PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG PHỤ NỮ SINH CON THỨ BA TRỞ LÊN TRONG 10 NĂM QUA

Trong việc thực hiện chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ), để đánh giá mục tiêu giảm sinh, các chỉ tiêu tổng tỷ suất sinh, tỷ suất sinh thô, tỷ lệ phát triển dân số, tỷ lệ phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ sinh con thứ ba trở lên (3+) thường được phân tích, đánh giá. Tổng tỷ suất sinh (số con trung bình/phụ nữ) là một chỉ tiêu vĩ mô, dài hạn đánh giá cho cả một giai đoạn, như mục tiêu của chính sách DS-KHHGĐ trong NQ TW 4 khóa 7 là phấn đấu đạt mức sinh thay thế từ 2,0-2,2 con bình quân mỗi cặp vợ chồng vào năm 2015. Tỷ suất sinh thô phản ảnh mức sinh biến đổi hàng năm, đây là chi tiêu vi mô mang tích chất tác nghiệp hàng năm (ở Việt Nam trong một thời gian là chỉ tiêu giảm sinh được Quốc hội giao hàng năm). Thí dụ, trong giai đoạn đầu những năm 1990, thực hiện nghị quyết TW 4 khóa 7 về chính sách DS-KHHGĐ, chỉ tiêu giảm sinh là giảm 0,5‰ mỗi năm và sau này là 0,3-0,2‰/năm.

Chỉ tiêu tỷ lệ phát triển dân số là có tính đến cả biến động cơ học của dân số (di cư). Trong thời gian trước đây mục tiêu phân đấu đạt chỉ tiêu tăng trưởng dân số ở mức 1,7%. Ngoài ra, một trong những chỉ tiêu phục vụ tác nghiệp quan trọng trong chương trình DS-KHHGĐ, nhằm sớm phát hiện những biến động bất thường trong thực hiện mục tiêu giảm sinh đó là tỷ lệ phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ sinh con thứ 3+. Trong các chỉ tiêu phản ảnh mức sinh, chỉ tiêu này thường rất “nhạy cảm” phản ảnh sớm tình hình sinh bất thường trong thực hiện chính sách KHHGĐ. Năm 2004, sau khi có Pháp lệnh Dân số, một số người do chưa hiểu chính xác điều 10 của Pháp lệnh qui định về quyền và trách nhiệm của mỗi cặp vợ chồng khi sinh con nên tỷ lệ sinh tăng trở lại, điều này được phản ảnh qua tỷ lệ sinh con thứ 3+ tăng và tập trung tăng ngay trong nhóm cán bộ, đảng viên, những người có trình độ học vấn cao… Do sớm phát hiện vấn đề, Ban bí thư đã chỉ đạo ban hành qui định bổ sung, sửa đổi điều 10 pháp lệnh để kịp thời điều chỉnh mức sinh.

Nhằm đánh giá mức sinh hiện nay, góp phần thực hiện Nghị quyết 21 NQ/TW của Hội nghị TW lần thức 6 khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới, tỷ lệ phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ sinh con thứ 3+ qua các số liệu công bố chính thức của Tổng cục Thống kê (TCTK) trong ba năm gần đây 2015-2017 cần được phân tích.

Số liệu Bảng 1 cho thấy, trong thời gian qua, tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3+ trong cả nước giảm dần qua các năm, từ 18,5% năm 2006 xuống 14,2% năm 2012, bình quân 0,6 điểm phần trăm/năm. Tỷ lệ này ổn định, giao động ở mức trên dưới 14% trong 4 năm (2012-2014), chỉ tăng bình quân 0,1 điểm phần trăm/năm. Mặc dù vậy, xu hướng này không còn được duy trì và đã tăng trở lại lên mức 15,8% năm 2015, 16,3% năm 2016 và 17,3% năm 2017, bình quân tăng 0,5 điểm phần trăm năm, mức tăng cao xấp xỉ mức giảm cao trong thời kỳ 2006-2012, như vậy là hiện nay mức tăng bình quân năm tăng gấp đôi so với trước đây.

