GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH TRONG NỀN KINH TẾ CHĂM SÓC

Ở bất cứ xã hội nào, công việc gia đình luôn có vai trò quan trọng trong đời sống của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng.

Ở nhiều nước công việc này vẫn chưa được coi là một nghề. Trong một nghiên cứu mới đây của Action Aid (2016), ở Việt Nam, mỗi ngày, trung bình phụ nữ dành 5 giờ cho các công việc chăm sóc không lương, nhiều hơn nam giới 2,5-3 giờ, ước tính đóng góp hơn 20% trong tổng GDP của Việt Nam. Theo Trung tâm Dự báo và Thông tin thị trường lao động Quốc gia, số lượng việc làm liên quan tới GVGĐ sẽ tăng từ 157.000 người năm 2008 lên tới 350.000 người vào năm 2020.

Chăm sóc là những hoạt động cần thiết, diễn ra hàng ngày để tái tạo thể chất, tinh thần và cảm xúc cho con người; chăm sóc còn là sự lo lắng, quan tâm về sức khỏe, cuộc sống thể chất, tinh thần…của người khác. Cũng như tính tương tác trong cuộc sống con người, chăm sóc bao gồm cả sự thỏa mãn và không được đáp ứng phù hợp, hơn nữa công việc chăm sóc thường bao gồm cả sự hợp tác và xung đột. Chăm sóc là cơ sở của nền kinh tế thị trường và là hoạt động kinh tế vì nó cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của tất cả mọi người.

Kinh tế chăm sóc có mối liên kết với tình trạng bất bình đẳng về kinh tế và xã hội. Điều này được minh chứng rất rõ khi tìm hiểu người lao động và công việc giúp việc gia đình. Với các đặc trưng của công việc nhà – công việc chăm sóc… hiện nhiều gia đình rất cần sự hỗ trợ của họ, nhưng bản thân người lao động không nhận được đánh giá công bằng của xã hội và thiếu sự cảm thông, trân trọng của người sử dụng. Các quyền tiếp cận an sinh xã hội, quyền lao động, quyền con người… thường xuyên bị vi phạm do thiếu quy định hoặc không tuân thủ các quy định hiện hành. Ngoài ra, các hình thức lạm dụng sức lao động, thời gian làm việc, bị mắng chửi, sỉ nhục… là nguy cơ cao đối với lao động giúp việc gia đình (LĐGVGĐ).

Chính phủ Việt Nam đã có nỗ lực bảo vệ pháp lý cho LĐGVGĐ qua Luật Lao động và nhiều văn bản pháp lý khác. Mặc dù, GVGĐ đã được công nhận là nghề xã hội, nhưng LĐGVGĐ vẫn chưa được quản lý bởi cơ quan chức năng, người lao động chưa được đào tạo nghề, các quyền lợi chính đáng của họ không được đảm bảo, như quyền được tiếp cận an sinh xã hội (BHYT và BHXH), quyền được tham gia các hoạt động xã hội như câu lạc bộ, hội phụ nữ… hiện tại chưa có tổ chức đại diện của LĐGVGĐ. GVGĐ chủ yếu làm công việc: nội trợ, chăm sóc trẻ em hoặc chăm sóc người cao tuổi/người ốm (GFCD, 2012).

Đặc trưng nhân khẩu, xã hội của lao động giúp việc gia đình

Theo các nghiên cứu, tại Việt Nam LĐGVGĐ chủ yếu là nữ, chiếm 98,7% (GFCD, 2012). Về trình độ học vấn, đa số LĐGVGĐ có trình độ học vấn dưới trung học cơ sở (THCS), có đến 22-31,8% có trình độ tiểu học, thậm chí một số không biết chữ. Về độ tuổi, GVGĐ chủ yếu ở độ tuổi 36-55 tuổi (61,5%), và 14,8% từ 56 tuổi trở lên. Hầu hết (98,4%) LĐGVGĐ chưa qua đào tạo về GVGĐ. LĐGVGĐ có tỷ lệ “góa/ly hôn/ly thân” khá cao (20,7%) (ILO, 2011). 91,6 % LĐGVGĐ không có lương hưu, trợ cấp thường xuyên.

Lý do đi làm GVGĐ

Trước khi tham gia vào thị trường LĐGVGĐ, phần lớn người lao động làm nông nghiệp hoặc các nghề tự do (như phụ xây, buôn bán…). Theo đánh giá của người lao động, 47,3% có mức sống nghèo; 50,4% người có mức sống trung bình. Gần 2/3 (65,7%) người lao động đi làm GVGĐ là muốn có thêm thu nhập cho cuộc sống bản thân và gia đình. Một số là thấy bản thân phù hợp với nghề GVGĐ (9%), không tìm được việc làm khác (5,7%), không biết làm nghề nào khác (5,7%), muốn thoát ly nghề nông (5,7%)…(ILO, 2011).

