KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH CHĂM SÓC SAU SINH Ở BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 1 TUỔI

Thời kỳ sau sinh là một giai đoạn quan trọng trong cuộc đời của sản phụ và trẻ sơ sinh. Trong giai đoạn này có rất nhiều nguy cơ về sức khỏe mà bà mẹ có thể gặp phải như: băng huyết, nhiễm trùng, sản giật sau sinh, các vấn đề về bàng quang, đau lưng, đau tiểu khung, trĩ, táo bón, đau tầng sinh môn (TSM), lo lắng, mệt mỏi, trầm cảm, các vấn đề về vú… bà mẹ cũng rất cần đến sự tư vấn, giúp đỡ của những người có kinh nghiệm về việc phòng chống thiếu máu, bổ sung vitamin A, nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM), tiêm chủng và theo dõi tăng cân của trẻ, kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) sau sinh… Với trẻ sơ sinh, sức khỏe và tính mạng của trẻ cũng có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều nguyên nhân khác nhau: những bất thường bẩm sinh, sang chấn khi sinh, nhiễm khuẩn, rối loạn điều hòa nhiệt, vàng da nặng, viêm mắt, viêm gan… Nếu bà mẹ và trẻ sơ sinh được chăm sóc tốt sẽ tạo được tiền đề tốt cho sức khỏe mẹ cũng như sức khỏe và sự phát triển của trẻ, góp phần giảm thiểu tỷ lệ bệnh tật và tử vong.

Tại Việt Nam, trong những năm trước đây, đa số các chương trình dự án thường tập trung chủ yếu vào chăm sóc trước và trong khi sinh, các chương trình can thiệp trong lĩnh vực kế hoạch hóa gia đình thường bắt đầu muộn hơn, vì vậy tạo nên một khoảng trống sau sinh. Cho đến năm 2000, chăm sóc sau sinh (CSSS) mới chính thức là một chỉ tiêu theo dõi trong Chiến lược quốc gia về Chăm sóc sức khỏe sinh sản. Trên thực tế, sau thời gian sinh con, bà mẹ và bé thường chỉ lưu lại cơ sở y tế khoảng 24-48 giờ, khi trở về nhà thì gần như hoàn toàn phụ thuộc vào bà mẹ và gia đình, trong khi đó kiến thức và thực hành chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh thời kỳ hậu sản của bà mẹ và những thành viên khác trong gia đình hiện chủ yếu mang tính kinh nghiệm và tự phát, còn nhiều bất cập. Hướng dẫn quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản đã quy định các nội dung CSSS cho bà mẹ và trẻ sơ sinh thời kỳ hậu sản, từ ngày thứ 2 đến hết 6 tuần nếu bà mẹ xuất viện với các nội dung chính gồm Hỏi về sức khỏe mẹ và con; khám mẹ và con; hướng dẫn: các nội dung chăm sóc cho mẹ, chăm sóc cho con và tư vấn về những dấu hiệu bất thường có thể xảy ra.

Bài viết dựa trên kết quả nghiên cứu “Thực trạng kiến thức, thực hành chăm sóc sau sinh ở bà mẹ có con dưới 1 tuổi” tại 3 xã bãi ngang huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa năm 2016 nhằm: Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành chăm sóc sau sinh ở bà mẹ có con dưới 1 tuổi; Tìm hiểu một số vấn đề sức khỏe của trẻ sơ sinh và bà mẹ trong giai đoạn sau sinh; xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành chăm sóc sau sinh của bà mẹ.

Đối tượng nghiên cứu gồm 216 bà mẹ sinh con từ ngày 1/1/2016 đến 30/6/2016, đa số các bà mẹ (183 người) ở độ tuổi 21-35 (84,7%). Có 11 bà mẹ sinh con ở độ tuổi dưới 20 tuổi (5,1%) và 22 bà mẹ sinh con ở độ tuổi trên 35 tuổi (10,2%). Số bà mẹ có trình độ tốt nghiệp trung học cơ sở (46,8%). Số bà mẹ tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên chiếm 31%. Hơn một nửa số bà mẹ làm nghề nông, ngư nghiệp (52,3%), số bà mẹ làm nghề nghiệp khác là 47,7%.

