần thiết trong cuộc sống [9]. Như vậy, nếu ai đã có quan hệ xã hội với người đã từng di cư thì cơ hội di cư của họ sẽ rất cao. Điều này cho thấy, một trong những yếu tố thúc đẩy quá trình di cư là do mạng lưới xã hội.

Có thể nói, việc quyết định di cư theo hình thức kết hôn với người nước ngoài của phụ nữ ở ĐBSCL là do mạng lưới xã hội tác động. Bởi thông qua nguồn thông tin từ người thân, bạn bè đã từng xuất cư theo hình thức này nhiều người đã thành công và có cuộc sống hạnh phúc. Điều này tạo thêm động lực để cho nhiều nữ thanh niên nơi đây có quyết định kết hôn với người nước ngoài. Bằng chứng từ các khảo sát cho thấy, các cô dâu Đài - Hàn thông tin về hình thức di cư theo kết hôn từ bạn bè chiếm 28,0%; từ người thân trong gia đình, 20%; từ hàng xóm, 6% và từ những người thân đã kết hôn trước [7]. Trước đó, theo một nghiên cứu khác của Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. HCM (2004), đa số các cô gái ở ĐBSCL biết thông tin về kết hôn với người nước ngoài thông qua gia đình, bạn bè, hành xóm. Từ tổng số 51 người được hỏi và 42 người trả lời nguồn tin về phụ nữ kết hôn với người Đài Loan ở cộng đồng, trong đó 13% các cô gái biết qua bạn bè; 25,5% từ các cô gái đã lấy chồng Đài Loan; 13,7% nghe qua hàng xóm. Thậm chí, khi được hỏi về trường hợp thất bại thì họ cho rằng không chứng kiến. Chính điều này đã khiến cho các cô gái có tâm lý yên tâm hơn khi đưa ra quyết định di cư theo hình thức kết hôn.

Hơn nữa, trong bối cảnh hiện nay, thông tin tràn ngập trên các phương tiện truyền thông, các trang mạng xã hội về việc kết hôn với người nước ngoài từ những người đã xuất cư theo hình thức kết hôn, đặc biệt là Hàn Quốc, Đài Loan, như sự đổi đời, hạnh phúc…  của các cô gái di cư thành công ở nơi xứ người. Chính điều này cũng tác động không nhỏ đến quyết định di cư theo hình thức kết hôn của nhiều nữ thanh niên ở ĐBSCL. 

Kết luận và kiến nghị

Như vậy, di cư là một hiện tượng phổ biến trong xã hội, đặc biệt là trong tình hình mới hiện nay, trong có di cư xuyên quốc gia theo hình thức kết hôn với người nước ngoài. Tình hình này đã diễn ra ngày càng nhiều ở nước ta, đặc biệt là ở ĐBSCL. Các lý thuyết xã hội học đã có những cách lý giải khác nhau  về vấn đề này. Tuy nhiên, mỗi lý thuyết có những “hạt nhân” hợp lý của nó và vận dụng sự hợp lý vào giải thích những khía cạnh khác nhau của vấn đề. Từ những lý giải dưới góc độ lý thuyết xã hội học, một số kiến nghị được gợi mở như sau:

Để hạn chế tình trạng di cư theo hình thức kết hôn vì mục đích kinh tế, một biểu hiện của sự lệch chuẩn, các địa phương cần có các giải pháp mang tính đột phá trong công tác giảm nghèo, đào tạo nghề và giải quyết việc làm, nâng cao trình độ của người dân, đặc biệt đối với nữ thanh niên. Đồng thời, nguyên nhân xuất cư theo hình thức kết hôn là do thiếu vắng điều kiện, cơ hội để phát triển kinh tế, các tổ chức Hội, Đoàn thành niên cần xây dựng nhiều hình thức hỗ trợ nữ thanh niên lập nghiệp và phát triển kinh tế gia đình. Làm tốt các hoạt động này là đồng nghĩa với việc mang lại những biện pháp hợp thức để hiện thực hóa mục tiêu làm giàu chính đáng.

Quyết định di cư của nhiều nữ thanh niên ở ĐBSCL là sự lựa chọn có lý vì họ thấy được sự thành công của một số người đi trước, khiến họ an tâm trong quá trình thực hiện hóa ước mơ. Các tổ chức Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên cần tuyên truyền, tư vấn, định hướng cho nữ thanh niên về các quyết định liên quan đến di cư thông qua kết hôn với người nước ngoài. Đồng thời, việc định hướng cần làm rõ cơ hội và thách thức của loại hình di cư này.