Bảng 1. Tỷ lệ (%) phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ 3+ theo thành thị/nông thôn, 2006-2017

 

Nơi cư trú

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

2015

2016

2017

Toàn quốc

18,5

16,7

16,9

16,1

15,1

14,7

14,2

14,3

14,5

15,8

16,3

17,3

 

Thành thị

10,0

  9,0

  9,7

  9,3

  9,5

  9,8

  9,6

  9,9

9,2

10,8

11,7

 

12,0

 

Nông thôn

21,4

19,3

19,6

18,9

17,1

16,5

16,3

16,4

16,9

18,0

18,4

19,6

Nguồn: TCTK, Kết quả Điều tra Biến động dân số và KHHGĐ 2016 và Niên giám thống kê 2017, TCTK, NXB Thống kê, Hà Nội 2018.

Tỷ lệ phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ sinh con thứ 3+ ở khu vực thành thị cũng giảm xuống trong các năm 2006-2012, nhưng tăng vào 2013 (9,9%) và lại giảm vào năm 2014 (9,2%). Cũng có thể năm 2014 giảm là do khác biệt trong cỡ mẫu điều tra giữa Điều tra giữa kỳ với điều tra Biến động dân số và KHHGĐ hàng năm. Trong các năm 2015-2017, tỷ lệ này tăng mạnh trở lại từ 10,8% năm 2015 lên 12% năm 2017. Tuy tỷ lệ sinh con thứ 3+ thấp hơn ở thành thị nhưng mức độ giao động lại có xu hướng tăng sớm hơn và mức độ giao động tăng giảm cũng bất thường. Tỷ lệ phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ sinh con thứ 3+ ở khu vực thành thị từ 2006 đến 2009, bình quân chỉ giảm khoảng 0,02 %/năm và tăng bình quân khoảng 0,1%/năm trong các năm 2010-2013. Từ năm 2015, tỷ lệ sinh con thứ 3+ ở thành thị đạt 10,8% và tăng mạnh lên 12% vào năm 2017, bình quân tăng 0,4 %/năm.

Ở nông thôn, tỷ lệ sinh con thứ 3+ giảm đều từ 21,4% năm 2006 xuống 16,4% vào năm 2013. Bình quân giảm 0,63%/năm và tăng lên 16,9% năm 2014 (tăng 0,4 điểm phần trăm so với năm 2013). Khác với thành thị là giảm vào năm 2014 và tăng mạnh trong các năm từ 2015-2017. Năm 2015 tăng lên 18,0% (tăng 1,1 điểm phần trăm so với năm trước). Năm 2016 tăng lên 18,4% và năm 2017 tăng lên 19,6% (tăng 1,2 điểm phần trăm so với năm 2016).

Bảng 2, mô tả sự khác biệt về tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3+ chia theo vùng. Số liệu cho thấy, tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ 3+ lên cao nhất ở Tây Nguyên (28,3%), tiếp theo là Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (19,7%). Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ là vùng có tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ 3+ lên thấp nhất lần lượt là 10,9% và 11,3%. Đây cũng là 2 vùng có TFR thấp nhất của cả nước. Tây Nguyên là nơi cư trú của các dân tộc ít người, việc tiếp cận các phương tiện tránh thai cũng như phương tiện truyền thông về kế hoạch hóa gia đình có hạn chế nên đây cũng có thể là một trong những nguyên nhân khiến tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ 3+ của vùng này cao nhất nước.

Bảng 2. Tỷ lệ (%) phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ 3+ theo vùng

 

Vùng kinh tế-xã hội

2015

2016

2017

Trung du và miền núi phía Bắc

15,1

15,1

17,8

Đồng bằng sông Hồng

17,9

17,7

18,7

Bắc trung bộ và Duyên hải miền Trung

19,3

19,7

19,7

Tây Nguyên

24,5

25,1

28,3

Đông Nam Bộ

10,5

10,1

11,3

Đồng bằng sông Cửu Long

10,3

10,1

10,9

Nguồn: TCTK, Kết quả Điều tra Biến động dân số và KHHGĐ 2016 và Niên giám thống kê 2017, NXB Thống kê, Hà Nội 2018.