Lý do tôi đi làm giúp việc là do mình kinh tế khó khăn, lao động nặng không làm được nên là chỉ có còn cách là đi giúp việc bế em hoặc là giúp việc các cháu trong gia đình thế thôi mà nó hợp với cái tuổi chúng tôi, (Thảo luận nhóm giúp việc gia đình tại Hà Nội, 2011)

LĐGVGĐ mang lại cơ hội có việc làm thu nhập cao hơn so với các công việc lao động giản đơn khác

Năm 2014, bình quân, mức thu nhập của LĐGVGĐ khoảng 3.000.000 đồng/tháng (bao gồm cả tiền công và một số khoản khác như tiền đi lại, tiền điện thoại,), đến 2018 đã lên tới 4.000.000 đồng/tháng. Mức tiền công cho người GVGĐ được các hộ gia đình chi trả khác nhau ở từng địa bàn điều tra và có xu hướng cao hơn ở các thành phố lớn như Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh.

So sánh thu nhập của hai loại hình lao động GVGĐ sống cùng và làm theo giờ cho thấy không có sự khác biệt đáng kể giữa hai cách thức làm việc này. Tuy nhiên, tính toán về giá trị kinh tế thực thì LĐGVGĐ sống cùng sẽ tiết kiệm được các khoản chi như: thuê nhà, điện nước, đồ dùng sinh hoạt cá nhân, ăn uống hàng ngày. Theo kết quả điều tra mức sống dân cư năm 2012, tổng chi tiêu bình quân 1 nhân khẩu/1 tháng cho đời sống (gồm chi cho ăn, uống và chi khác) ở khu vực thành thị là 2.161.000 đồng/tháng. LĐ GVGĐ theo giờ và phải thuê nhà cho biết, trung bình 1 tháng, số tiền họ phải trả cho việc thuê nhà là khoảng 500.000 đồng. Như vậy, ước tính chi phí bình quân cho các khoản ăn, ở, sinh hoạt hàng ngày của 1 LĐGV là khoảng 2.600.000 đồng/tháng. Như vậy, LĐGVGĐ sống cùng gia chủ  có lợi ích kinh tế cao hơn gần gấp đôi so với người giúp việc theo giờ.

So sánh với mức thu nhập của một số công việc khác mà người lao động có thể tham gia cho thấy, nguồn thu nhập từ GVGĐ cao hơn nhiều so với nguồn thu từ công việc khác mà người lao động có thể kiếm được ở địa phương cũng như nguồn thu từ một số công việc mà LĐGVGĐ thường làm như nông nghiệp hoặc lao động tự do. Ví dụ, nếu chỉ làm nông nghiệp ở địa phương, mức thu nhập bình quân của người lao động là 1.340.000 đồng/tháng, chỉ bằng 46,5% mức tiền công bình quân của LĐGV sống cùng gia chủ. Nếu lựa chọn làm các công việc lao động tự do ở địa phương, mức tiền công bình quân của người lao động bằng 68,9% so với mức tiền công bình quân của LĐGVGĐ sống cùng gia chủ. 57% người lao động cho biết họ chọn công việc này vì GVGĐ có thu nhập cao hơn so với công việc họ làm trước kia.

Bảng 1. Mức tiền công của LĐGVGĐ và tiền công của một số công việc khác

Một số công việc

Tiền công (đồng)

Thu nhập bình quân của lao động nông nghiệp

1.340.000

Mức lương của việc làm ổn định mà người lao động có thể kiếm được

1.691.000

Mức tiền công phổ biến của lao động tự do

1.990.000

Mức tiền công của công nhân trong doanh nghiệp/nhà máy

2.928.000

Mức tiền công của LĐGV sống cùng gia chủ

3.000.000

Mức tiền công của LDDGV theo giờ 

2.933.000

 

Nguồn: GFCD (2012).

GVGĐ mang lại cơ hội có việc làm ổn định cho nhiều lao động nữ khu vực nông thôn

Trước khi đi làm GVGĐ, phần lớn người lao động làm công việc giản đơn trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp (33,4%), lao động tự do (26,8%), và buôn bán kinh doanh nhỏ (11,8%); một tỷ lệ nhỏ làm công nhân (6%) và làm các công việc liên quan đến thủ công, mỹ nghệ (4,0%). Điều đáng quan tâm là công việc của phần lớn người lao động không ổn định (33,3% làm theo mùa vụ và 24,9% chỉ làm khi nào có việc). Về khả năng kiếm được việc làm ổn định ở địa phương, 54,6% LĐGVGĐ cho biết kiếm được việc làm ổn định là tương đối khó, 20,2% không rõ liệu họ có thể kiếm được việc làm ổn định hay không.

