KHUÔN MẪU ỨNG XỬ GIỮA CÁC THẾ HỆ TRONG GIA ĐÌNH

Nếu quan hệ vợ chồng là mối quan hệ theo chiều ngang thì quan hệ giữa các thế hệ là quan hệ theo chiều dọc. Trong gia đình truyền thống, quan hệ theo chiều dọc là mối quan hệ cơ bản của gia đình. Quan hệ theo chiều dọc chi phối quan hệ theo chiều ngang. Mối quan hệ giữa các thế hệ có thể được phân chia thành hai loại khác nhau: quan hệ giữa cha mẹ với con cái chưa trưởng thành và quan hệ giữa con cháu với người cao tuổi. Mỗi loại quan hệ này đều có đặc điểm riêng và chứa trong đó những khuôn mẫu ứng xử đặc thù.

 

Khuôn mẫu ứng xử giữa cha mẹ và con cái chưa trưởng thành

Ở Việt Nam, dù muốn hay không văn hóa Nho giáo có ảnh hưởng đến việc hình thành khuôn mẫu ứng xử giữa cha mẹ và con cái. Đó là khuôn mẫu “trên ra lệnh, dưới phục tùng”, con cái phải tuyệt đối vâng lời cha mẹ. Ca dao Việt Nam có câu: Cá không ăn muối cá ươn/Con không vâng lời cha mẹ trăm đường con hư.

Trong gia đình truyền thống, cha mẹ hầu như có uy quyền tuyệt đối với con cái. Luật pháp cho phép cha mẹ, đặc biệt là người cha có quyền trừng phạt con nếu chúng không vâng lời. Hành động này được xem là một biện pháp giáo dục, là thể hiện tình thương yêu của cha mẹ đối với con cái nhằm giúp chúng không đi chệch khỏi các chuẩn mực xã hội. Câu tục ngữ “Thương cho roi cho vọt/Ghét cho ngọt cho bùi” vừa hàm ý cha mẹ có quyền trừng phạt con cái về thể xác, vừa nhắc nhở cha mẹ không bao giờ được nuông chiều con cái.

Trong bộ luật nhà Lê (thế kỷ XVII-XVIII) không có tội gì dành cho cha mẹ đánh con khi chúng không vâng lời dẫu có gây ra thương tích. Ngược lại, nếu con cái có hành động côn đồ với cha mẹ được xem như tội ác nghiêm trọng nhất, chỉ sau những tội đối với nhà vua và quốc gia: Nếu con cái đánh đập cha mẹ thì bộ luật nhà Lê phạt tội đi đày tới một châu xa; nếu đánh cha mẹ bị thương thì thành tội xử giảo (Theo luật nhà Đường và nhà Minh Trung Quốc, con cái đánh đập cha mẹ thì phải tội chém đầu). Ngay cả việc nặng lời thóa mạ cha mẹ, cũng phải chịu tội nghiêm khắc, đi đầy một châu ngoài [3]. Insun Yu còn phát hiện ra rằng, phong tục Việt Nam còn trao cho cha mẹ cả quyền được bán con trong trường hợp cần thiết, đó là khi cha mẹ lâm vào cảnh nghèo đói, khi đó cha mẹ buộc phải bán đi một hay nhiều đứa con để giảm bớt cái ăn của gia đình hay để có tiền đong gạo [3]. 

Kết quả của mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong gia đình truyền thống là tạo ra những con người tuân thủ, ngoan ngoãn phục tùng. Mẫu mực của người xưa là quá khứ, là cái đã qua, cái có trong lịch sử chứ không phải là hiện tại, càng không phải là tương lai, cái con người sáng tạo và đi tới. Con người chỉ cần làm theo, học theo các bậc tiên cổ, sao chép, rập khuôn theo những khuôn mẫu có sẵn trong lịch sử, không cần và không được phép sáng tạo hay sửa đổi cái gì khác với cha ông [7].