Kiến thức chăm sóc sau sinh của bà mẹ

Có 69 bà mẹ có tổng điểm đạt về kiến thức chăm sóc sau sinh (31,9%), tỷ lệ bà mẹ có kiến thức chưa đạt là 68,1%, cụ thể:

Bảng 1. Kiến thức của bà mẹ về dinh dưỡng,

nuôi con bằng sữa mẹ và kế hoạch hóa gia đình sau sinh

 

Nội dung

Kiến thức

Tỷ lệ (%)

Kiến thức về dinh dưỡng, vệ sinh, lao động

Đạt

76,9

Chưa đạt

23,1

Kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ

Đạt

42,1

Chưa đạt

57,9

Kiến thức về kế hoạch hóa gia đình sau sinh

Đạt

4,2

Chưa đạt

95,8

Trong các nhóm kiến thức chuyên biệt, kết quả cho thấy các bà mẹ hiểu biết tốt nhất là kiến thức về dinh dưỡng, vệ sinh, lao động (tỷ lệ đạt cao nhất: 76,9%). Kiến thức đạt về nuôi con bằng sữa mẹ là 37,5%; về KHHGĐ rất thấp, chỉ đạt 4,2%.

Phần lớn các bà mẹ đã trả lời đúng về việc cho trẻ bú sớm trong 1 giờ đầu sau sinh (91,7%) và không cho trẻ ăn hoặc uống thức ăn gì khác trước bữa bú đầu (93,5%), nhóm kiến thức mà các bà mẹ còn thiếu nhiều là thời điểm cai sữa cho trẻ và cách bảo quản, dự trữ sữa mẹ. Đây là những kiến thức ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu sau sinh.

Bảng 2. Kiến thức về một số nội dung trong việc nuôi con bằng sữa mẹ

 

Kiến thức

Phương án trả lời

Tỷ lệ (%)

Thời điểm cho trẻ bú bữa đầu tiên

≤ 1 giờ đầu

91,7

> 1 giờ

8,3

Không cho trẻ ăn hoặc uống trước bữa bú đầu

Đúng

84,3

Sai

15,7

Thời điểm cho trẻ ăn bổ sung

≥ 6 tháng

40,7

< 6 tháng

59,3

Thời điểm cai sữa cho trẻ

≥ 24 tháng

38,4

< 24 tháng

61,6

Biết rằng có thể vắt trữ sữa cho trẻ

31,5

Không

68,5

 

Với nội dung kiến thức về KHHGĐ sau sinh, Bảng 3 cho thấy hơn một nửa số bà mẹ (56,5%) cho rằng sau khi có kinh trở lại mới có thể có thai, thậm chí có tới gần 10% bà mẹ cho rằng sau khi cai sữa mới có thể có thai, chỉ có 6,9% bà mẹ trả lời đúng về thời điểm có thể có thai trở lại nếu giao hợp mà không dùng biện pháp tránh thai (BPTT). Những quan điểm không đúng của bà mẹ sẽ dẫn đến việc các cặp vợ chồng trì hoãn việc quyết định sử dụng BPTT, từ đó dẫn đến khả năng sẽ bị có thai ngoài ý muốn trong thời kỳ nuôi con nhỏ, trước khi sử dụng biện pháp tránh thai.

Bảng 3. Kiến thức về thời điểm có thể có thai trở lại nếu giao hợp mà không sử dụng biện pháp tránh thai

 

Phương án trả lời

Tỷ lệ (%)

Sau khi có kinh

56,5

Sau sinh 6 tuần

6,9

Sau sinh 6 tháng

15,3

Khi cai sữa

9,3

Không biết

12,0

Tổng

100,0

 

