NGUỒN NHÂN LỰC VỚI CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 Ở VIỆT NAM

Cũng như nhiều nước đang phát triển khác, Việt Nam đang bước vào cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0). Trong thời gian gần đây, CMCN 4.0 được đề cập nhiều. Bản chất của CMCN 4.0 là sản xuất thông minh nhờ vào tiến bộ của công nghệ số trong hai thế giới kết nối với nhau trong đó ta đang và sẽ sống: Thế giới các thực thể và thế giới các phiên bản số của các thực thể (thế giới số).

Hình 1. Các cuộc cách mạng công nghiệp

                Nguồn: Suy nghĩ về CMCN 4.0 và Giáo dục đại học, Viettimes, 2/2018.

Để triển khai CMCN 4.0 cần phải có nguồn nhân lực chất lượng cao và cụ thể là nguồn nhân lực số. Cần phát triển và đào tạo ngay nguồn nhân lực số để đông đảo người lao động có thể dùng được công nghệ số trong nghề nghiệp của họ và một bộ phận tinh hoa có thể tạo ra công nghệ số cho những nghề nghiệp đó, nhất là những nghề trong định hướng phát triển của đất nước.

Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị Ban chấp hành lần thứ 6 khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới xác định một nội dung quan trọng là nâng cao chất lượng dân số đây cũng là tiền đề để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam trong tình hình mới.

Theo Tổng cục Thống kê, Dân số Việt Nam năm 2018 là 94,66 triệu người, trong đó dân số nông thôn là 60,79 triệu người, chiếm 64,8%. Dân số Việt Nam đang trong giai đoạn cơ cấu dân số vàng, tức số người trong tuổi lao động cao. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 55,1 triệu người, dân số trong độ tuổi lao động là 48,4 triệu người. Theo kết quả điều tra năm 2016 của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên, không có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm 84%. Như vậy, số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, kể cả sơ cấp nghề cũng chỉ chiếm 16%. Trong đó có trình độ cao đẳng và đại học trở lên là 8,7%. Trình độ sơ cấp nghề và trung cấp chiếm 5,3%. Như vậy, nếu tính số người từ 15 tuổi trở lên, lực lượng lao động có trình độ cao đẳng và đại học trở lên chỉ có gần 5 triệu người (4,79 triệu); trong đó số người trong tuổi lao động cũng chỉ có hơn 4 triệu người (4,2 triệu người). Tương tự như vậy tính trong số người từ 15 tuổi trở lên có trình độ sơ cấp nghề và trung cấp có khoảng gần 3 triệu người (2,92 triệu người); số người trong tuổi lao động là 2,56 triệu người (Tổng cục Thống kê, Tình hình kinh tế-xã hội 9 tháng đầu năm 2018).

Quy mô lực lượng lao động của Việt Nam tiếp tục gia tăng

 Hình 2 cho thấy, quy mô lực lượng lao động của (LLLĐ) của Việt Nam tiếp tục gia tăng, từ 38,5 triệu người (2000) lên 54,4 triệu người (2016). Như vậy, trong vòng hơn 15 năm, LLLĐ của Việt Nam đã tăng thêm khoảng 15,9 triệu người, trung bình mỗi năm tăng hơn 1 triệu người, với mức tăng trưởng bình quân hàng năm khoảng 2,6 điểm phần trăm, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng bình quân của dân số (xấp xỉ 1,1%/năm).

Hình 2. Quy mô, tốc độ tăng LLLĐ 15+ và tốc độ tăng dân số, 2000-2016

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Số liệu dân số và lao động.

Nguyên nhân gia tăng LLLĐ chủ yếu là do: (1) Tăng trưởng dân số kết hợp với tăng nhanh tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động; (2) Tỷ lệ tham gia LLLĐ cao, tiếp tục tăng từ 72,3% năm 2000 lên 77,3% năm 2016 và có sự khác biệt lớn về tỷ lệ này của khu vực thành thị so với của khu vực nông thôn (70,6% so với 80,9%). Trong khi đó, tỷ lệ tham gia LLLĐ chung của các nước ASEAN là 70,3%, (Cộng đồng ASEAN 2015- Quản lý hội nhập hướng tới thịnh vượng chung và việc làm tốt hơn, ADB, ILO, 2014), cho thấy Việt Nam vẫn là nước có tỷ lệ tham gia LLLĐ cao nhất trong khu vực. Điều này phản ánh lượng cung lao động lớn.