Cơ sở của khuôn mẫu “trên ra lệnh dưới phục tùng” là quan niệm về tôn ti trật tự trong gia đình. Theo đó, cha mẹ là bề trên, con cái là kẻ dưới. Con cái phải tuyệt đối phục tùng cha mẹ, nhất nhất làm theo sự chỉ dẫn và mệnh lệnh của cha mẹ. Đứa con ngoan là đứa con luôn biết vâng lời dạy bảo của cha mẹ, không bao giờ cãi lại cha mẹ, tranh luận với cha mẹ (Ca dao: Con ơi muốn nên thân người/Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha). Mô hình ứng xử này dẫn đến sự độc đoán của cha mẹ, phản ánh chiều chi phối từ cha mẹ đến con cái ở mức độ cao, trong khi chiều giao tiếp con cái - cha mẹ ở mức độ rất thấp. Nói theo ngôn ngữ hiện đại là sự không công nhận quyền có tiếng nói của trẻ em trong gia đình. Cha mẹ độc đoán thường đi kèm với những biện pháp kiểm soát chặt chẽ, quản lý gắt gao và khống chế mọi hành vi của con cái, áp dụng các hình phạt khắt khe với con cái.

Tuy nhiên, cũng giống như quan hệ vợ chồng, quan hệ cha mẹ con cái trong gia đình Việt Nam truyền thống không hoàn toàn rập khuôn theo khuôn mẫu ứng xử của văn hóa Nho giáo. Đúng như nhận xét của Insun Yu: “Nho giáo còn xa mới thấm sâu vào trong đời sống xã hội (Việt Nam). Đám đông dân chúng vẫn còn ưa thích các phong tục cổ truyền của mình hơn là đạo lý Nho giáo”. Trên thực tế, uy quyền của người cha theo kiểu đạo Nho không thực sự phổ biến và chủ yếu được thể hiện ở một số ít gia đình thuộc tầng lớp có quyền. Ở Việt Nam, con cái rất gần gũi với cha mẹ, đặc biệt là với mẹ, chứ không xa cách. Theo thống kê của tác giả Phạm Việt Long, trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, có 72 câu tục ngữ nói về quan hệ mẹ con, trong khi chỉ có 23 câu nói về quan hệ cha con [5]. Trong ca dao, tục ngữ Việt Nam, người mẹ cũng được đánh giá cao hơn người cha: Lên cao mới biết non cao/Nuôi con mới biết công lao mẫu từ; Ơn cha là ba ngàn bảy/Nghĩa mẹ là bảy ngàn ba; Cha sinh không bằng mẹ dưỡng; Nhất mẹ, nhì cha, thứ ba bà ngoại.

Trong văn hóa Nho giáo, giới tính là nhân tố quyết định ngôi thứ trong gia đình. Phụ nữ có vị trí thấp hơn nhiều so với nam giới và buộc phải phục tùng nam giới. “Trọng nam khinh nữ” là khuôn mẫu ứng xử phổ biến trong gia đình theo văn hóa Nho giáo. Không thể nói rằng người Việt Nam không thích con trai, không coi trọng con trai hơn con gái. Nhưng như đã phân tích ở trên, phụ nữ có năng lực và địa vị kinh tế rất rõ ràng, đặc biệt là trong các gia đình nghèo. Con gái là nguồn lao động tạo ra của cải cho gia đình. Nhiều con gái được coi là giàu có hơn nhiều con trai (tam nam bất phú, tứ nữ bất bần). Các hộ gia đình đều mong muốn có cả con trai và con gái (có nếp có tẻ), chứ không phải chỉ mong có con trai. Hơn nữa, người ta còn mong có con gái đầu lòng hơn con trai đầu lòng, vì con gái có thể để đỡ đần công việc cho cha mẹ (ruộng sâu, trâu nái không bằng con gái đầu lòng). Trong trường hợp không có con trai, cha mẹ cũng có lý do để tự an ủi mình: Trai mà chi, gái mà chi/Sinh ra có ngãi có nghì thì  hơn.

Theo phong tục cổ truyền của người Việt, con gái cũng có thể nối dõi trong trường hợp nhà không có con trai. Theo Insun Yu, việc con gái nối dõi đã được chính thức công nhận lần đầu tiên vào thời Thiệu Bình (1434-1440) của Lê Thái Tông và được khẳng định lại bởi Thánh Tông (1460-1497) và Lê Chiêu Tông (1516-1527). Phong tục này cũng được bộ luật nhà Lê tuân theo. Do vậy, nếu cha mẹ không sinh được con trai thì người trưởng nữ sẽ được hưởng ruộng hương hỏa để thờ cúng tổ tiên. Quyền của người trưởng nữ được hưởng phần gia tài hương hỏa có nghĩa là được thờ cúng tổ tiên, bởi vì kế tục dòng dõi gia đình và kế tục thờ cúng tổ tiên có nghĩa tương tương nhau.