Số có thể kiếm được việc làm ổn định tương đối dễ chỉ có 25,2%. Khó khăn của LĐGVGĐ trong tìm kiếm việc làm có thể được lý giải bởi phần lớn trong số họ có trình độ học vấn thấp, không được đào tạo nghề và đã quá tuổi lao động. Thậm chí, ngay cả đối với những người còn trong độ tuổi lao động, họ cũng gặp khó khăn nhất định trong tìm kiếm việc làm ổn định ở địa phương. Trong những năm qua tại nhiều địa phương, sự phát triển của các doanh nghiệp/công ty đã và đang mở ra cơ hội cho rất nhiều lao động, đặc biệt lao động phổ thông. Tuy nhiên, cơ hội này thường không cho tất cả mà tập trung vào một bộ phận lao động ở nhóm tuổi trẻ (16-25 tuổi). Thông tin tuyển dụng cho thấy, có doanh nghiệp không nhận lao động nữ từ 28 tuổi trở lên, có doanh nghiệp không nhận nữ tuổi 41 trở lên. Trong trường hợp thứ nhất, không tuyển dụng nữ 28 tuổi trở lên, có 87% LĐ GVGĐ trong nghiên cứu này không có cơ hội tham gia tuyển dụng (tính độ tuổi họ bắt đầu đi làm GVGĐ). Trong trường hợp thứ hai, có 43,4% nữ lao động 41 tuổi trở lên trong nghiên cứu không có cơ hội tham gia tuyển dụng (tính độ tuổi họ bắt đầu đi làm GVGĐ). Điều đó có nghĩa là họ không có cơ hội có việc làm tương đối ổn định ở địa phương.

Trong khi tìm kiếm việc làm ổn định ở địa phương là khá khó khăn thì người lao động lại rất dễ dàng để kiếm được công việc GVGĐ. Hơn thế, GVGĐ được phần lớn người lao động đánh giá là công việc ổn định (85,4%). Tỷ lệ người GVGĐ sống cùng và người GVGĐ theo giờ cùng đồng ý với điều này khá tương đồng nhau.

Thỏa thuận/hợp đồng lao động và tuân thủ các thỏa thuận

Việc thỏa thuận về công việc, mức lương, thời gian làm việc giữa gia chủ và LĐGVGĐ vẫn thường là thỏa thuận miệng (>90%). Lý do chính khiến người lao động không ký hợp đồng lao động vì họ cho rằng không cần thiết (61,8%), gia đình chủ là người thân quen, họ hàng (22,6%)[1] (ILO, 2011). Bên cạnh đó, vì LĐGVGĐ chưa được quản lý nên không ít người băn khoăn việc ký kết hợp đồng lao động có bảo vệ lợi ích cho họ khi một bên vi phạm/phá vỡ hợp đồng lao động? Ai, cơ quan nào sẽ đứng ra giải quyết? Nhưng vì không ký hợp đồng lao động, LĐGVGĐ dễ bị lạm dụng, hoặc không thực hiện đúng thỏa thuận ban đầu. Luật Lao động 2012 đã quy định việc ký kết hợp đồng bằng văn bản giữa người lao động và người sử dụng lao động. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, chỉ có 48,6% người lao động có ý định ký kết hợp đồng với gia chủ. Như vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để thay đổi được quan niệm và thực hành của LĐGVGĐ cũng như gia chủ về việc ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản? Ngoài hình thức tuyên truyền nâng cao nhận thức về sự cần thiết phải ký kết hợp đồng bằng văn bản, cần thiết phải có những hướng dẫn cụ thể về mẫu hợp đồng và những biện pháp xử lý khi vi phạm. Các nội dung chính thỏa thuận trong hợp đồng là: công việc phải làm, tiền lương và phương thức trả tiền lương. Nhiều nội dung quan trọng ít được đề cập trong thỏa thuận như vấn đề BHYT, BHXH, làm thêm giờ, bồi thường thiệt hại...