Trong 3 năm 2015-2017, tỷ lệ sinh con thứ 3+ ở cả 6 vùng đều tăng, trong đó có những vùng tăng rất cao (so sánh giữa tỷ lệ sinh 3+ của năm 2015 và 2017). Trung du và miền núi phía Bắc tăng từ 15,1% năm 2915 lên 17,8% năm 2017, tăng bình quân 0,9 điểm phần trăm/năm. Đây là vùng có mức tăng cao thứ hai trong sáu vùng. Đồng bằng sông Hồng tăng từ 17,9% năm 2915 lên 18,7% năm 2017, tăng bình quân gần 0,3 điểm phần trăm/năm. Bắc trung bộ và Duyên hải miền Trung tăng từ 19,3% năm 2915 lên 19,7% năm 2017, tăng bình quân khoảng trên 0,1 điểm phần trăm/năm, là vùng có mức tăng thấp nhất. Tây Nguyên tăng từ 24,5% năm 2915 lên 28,3% năm 2017, tăng bình quân gần 1,3 điểm phần trăm/năm, đây là vùng có mức tăng cao nhất. Đông Nam bộ tăng từ 10,5% năm 2915 lên 11,3% năm 2017, tăng bình quân gần 0,3 điểm phần trăm/năm. Đồng bằng sông Cửu Long tăng từ 10,3% năm 2915 lên 10,9% năm 2017, tăng bình quân 0,2 điểm phần trăm/năm.

So sánh từng năm cũng cho thấy rõ xu hướng tăng. So sánh tỷ lệ sinh 3+ của năm 2015 và 2016, trong 6 vùng có: 1 vùng giữ nguyên; 2 vùng tăng (tăng nhiều, 0,4 và 0,6 điểm phần trăm) và 3 vùng giảm (giảm ít, 2 vùng giảm 0,2 và 1 vùng giảm 0,4 điểm phần trăm). Nhưng so sánh năm 2016 và 2017, xu hướng tăng rõ rệt, trong 6 vùng: Chỉ có 1 vùng giữ nguyên (Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung); 5 vùng còn lại đều tăng và tăng rất nhiều, chỉ có Đông Nam bộ tăng thấp nhất là 0,2 điểm phần trăm. Vùng tăng thấp thứ hai cũng là 0,8 điểm phần trăm (Đồng bằng sông Cửu Long). Thứ 3 là Đồng bằng sông Hồng tăng 1,0 điểm phầm trăm; tiếp đến là Trung du và miền núi phía Bắc tăng nhiều 2,7 điểm phần trăm và tăng lớn nhất là Tây Nguyên tăng 3,2 điểm phần trăm.

Bảng 3. Tỷ lệ (%) phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ 3+

theo tỉnh/thành phố, 2015-2017

 