Cũng theo Insun Yu, dưới con mắt của một vài nho sĩ, tục con gái nối dõi là đáng chê trách. Học giả Phạm Đình Hồ kể rằng, việc con gái kế tục gia đình được áp dụng rộng rãi ở thế kỷ XIX, nhưng ông này nói rằng, linh hồn người chết sẽ từ chối đồ cúng tế của những phụ nữ và con cháu của họ. Tuy nhiên, các bậc cha mẹ thuộc tầng lớp phong lưu thời đó lại thấy việc phụ nữ nối dõi tông đường là tự nhiên và hơn nữa rất có lợi cho họ vì họ muốn trao lại dòng giống và tài sản của gia đình vào tay con cái của họ hơn là một kẻ thứ ba. Trong những trường hợp như thế, theo nhận xét của Insun Yu, sự phân biệt nam và nữ là hoàn toàn không thực tế [3].

 Có thể thấy, khuôn mẫu ứng xử giữa cha mẹ và con cái trong gia đình Việt Nam truyền thống tuy có bị chi phối bởi văn hóa Nho giáo nhưng nó mang đậm dấu ấn đặc trưng của văn hóa bản địa.

Khuôn mẫu ứng xử giữa con cháu với người cao tuổi

Cơ sở xã hội hình thành khuôn mẫu ứng xử giữa con cháu với người cao tuổi trong gia đình Việt Nam truyền thống là việc đề cao đạo hiếu, lòng biết ơn của con cháu đối với công lao sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ, ông bà. Trong xã hội truyền thống khi mà nhà nước phúc lợi chưa hình thành, chỗ dựa duy nhất của người cao tuổi khi về già là con cháu của họ. Trong gia đình Việt Nam truyền thống, quan hệ ông bà - cha mẹ - con cháu là đặc trưng của mối quan hệ gia đình theo chiều dọc. Hơn nữa, trong truyền thống, quan hệ theo chiều dọc còn được coi trọng hơn quan hệ theo chiều ngang (quan hệ vợ chồng), chi phối và quyết định các mối quan hệ theo chiều ngang. Theo tác giả Lê Ngọc Văn (2016), trong gia đình truyền thống thì đông con nhiều cháu, ông bà, cha mẹ, con cháu cùng chung sống quây quần dưới một mái nhà là hình ảnh lý tưởng của gia đình xưa. Gia đình vừa là cộng đồng lao động, cộng đồng sinh hoạt và cũng là nơi con người sống trọn vẹn cuộc đới của mình. Con người từ lúc sinh ra cho đến khi rời bỏ nhân thế đều sống trong gia đình. Lúc nhỏ tuổi được cha mẹ nuôi dưỡng, chăm sóc, lúc trưởng thành họ nuôi dưỡng cha mẹ già và khi về già họ lại được con cháu nuôi dưỡng, chăm sóc. Vòng quay này hầu như là một quy luật, không thay đổi đối với một kiếp người trong xã hội nông nghiệp cổ truyền. Sự sống còn của trẻ em và người già sẽ bị đe dọa nếu gia đình tan vỡ. Trong nền kinh tế tự cung tự cấp đó, tất cả mọi người sống phụ thuộc lẫn nhau. Tinh thần trách nhiệm và sự hy sinh cho nhau là cơ sở bảo đảm sự sống còn của gia đình [4]. 

Trong gia đình truyền thống, con cháu chứ không phải ai khác sẽ là người nuôi dưỡng chăm sóc người cao tuổi khi họ không còn khả năng lao động để tự nuôi sống mình (trẻ cậy cha, già cậy con). Hiếu thảo với cha mẹ vừa là tình cảm, vừa là đạo lý. Phan Kế Bính viết: Trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái, thì đạo làm con là phải lấy chữ hiếu làm đầu, hiếu là biết kính trọng thương mến cha mẹ, biết vâng lời cha mẹ, biết phụng dưỡng cha mẹ [1]. Trách nhiệm của con cái là phải chăm sóc, phụng dưỡng bố mẹ phù hợp với đạo lý làm người với các hành vi ứng xử, kính trọng lễ phép, chân thực, thành tâm của con, cháu đối với cha mẹ. Phải giữ thái độ, hành vi ứng xử cung kính, lễ phép, nhẹ nhàng, mềm mỏng, lựa ý với cha mẹ biểu hiện mình là người con hiếu thảo; kiên nhẫn và nhân hậu, thuốc thang, chăm sóc, bồi dưỡng chu đáo khi cha mẹ ốm đau bệnh tật.... Việc nuôi dưỡng cha mẹ già là nội dung và là nhiệm vụ cao nhất của đạo hiếu. Nuôi dưỡng cha mẹ, ông bà cũng là tiêu chuẩn của đạo đức con người. Đây cũng là nguyên tắc ứng xử cao nhất trong gia đình của người Việt đã có từ xa xưa, đó là cái gốc của nhân tâm.