Về các BPTT hiện đại có thể áp dụng trong thời kỳ cho con bú, biện pháp dụng cụ tử cung (DCTC) và cao cao su (BCS) là hai BPTT hiện đại mà các bà mẹ biết đến nhiều nhất: 58,8% bà mẹ trả lời là có thể sử dụng DCTC và 50,0% bà mẹ trả lời là có thể sử dụng BCS (Bảng 4). Với hai biện pháp thuốc tiêm và cấy tránh thai là biện pháp tránh thai hiện đại, hiệu quả tránh thai cao, dễ sử dụng, thành phần chỉ chứa progestin, không có estrogen, không ảnh hưởng đến sự tiết sữa, phù hợp với phụ nữ nuôi con bằng sữa mẹ, mặc dù vậy, kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có 4 trong số 216 bà mẹ kể được biện pháp thuốc cấy tránh thai (1,9%) và 1 bà mẹ (0,5%) kể được biện pháp thuốc tiêm tránh thai. Kết quả này cho thấy còn một khoảng trống rất rõ trong việc tư vấn về KHHGĐ sau sinh, các bà mẹ hầu như chỉ được biết đến chủ yếu là DCTC và BCS, trách nhiệm của y tế cơ sở và cộng tác viên dân số trong việc tư vấn hướng dẫn đa dạng hóa BPTT tại cộng đồng còn chưa được thực hiện.

Bảng 4. Kiến thức về các BPTT hiện đại có thể sử dụng khi đang thực hiện nuôi con

bằng sữa mẹ

 

Phương án trả lời

Tỷ lệ (%)

Đặt DCTC

58,8

Viên tránh thai đơn thuần

19,0

Viên TTKH khi con > 6 tháng

9,3

Bao cao su

50,0

Thuốc tiêm tránh thai

0,5

Thuốc cấy tránh thai

1,9

 

Thực hành chăm sóc sau sinh của bà mẹ

Có 101/216 bà mẹ có thực hành đạt về CSSS, chiếm 46,8%. Số bà mẹ thực hành chưa đạt là 115, chiếm 53,2%, trong đó tỷ lệ uống bổ sung viên sắt và vitamin A của các bà mẹ tham gia NC là cao nhất (74,1%).

Bảng 5. Thực hành chăm sóc sau sinh của các bà mẹ

 

Nội dung

Phương án trả lời

Tỷ lệ (%)

Vận động nhẹ nhàng sau sinh

6 - 8 giờ

53,7

> 8 giờ

46,3

Đi làm bình thường trở lại

Sau 6 tháng

34,3

Trước 6 tháng

65,7

Uống bổ sung vitamin A

51,9

Không

48,1

Uống bổ sung viên sắt/folic

74,1

Không

25,9

Cho trẻ bú bữa bú đầu tiên

Trong vòng 1 giờ

68,5

Sau 1 giờ

31,5

Cho trẻ ăn bổ sung

≥ 6 tháng

34,7

< 6 tháng

65,3

Tỷ lệ bà mẹ vận động sớm sau sinh đạt 53,7%. Có tới 65,7% bà mẹ đi làm bình thường trở lại trước thời điểm 6 tháng. Có 51,9% bà mẹ có uống bổ sung vitamin A; 74,1% bà mẹ có uống bổ sung viên sắt/folic trong tháng đầu sau sinh. Tỷ lệ bà mẹ cho bú trong vòng 1 giờ đầu sau sinh đạt 68,5%. Có 141 trong tổng số 216 bà mẹ (65,3%) cho trẻ ăn thức ăn khác ngoài sữa mẹ trước khi trẻ được 6 tháng tuổi. Tỷ lệ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu trong nghiên cứu này là 34,7%, cao hơn kết quả Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ (MICS) ở Việt Nam năm 2014 (24,3%).

Các vấn đề sức khỏe của bà mẹ và bé

Vấn đề sức khỏe bà mẹ gặp nhiều ở giai đoạn sau sinh là: đau bụng dưới (45,8%); đau lưng (28,7%) và các vấn đề về vú (gần 30%). Có 10,2% bà mẹ bị mất ngủ liên miên, xấp xỉ 5% các bà mẹ gặp các vấn đề: sốt, ra máu âm đạo kéo dài, sản dịch có mùi hôi.

Các vấn đề sức khỏe của bé thường gặp là sốt (13%); quấy khóc thường xuyên (15,7%); vàng da kéo dài (10,2%); tiết dịch như mủ ở mắt (7,9%); không chịu bú mẹ (6,9%).