Nâng cao chất lượng nguồn lao động thông qua Nghị quyết của Đảng

Trước thách thức này, trong các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu của Nghị quyết 21, ngay trong giải pháp thứ nhất đã xác định: “Đưa công tác dân số, đặc biệt là nâng cao chất lượng dân số thành một nội dung trọng tâm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền các cấp”. Giải pháp đảm bảo nguồn lực xác định: “Đảm bảo đủ nguồn lực đáp ứng yêu cầu triển khai toàn diện công tác dân số. Ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước cho công tác dân số, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe, giáo dục, đào tạo, văn hóa, thể thao… nhằm nâng cao chất lượng dân số, đời sống mọi mặt của nhân dân, nhất là đối tượng chính sách.”

Về các mục tiêu đến năm 2030, Nghị quyết đề ra các mục tiêu nhằm nâng cao chất lượng dân số, nguồn nhân lực số như: Về thể lực: “Chiều cao người Việt Nam 18 tuổi đối với nam đạt 168,5 cm, nữ đạt 157,5 cm”. Về tổng quát chỉ số phát triển con người, nâng cao tuổi thọ, nâng cao trình độ học vấn, nâng cao chất lượng cuộc sống: “Chỉ số phát triển con người (HDI) nằm trong nhóm 4 nước hàng đầu khu vực Đông Nam Á”. Ngoài ra, Nghị quyết cũng nhấn mạnh sự cần thiết nâng cao cả tuổi thọ bình quân khỏe mạnh: “Tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm”. Nhóm dân số trẻ, tỷ lệ nam, nữ thanh niên được tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn đạt 90%, giảm 50% số cặp tảo hôn; giảm 60% số cặp hôn nhân cận huyết thống; 70% phụ nữ mang thai được tầm soát ít nhất 4 loại bệnh tật bẩm sinh phổ biến nhất, 90% trẻ sơ sinh được tầm soát ít nhất 5 bệnh bẩm sinh phổ biến nhất. Về Cơ sở dữ liệu dân số: “100% dân số được đăng ký, quản lý trong hệ thống cơ sở dữ liệu dân cư thống nhất trên qui mô toàn quốc”. Về nâng cao trình độ cơ sở hạ tầng, chất lượng cuộc sống: “Tỷ lệ dân số đô thị đạt trên 45%”.

Để thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW của Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 137/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện NQ 21-NQ/TW, trong đó hoạch định nhiều giải pháp về nâng cao chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực và đặc biệt xác định các mục tiêu phát triển cơ sở hạ tầng dữ liệu số ứng dụng công nghệ thông tin: a) Triển khai thực hiện dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; b) Xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành đề án củng cố hệ thông tin thống kê chuyên ngành dân số: hình thành hệ thống lưu trữ, kết nối thông tin số liệu dân số, cung cấp thông tin, số liệu dân số đáp ứng nhu cầu sử dụng của mọi cơ quan, tổ chức trong toàn xã hội, phục vụ xây dựng chiến lược, qui hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội; c) Đề xuất phương án điều chỉnh các yếu tố dân số để chất lượng dân số ngày càng cao phù hợp với tình hình kinh tế-xã hội trong từng thời kỳ, đảm bảo phát triển bền vững của từng địa phương và cả nước; d) Xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành đề án phát huy lợi thế dân số vàng, thích ứng với già hóa dân số; e) Xây dựng, trình thủ tướng Chính phủ ban hành đề án thí điểm xây dựng cơ sở dữ liệu về gia đình đến năm 2025; f) Hoàn thiện hệ thống thông tin thống kê, cơ sở dữ liệu chuyên ngành dân số kết nối với hệ thống dữ liệu hộ gia đình của cơ quan bảo hiểm xã hội nhằm cung cấp số liệu đầy đủ và dự báo dân số chính xác phục vụ việc lồng ghép các yếu tố của dân số trong xây dựng, thực hiện các chiến lược, qui hoạch; h) Hướng dẫn áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật ứng dụng công nghệ thông tin và triển khai kết nối liên thông Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với hệ thống thông tin các bộ, ngành, địa phương để khai thác có hiệu quả cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Qua các giải pháp cơ bản đến năm 2030 nêu trên, Chính phủ cũng phân công cụ thể việc xây dựng các đề án này để được phê duyệt trong khoảng thời gian 2018-2020. Qua đó cho thấy tầm quan trọng chiến lược trong việc thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới với công cuộc phát triển kinh tế-xã hội trong thời kỳ CMCN 4.0.