Hai khuôn mẫu nổi bật trong cách ứng xử giữa con cháu với người cao tuổi trong gia đình Việt Nam truyền thống là “kính trên nhường dưới” và “cha từ con hiếu”. Khác với các khuôn mẫu ứng xử giữa cha mẹ đối với con cái chưa trưởng thành mang tính chất một chiều nhiều hơn, khuôn mẫu ứng xử giữa con cháu với người người cao tuổi thể hiện một sự tương tác hại chiều rõ ràng hơn. Cha mẹ, ông bà được con cháu yêu thương, kính trọng, hiếu thảo nhưng họ cũng dành cho con cháu tình cảm nhân từ và sự bao dung.

Trong quan hệ cha mẹ con cái, chữ hiếu của con đối với cha mẹ không phải là vô điều kiện như quan niệm của Nho giáo. Con cái có bổn phận hiều thảo với cha mẹ, nhưng để con cái hiếu thảo thì cha mẹ phải nhân từ, hết lòng yêu thương và có trách nhiệm với con cái. khuôn mẫu ứng xử ở đây là “cha từ con hiếu”. Cha mẹ cũng không kiểm soát quá khắt khe với con cái mà dành cho con cái những khoảng tự do để phát triển. Chỉ trừ con trai cả khi lập gia đình ở chung với bố mẹ, còn các con trai khác khi lấy vợ đều được cha mẹ tạo điều kiện về vật chất (như làm nhà, chia ruộng, trợ giúp đồ dùng sinh hoạt...) cho ra ở riêng để tự lập xây dựng cuộc sống của mình. Khi đã ra ở riêng, con cái gần như có cuộc sống độc lập với cha mẹ và  cha mẹ cũng ít can thiệp vào đời sống riêng tư của con cái (đời cua cua máy, đời cáy cáy đào). Cha mẹ cũng không buộc con cái sống theo cách của mình, làm theo cách của mình mà cho con cái tự do phát triển (con hơn cha là nhà có phúc).

Trong quan hệ cha mẹ với con cái chưa trưởng thành, một số khuôn mẫu ứng xử của văn hóa Nho giáo được tiếp nhận khá rõ nét như “trên ra lệnh, dưới phục tùng”, “tôn ti trật tự” trong gia đình. Tuy nhiên, một số khuôn mẫu ứng xử khác của Nho giáo như “trọng nam khinh nữ” (coi trọng con trai hơn con gái), “quyền nối dõi và thừa kế gia sản chỉ dành cho con trai” đã không còn giữ nguyên giá trị và không thực tế trong trong gia đình Việt Nam truyền thống.

Trong mối quan hệ giữa con cháu với người cao tuổi, sự tương tác giữa các thế hệ là rất nổi trội thể hiện ở hai khuôn mẫu “kính trên nhường dưới” và “cha từ con hiếu”. Đây có thể coi là những khuôn mẫu ứng xử mang nhiều đặc trưng của văn hóa bản địa và chịu ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo nhiều hơn là văn hóa Nho giáo.

Tà liệu tham khảo

  1. Đào Duy Anh (2013), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb. Hồng Đức
  2. Trần Thúy Anh (1998), Thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc bộ qua một số ca dao – tục ngữ (Luận văn thạc sỹ).
  3. Mai Huy Bích và Lê Thị Kim Lan (1999), Điạ vị phụ nữ ngư dân ở một số làng đánh cá miền Trung. Tạp chí Xã hội học, N. 3 & 4/1999.
  4. Đỗ Thị Bình và các tác giả khác (2002), Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
  5. Phạm Việt Long (2010), Tục ngữ ca dao về quan hệ gia đình, NXB. Đại học quốc gia Hà Nội.

 

TS. Nguyễn Thanh Huyền