Thời gian làm việc

Do đặc thù công việc, nên thời gian làm việc của LĐGVGĐ thường dài hơn 8h/ngày đối với người ở cùng gia chủ. Kết quả khảo sát của GFCD, 2012 cho thấy, tỷ lệ LĐGVGĐ có thỏa thuận về thời gian làm việc với gia chủ là 30,8%. Trong đó, 61,1% làm nhiều hơn 8h/ngày và 35% làm việc trên 10h/ngày. Theo nghiên cứu của ILO, có 22,6% NGV làm việc vào cả ban ngày và ban đêm và 7,7% làm việc ban ngày nhưng vẫn làm việc cả vào ban đêm. Trung bình số giờ làm việc ban ngày của LĐGVGĐ là 10,30h/ngày, thời gian làm việc ban đêm là khoảng trên 30 phút (ILO, 2011).

Mặc dù Luật Lao động 2012 có quy định thời gian làm việc hằng ngày do hai bên thỏa thuận và ghi rõ trong hợp đồng lao động, nhưng công việc gia đình rất khó để xác định thời gian thực làm việc. Để bảo đảm quyền lợi cho LĐGVGĐ, nhiều nước trên thế giới xác định tổng thời gian làm việc trong tuần hay ngày, hạn chế làm việc thêm giờ và đòi hỏi phải có thù lao bổ sung cho khoảng thời gian làm thêm (ILO, 2010)[2]. Việt Nam cũng cần dựa trên thực tế số giờ làm việc của LĐGVGĐ hiện nay để có quy định về số giờ làm việc tối thiểu của nhóm lao động này nhằm giảm thiểu nguy cơ bị lạm dụng, bị bóc lột.

Điều kiện sống của LĐGVGĐ

Từ nghiên cứu của ILO, có 37,4% người được gia đình chủ bố trí nơi ngủ có phòng riêng, có cửa, có khóa và 6,3% LĐGV có nơi ngủ riêng có cửa, có khóa. Còn lại, có 4,2% người có phòng ngủ riêng, có cửa, không khóa và 10,5% người có nơi ngủ riêng, có cửa, không khóa. 41,6% ngủ chung phòng các thành viên khác của gia đình chủ. Để bảo vệ LĐGVGĐ khỏi nguy cơ bị lạm dụng và đảm bảo quyền riêng tư, cần quy định rõ về nghĩa vụ bố trí nơi ở an toàn cho LĐGV (ILO, 2011).

Tiền công từ công việc GVGĐ

Thu nhập từ công việc GVGĐ được gia đình người lao động sử dụng cho rất nhiều khoản chi tiêu khác nhau. Trong đó, chi tiêu cho sinh hoạt hàng ngày, công việc việc đối nội, đối ngoại của gia đình chiếm tỷ lệ cao nhất (40,4%). Tiếp đến, chi tiêu cho học hành của con cái chiếm 20,8%; 17% cho tích lũy; 15% cho các công việc khác và 6% cho trả nợ nần (GFCD, 2012).

Thu nhập của người lao động trước hết là cho gia đình người ta đã, bản thân gia đình người ta sử dụng thì đương nhiên xã hội được hưởng. Đi làm như vậy chính là giáo dục cho con cái biết được là mẹ phải lao động như vậy để cho các con có điều kiện ăn học. Về bản thân gia đình họ thì họ đã làm được 1 việc rất là quan trọng là nuôi được các con ăn học, mà cái việc đấy đối với gia đình ở nông thôn Việt Nam là hết sức quan trọng (Phỏng vấn sâu Lãnh đạo xã, Nam Định).

Mức sống gia đình LĐGVGĐ được nâng cao

Với khoản thu nhập đóng góp cho gia đình chiếm bình quân 50% tổng thu nhập của cả gia đình trong đó 40,4% thu nhập từ công việc giúp việc gia đình được sử dụng để trang trải sinh hoạt hằng ngày cho thấy, nguồn thu nhập này góp phần quan trọng nâng cao mức sống của gia đình người lao động. Những LĐGVGĐ tham gia vào nghiên cứu này cho biết, mức sống của gia đình họ được nâng cao nhờ có nguồn thu

từ GVGĐ, trong đó 76,4% LĐGVGĐ sống cùng và 61,5% LĐGVGĐ làm theo giờ cho biết điều này.