Đa số các bà mẹ tham gia nghiên cứu đều có sự giúp đỡ, chăm sóc trong giai đoạn sau sinh. Các bà mẹ nhận được sự giúp đỡ nhiều nhất từ mẹ đẻ (66,7%), mẹ chồng (58,3%) và chồng (59,3%).

Kiến thức chăm sóc sau sinh mà bà mẹ nhận được nhiều nhất từ nhân viên y tế, dân số (80,1%), bên cạnh đấy là các nguồn khác như sách báo, ti vi, internet, mẹ chồng, mẹ đẻ (30-45%). Điều này cho thấy nhân viên y tế, dân số có vai trò quan trọng trong việc cung cấp kiến thức cho bà mẹ, vì vậy cần có chương trình đánh giá, từ đó thực hiện các can thiệp nhằm trang bị kiến thức đầy đủ và kỹ năng tư vấn về chăm sóc sau sinh cho hệ thống nhân viên y tế xã, y tế thôn và cộng tác viên dân số.

Bảng 6. Số lần thăm khám mẹ và bé tại nhà của nhân viên y tế sau sinh

 

Số lần thăm

Tỷ lệ (%)

1 lần

47,2

≥ 2 lần

38,4

Không

14,4

Tổng

100,0

Tổng cộng có 185 (85,6%) trường hợp được nhân viên y tế thăm tại nhà trong giai đoạn sau sinh. Tỷ lệ thăm 1 lần là 47,2%, thăm 2 lần trở lên là 38,4%. Có 31 trường hợp (14,4%) không có nhân viên y tế thăm tại nhà.

Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành chăm sóc sau sinh của bà mẹ

Nghiên cứu cho thấy có sự liên quan giữa nghề nghiệp và kiến thức chăm sóc sau sinh của bà mẹ, bà mẹ làm nghề nông, ngư nghiệp có kiến thức thấp hơn bà mẹ trong nhóm nghề nghiệp khác (24,8% so với 39,8%). Ở lĩnh vực thực hành chăm sóc sau sinh, nhóm bà mẹ có nghề nghiệp khác tỷ lệ đạt cũng cao hơn nhóm bà mẹ làm nông, ngư nghiệp (57,3% so với 37,2%). Các bà mẹ ở nhóm có trình độ văn hóa tiểu học và trung học cơ sở có cơ hội kiến thức cũng như thực hành đạt thấp hơn nhóm bà mẹ có trình độ văn hóa từ trung học phổ thông trở lên, sự khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê.

Có sự liên quan giữa số con và thực hành chăm sóc sau sinh của bà mẹ, bà mẹ ở nhóm 2 con trở lên có cơ hội thực hành đạt cao hơn bà mẹ ở nhóm có 1 con (32,9% so với 29,9%).

Về mối liên quan giữa kiến thức và thực hành chăm sóc sau sinh của bà mẹ cho thấy các bà mẹ có kiến thức đạt về CSSS sẽ có cơ hội thực hành đạt cao hơn các bà mẹ ở nhóm có kiến thức chưa đạt, kết quả này cũng tương đồng với kết quả của một số nghiên cứu trước đó.

Khuyến nghị

- Cần có các hoạt động, các chương trình hướng dẫn nuôi con bằng sữa mẹ thực sự hiệu quả nhằm nâng cao kiến thức, thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu.

- Tăng cường truyền thông, tư vấn về việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình sau sinh: thời điểm có thai, các biện pháp tránh thai trong thời kỳ cho con bú.

- Xây dựng các can thiệp nhằm nâng cao tỷ lệ và chất lượng việc thăm khám sau sinh tại nhà của nhân viên y tế xã, y tế thôn. Nâng cao năng lực mạng lưới cộng tác viên dân số, y tế thôn để họ có đủ kiến thức, kỹ năng tư vấn, hướng dẫn nuôi con bằng sữa mẹ, hướng dẫn sử dụng các BPTT thời kỳ sau sinh một cách hiệu quả.

- Thực hiện tốt các chương trình xã hội hóa công tác KHHGĐ thông qua đẩy mạnh việc tiếp thị xã hội các phương tiện tránh thai, chú trọng các biện pháp tránh thai với người đang cho con bú.

 

Lê Thị Vân