Mạng lưới xã hội đã mang lại nhiều thông tin cho nữ thanh niên về di cư theo hình thức kết hôn. Tuy nhiên, không phải thông tin nào cũng đáng tin cậy. Do đó, các cấp, các ngành cần tăng cường giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho phụ nữ về lợi dụng môi giới kết hôn với người nước ngoài. Đồng thời, thông qua các trang mạng xã hội, thường xuyên tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng và nhu cầu của nữ thanh niên về quyết định di cư qua kết hôn với người nước ngoài nhằm kịp thời định hướng và hỗ trợ. Tiếp tục tăng cường “Chương trình giáo dục định hướng (PDO) trước khi xuất cảnh và “tư vấn chuyên sâu” cho phụ nữ di cư theo diện kết hôn nhằm giúp giảm thiểu rủi ro xuống mức thấp nhất.

Các địa phương cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền phong trào xây dựng gia đình hạnh phúc bền vững, nhân rộng các phong trào trong toàn dân nhằm hướng đến xây dựng gia đình tiến bộ; thúc đẩy bình đẳng giới, hạn chế tình trạng bạo lực, góp làm tăng tính lạc quan cho phụ nữ ở ĐBSCL về hôn nhân trong nước. 

Chính quyền các nước cần quản lý nghiêm những đơn vị môi giới hôn nhân trái phép, mang tính thương mại hóa.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Mai Huy Bích (2012), “ Vận dụng lý thuyết và phương pháp trong nghiên cứu gia đình ở Việt Nam”. Kỷ yếu hội thảo Gia đình Việt Nam trong bối cảnh Công nghiệp hóa và hội nhập, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới.
  2. Báo cáo tham luận của Công an TP Cần Thơ, “Tình hình kết hôn có yếu tố nước ngoài trên địa bàn thành phố Cần Thơ” – Thực trạng và giải pháp, Kỷ yếu hội thảo, Hội thảo “Thực trạng và giải pháp hỗ trợ phụ nữ hồi hương và trẻ em Việt Hàn”, Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố Cần Thơ, 2018.
  3. Trích theo Báo cáo đề dẫn của Hội thảo “ Thực trạng và giải pháp hỗ trợ phụ nữ hồi hương và trẻ em Việt Hàn”, Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố Cần Thơ, 2018.
  4. Nguyễn Chí Dũng và cộng sự (2007), Xã hội học tội phạm: lý luận và thực tiễn, Báo cáo đề tại cấp cơ sở, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, trang 24.
  5. Bùi Quang Dũng (2007): “Lấy chồng Đài Loan: Vấn đề xã hội và nhận diện về mặt xã hội học”.  Nghiên cứu gia đình và giới, số 5, trang 70.
  6. Lê Bạch Dương và Khuất Thu Hồng (2006), Di dân và bảo trợ xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ sang kinh tế thị trường, Nxb Thế giới. Hà Nội.
  7.  Trần Thị Phụng Hà và cộng sự (2017), Các yếu tố xã hội liên quan đến hôn nhân xuyên quốc gia, tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ.
  8. Lê Ngọc Hùng (2011), Lịch sự và lý thuyết xã hội học hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, trang 244.
  9. Lê Ngọc Hùng, Các lý thuyết về di cư và vận dụng trong chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam, truy cập tại http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/thuc-tien/item/2717-cac-ly-thuyet-ve-di-cu-va-van-dung-trong-chinh-sach-doi-voi-dong-bao-dan-toc-thieu-so-o-viet-nam.html. Ngày truy cập 20/3/2019
  10. Nguyễn Xuân Nghĩa (2008). Lý thuyết lựa chọn hợp lý về giải thích hiện tượng tôn giáo. Tạp chí Khoa học xã hội, số 2. Trang 74-74
  11.  Vũ Thị Trang (2018), Kết quả khảo sát thực trạng phụ nữ hồi hương và trẻ em Việt – Hàn cư trú tại Việt Nam, Bài tham luận, Kỷ yếu Hội thảo “ Thực trạng và giải pháp hỗ trợ phụ nữ hồi hương và trẻ em Việt Hàn”, Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố Cần Thơ.
  12. Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn (2004), Báo cáo kết quả nghiên cứu: Thực trạng phụ nữ ở ĐBSCL lấy chồng Đài Loan, Tp HCM.

 

ThS. Phan Thuận Dư Thị Mỹ Hân**