STT

Tỉnh/thành phố

2015

2016

2017

01

Nội

17,65

15,18

17,76

02

Hà Giang

27,18

23,13

26,97

04

Cao Bằng

11,24

8,79

13,07

04

Bắc Kạn

7,31

4,92

6,49

05

Tuyên Quang

11,92

12,26

14,59

06

Lào Cai

14,59

14,37

17,16

07

Điện Biên

29,28

26,49

27,07

08

Lai Châu

26,35

25,60

25,41

09

Sơn La

19,59

15,06

17,39

10

Yên Bái

14,81

16,25

17,07

11

Hoà Bình

9,17

10,19

11,45

12

Thái Nguyên

9,99

7,86

13,30

13

LạngSơn

7,49

9,02

10,40

14

Quảng Ninh

12,30

11,92

12,03

15

Bắc Giang

12,17

19,87

21,21

16

Phú Thọ

12,11

13,34

17,78

17

Vĩnh Phúc

13,37

14,66

18,98

18

Bắc Ninh

24,88

19,66

20,61

19

Hải Dương

15,17

15,16

14,45

20

Hải Phòng

9,87

13,55

12,94

21

Hưng Yên

13,93

18,02

17,64

22

Thái Bình

25,84

26,76

22,99

23

Hà Nam

23,83

22,63

27,69

24

Nam Định

23,23

33,05

27,27

25

Ninh Bình

18,88

17,24

24,06

26

Thanh Hoá

12,99

17,10

13,03

27

Nghệ An

23,10

23,06

22,62

28

Hà Tĩnh

23,96

30,26

28,38

29

Quảng Bình

27,88

24,35

26,41

30

Quảng Trị

25,82

28,49

24,78

31

Thừa Thiên Huế

24,97

21,97

24,06

32

Đà Nẵng

12,61

12,37

10,85

33

Quảng Nam

19,78

14,36

26,00

34

Quảng Ngãi

17,04

16,01

13,33

35

Bình Định

22,08

19,42

21,55

36

PhúYên

14,95

18,37

13,29

37

Khánh Hoà

12,34

10,68

10,76

38

Ninh Thuận

19,29

18,89

27,14

39

Bình Thuận

21,52

17,71

20,31

40

Kon Tum

27,03

25,01

22,30

41

Gia  Lai

27,28

24,66

33,69

42

Đắk Lắk

21,04

23,21

26,66

43

Đắk Nông

35,35

32,39

28,92

44

Lâm Đồng

18,59

29,38

28,40

45

Bình Phước

15,42

19,84

25,02

46

Tây Ninh

8,38

8,34

6,89

47

Bình Dương

11,88

10,73

8,09

48

Đồng Nai

14,90

16,54

16,11

49

Bà Rịa - Vũng Tàu

18,19

16,54

10,06

50

TP.Hồ Chí Minh

6,79

9,50

8,86

51

Long An

7,64

11,16

9,24

52

Tiền Giang

7,38

5,76

11,11

53

Bến Tre

9,32

5,04

8,51

54

Trà Vinh

8,28

7,43

10,40

55

Vĩnh Long

9,08

9,22

8,20

56

Đồng Tháp

11,93

9,99

15,87

57

An Giang

13,25

11,00

10,06

58

Kiên Giang

12,50

11,88

10,48

59

Cần Thơ

10,28

13,79

10,64

60

Hậu Giang

10,61

12,41

10,66

61

Sóc Trăng

11,23

13,68

16,24

62

Bạc Liêu

12,00

13,90

8,04

63

Mau

8,28

9,39

11,03

Nguồn: TCTK, Kết quả điều tra Biến động DS - KHHGĐ các năm 2015, 2016, 2017.

Tỷ lệ sinh con thứ 3+ của các tỉnh/thành phố cho thấy xu hướng biến đổi gia tăng càng rõ hơn, đặc biệt là có những biến động gia tăng rất lớn. Số liệu trong Bảng 3 cho thấy tình trạng cụ thể: năm 2016 có 29 trên 63 tỉnh/thành phố có tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ 3+ tăng so với năm 2015. Nhưng năm 2017 thì đã có 34 trên 63 tỉnh/thành phố có tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ 3+ tăng so với năm 2016.

Phân tích theo từng tỉnh/thành phố cho thấy xu hướng gia tăng rất đặc biệt, đây là những điều mà nhiều tỉnh/thành phố cần đặc biệt quan tâm khi thực hiện chương trình dân số ở tỉnh/thành phố mình phụ trách. Trước hết điều cần chú ý là trong giai đoạn giảm mạnh nhất tỷ lệ sinh con thứ 3+ từ 18,5% (2006) xuống 14,2% (2012) tức là trong 6 năm giảm được 4,3% hoặc trong giai đoạn xu hướng giảm vẫn duy trì được 18,5% (2006) xuống 14,5% (2014) tức là giảm được 4,0% trong 8 năm. Mặc dù vậy khi xem xét cho từng tỉnh/thành phố cho thấy mức độ biến động rất lớn. Nếu năm 2017 tỷ lệ sinh con thứ 3+ tăng nhiều nhất (17,3%) tăng 1,0 điểm phần trăm so với năm 2016 (16,3%). Ngay tại Hà Nội, mức tăng là 2,58 điểm phần trăm (gấp 2,5 lần mức tăng của toàn quốc). Tây Nguyên là vùng có mức tăng cao nhất nước nhưng không phải tỉnh nào thuộc Tây Nguyên cũng tăng mà chỉ có hai tỉnh tăng, trong đó Đắk Lắk tăng 3,45 điểm phần trăm, đặc biệt Gia Lai tăng 9,09 điểm phần trăm (gần gấp 10 lần mức tăng của toàn quốc).