CMCN 4.0 ở Việt Nam có mối quan hệ hữu cơ với phát huy cơ cấu dân số vàng ở Việt Nam, tức sử dụng lực lượng lao động đang trong giai đoạn cực đại. Ở thời chuyển đổi số, với sự phổ biến của các công nghệ số trong những năm tới đây, hầu hết người lao động phải hiểu và quen biết với các con số, với dữ liệu, với sử dụng máy tính và các công cụ phân tích dữ liệu trên máy tính. Trong tương lai, các công nghệ số sẽ tự động hóa nhiều việc làm trong hầu hết các ngành nghề. Vấn đề này có hai mặt: Công nghệ số sẽ lấy đi nhiều việc làm nhưng cũng mở ra cơ hội cho rất nhiều loại việc làm mới.

Trong việc phát triển nguồn nhân lực số, một điều kiện hàng đầu là giáo dục đào tạo trình độ cao. Khi xã hội công nghiệp chưa hình thành, những người có trình độ cao cũng chỉ là những nhà thông thái và lương y mà chưa có kỹ sư, bác sĩ. Đến khi cách mạng công nghiệp lần thứ nhất bùng nổ, nhu cầu nhân lực tất yếu đòi hỏi, để vận hành được máy móc thiết bị, các nhà máy phải có công nhân và kỹ sư. Vì thế, phải có giáo dục nghề và đại học, cao đẳng để đáp ứng các nhu cầu đó của nền công nghiệp. Đương nhiên, các nhà quản lý cũng phải được đào tạo nhằm đáp ứng cho nhu cầu của công việc thực tiễn. Như vậy, chính CMCN đã góp phần quyết định cho sự ra đời của giáo dục đào tạo trình độ cao: giáo dục đại học và cao hơn. Để đáp ứng một cách tốt nhất cho CMCN, sự hợp tác giữa doanh nghiệp và nhà trường là không thể thiếu. Đó cũng chính là thực tế không chỉ nhà nước mà chính doanh nghiệp cũng cần đầu tư mở trường dạy nghề, cao đẳng, đại học để đáp ứng nhu cầu nhân lực trước hết là cho chính mình. Như vậy, người có trình độ cao học và thợ giỏi đều được xã hội tôn trọng ngang nhau. Tin học từ một môn học phụ nay trở thành môn học chính. Chương trình đào tạo của bậc đại học và trường dạy nghề cũng cần những thay đổi thích hợp.

Mặc dù vậy, CMCN 4.0 tuy là xu thế phát triển tất yếu nhưng cũng có nhiều rủi ro, thách thức. Tháng 5.2017, tại Hội nghị châu Á-Thái Bình Dương về Khai thác Dữ liệu (PAKDD), GS. Sang Kyun Cha, Viện trưởng Viện Dữ liệu Quốc gia Hàn Quốc đã nêu một nhận định về thành - bại của các quốc gia trong CMCN 4.0: “Một đe dọa có thật là chỉ một số ít quốc gia sẽ thắng cuộc và thu về tất cả, mối đe dọa lớn hơn là khoảng cách giữa các nước giàu và nghèo sẽ càng tăng”. Có thể nói, về bản chất, quốc gia nào thắng cuộc trong CMCN 4.0 là quốc gia làm chủ được công nghệ số và các nguồn dữ liệu, đưa chúng vào mọi lĩnh vực của sản xuất và cuộc sống, làm cho sản xuất và cuộc sống thông minh và hiệu quả hơn qua các phương pháp của trí tuệ nhân tạo.

Ở Việt Nam, trong năm qua Đảng và nhà nước đã sớm ban hành các Nghị quyết nhằm tạo cơ sở tiền đề cho việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nguồn nhân lực số làm nền tảng cho việc thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trong những năm tới. Điều đặc biệt quan trọng là chúng ta cần quyết tâm thực hiện tốt các chủ trương chính sách của Đảng, chương trình hành động của Chính phủ để đưa nước ta thuộc vào nhóm các nước thắng cuộc trong CMCN 4.0, là quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao, nguồn nhân lực số làm chủ được công nghệ số và các nguồn dữ liệu số và hiệu quả cao trong phát triển trí tuệ nhân tạo.

TS. Nguyễn Quốc Anh