Nhận xét

  • GVGĐ tạo cơ hội việc làm cho một bộ phận người lao động không có cơ hội/ khả năng tìm được việc làm ổn định, trước khi đi làm GVGĐ, có 16,4% lao động không có việc làm tạo nhu nhập ổn định.
  • GVGĐ được lựa chọn thay thế cho một số dịch vụ gia đình, hiện một số cơ sở nhà trẻ mẫu giáo, nơi chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật công lập…không đáp ứng đủ nhu cầu xã hội, LĐGVGĐ đã phần nào lấp được những khoảng trống này, giúp cho các gia đình có hoàn cảnh yên tâm lao động sản xuất….
  • LĐGVGĐ góp phần cho sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, nơi xuất thân của người lao động.
  • Phân tích trên cho thấy có sự thay đổi tích cực trong mức thu nhập của người lao động trước và sau khi đi làm giúp việc gia đình, điều đó chứng tỏ LĐGVGĐ thực sự có những đóng góp đáng kể để nâng cao mức sống cho  gia đình  mình. Sự cải thiện về mức sống của các hộ gia đình này cũng sẽ góp phần cho sự ổn định và phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.

“Thứ nhất, chúng tôi đánh giá chị em phụ nữ đi làm GVGĐ để mưu sinh và tăng thu nhập cho gia đình, đảm bảo cuộc sống gia đình. Thứ hai nữa cũng đóng góp một phần cho địa phương, góp phần ổn định an sinh xã hội… Cụ thể từ năm 2010 đến nay những người đi làm GVGĐ thì gia đình có những đổi mới trông thấy; cũng góp phần nhỏ bé cho địa phương, các nghĩa vụ trước đây của xã họ đóng góp rất khó khăn…nhưng bây giờ, có tiền về họ đóng góp rất đầy đủ các khoản. Và các phong trào của làng xã và họ cũng rất sẵn sàng quyên góp…” (Phỏng vấn sâu Lãnh đạo xã, Hải Phòng).

  • Thu nhập từ LĐGVGĐ tạo nguồn tiết kiệm, tích lũy cho người phụ nữ khi hết khả năng lao động, thu nhập từ công việc GVGĐ đang góp phần tạo nguồn tiết kiệm, cho 33,1% người lao động – những người mà ngoài khoản thu nhập này, họ không có khoản thu nhập nào khác. Phần lớn họ là những người độc thân, bị hạn chế về cơ hội được gia đình chăm sóc khi tuổi cao. Đây được coi là một kế sách an sinh xã hội, xã hội hóa phù hợp, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách quốc gia.

Khuyến nghị

  1. Những bằng chứng về đóng góp của LĐGVGĐ vào phát triển kinh tế xã hội, cho thấy, việc tăng cường quản lý về LĐGVGĐ và đào tạo nghề cho LĐGVGĐ là một việc làm cần thiết và phải làm ngay trong giai đoạn hiện nay. Điều này mang lại quyền và lợi ích kinh tế cho người lao động, gia đình họ, người sử dụng lao động và sự phát triển xã hội. Được pháp luật bảo vệ, xã hội thừa nhận, nhưng việc cần tập trung là LĐGVGĐ phải được đào tạo nghề, và được hưởng các quyền như người lao động ở ngành nghề khác (quyền được hưởng chính sách an sinh xã hội, quyền lao động); giảm thiểu tình trạng LĐGVGĐ bị lạm dụng, bóc lột sức lao động là vấn đề rất cần được sự quan tâm của các cấp chính quyền, cơ quan quản lý để đảm bảo quyền bình đẳng của lao động nữ. 
  2. Tập trung đẩy mạnh hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức, thay đổi định kiến xã hội đối với nghề và LĐGVGĐ là việc cần thiết, bởi xã hội vẫn chưa nhìn nhận và đánh giá đúng những giá trị mà LĐGVGĐ đóng góp cho sự phát triển đất nước
  3. Phát triển GVGĐ trở thành việc làm bền vững cho người lao động là xu hướng tất yếu để ghi nhận những đóng góp kinh tế-xã hội của nghề này trong sự phát triển kinh tế đất nước.
  4. Để giảm gánh nặng lao động gia đình trên vai người phụ nữ và khuyến khích các thành viên trong gia đình cùng tham gia và chia sẻ trách nhiệm đối với công việc này, cần thực hiện một chiến dịch truyn thông thay đổi nhận thức của toàn xã hội v giá trị kinh tế và tinh thần của lao động trong gia đình đối với sự phát triển của từng thành viên trong gia đình, gia đình và toàn xã hội. Chiến dịch cần nhấn mạnh vai trò kép của phụ nữ: vừa lao động tạo thu nhập vừa đảm đương vai trò chủ đạo trong tái sản xuất sức lao động của gia đình và chăm sóc các thành viên.

 

 

[1] ILO (2011).Việc làm bền vững đối với lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam.

[2] ILO (2010). Báo cáo IV, Hội nghị lao động quốc tế, Kỳ họp thứ 99

TS. Ngô Thị Ngọc Anh