Nếu lấy mốc so sánh là tỷ lệ sinh con thứ 3 + giảm trong giai đoạn 2006-2012 hoặc 2006-2014 là thời gian giảm được nhiều (6 và 8 năm), tỷ lệ sinh con thứ 3+ giảm được 4,0 – 4,3 điểm phần trăm thì đối với cấp tỉnh chỉ so năm 2017 với 2016 đã có nhiều tỉnh/thành phố có mức tăng tương đương 4-5 điểm phần trăm, tức mức tăng trong 1 năm gấp đôi mức giảm trong cả một giai đoạm giảm. Trong đó có một số tỉnh/thành phố như: Cao Bằng tăng 4,28 điểm phần trăm; Thái Nguyên, 5,44; Phú Thọ, 4,44; Vĩnh Phúc, 4,32; Hà Nam, 5,06; Ninh Bình, 6,82; Bình Phước, 5,18; Tiền Giang, 5,35; Đồng Tháp, 5,88. Đặc biệt có những tỉnh tăng rất cao như: Quảng Nam, 11,84 điểm phần trăm; Ninh Thuận, 8,25 điểm phần trăm.    

Phân tích trên cho thấy trong 3 năm 2015-2017, tỷ lệ phụ nữ trong nhóm tuổi sinh đẻ sinh con thứ 3+ tăng lên cao và đã tăng ở cả 6 vùng, cũng đã có trên một nửa số tỉnh/thành phố tỷ lệ này tăng, đặc biệt là tăng rất cao ở một số tỉnh. Nếu tỷ lệ sinh 3+ chỉ tiếp tục tăng thêm 1,2 điểm phần trăm thì tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên lại tăng trở lại bằng với năm 2006 là năm bắt đầu khi tổng tỷ suất sinh đạt mức sinh thay thế. Đây là một chỉ tiêu quan trọng cần chú ý khi thực hiện công tác DS-KHHGĐ trong việc thực hiện mục tiêu đạt mức sinh thay thế. Điều đặc biệt biến động về sinh con thứ 3+ lại thường xảy ra ở nhóm dân cư có trình độ văn hóa cao và ở cả cán bộ, đảng viên, điều này dễ tạo hiệu ứng trong xã hội về sinh con thứ 3.

 Ngày 28/8/2018, Ban chấp hành Trung ương ban hành Quy định về việc kết nạp người vi phạm chính sách DS-KHHGĐ vào Đảng. Ngoài những điều quy định chi tiết về những trường hợp sinh con không bị coi là vi phạm chính sách DS-KHHGĐ; tiêu chuẩn, điều kiện, thẩm quyền kết nạp lại vào Đảng đối với đảng viên đã bị đưa ra khỏi Đảng do vi phạm chính sách DS-KHHGĐ; tiêu chuẩn, điều kiện, thẩm quyền kết nạp vào Đảng đối với quần chúng vi phạm chính sách DS-KHHGĐ. Trong đó điều 3 quy định về các trường hợp không xem xét kết nạp lại và kết nạp vào Đảng cụ thể như: 1) Đảng viên sau khi bị đưa ra khỏi Đảng lại vi phạm chính sách DS-KHHGĐ; 2) Quần chúng đã vi phạm chính sách DS-KHHGĐ trong trường hợp sinh con thứ 5+. Như vậy, Ban chấp hành Trung ương đã bổ sung những quy định rất cụ thể, nhắc lại trách nhiệm chấp hành thực hiện chính sách dân số trong tình hình mới.

Mục tiêu của Nghị quyết 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu, khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới vẫn khẳng định cần duy trì, ổn định mức sinh thay thế và tiến tới ổn định qui mô dân số do vậy trong những năm tới cần theo dõi chặt chẽ và đánh giá phân tích kỹ về chỉ tiêu này, nhằm sớm đề ra những giải pháp kịp thời góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu đến năm 2030 mà Nghị quyết 21-NQ/TW đề ra cho công tác dân số trong tình hình mới.

SỐ LIỆU DÂN SỐ THẾ GIỚI NĂM 2018: THAY ĐỔI CẤU TRÚC TUỔI

 

Dân số thế giới năm 2018 là 7,6 tỷ. Tỷ trọng dân số 65+ năm 2018  là 9%, dự báo năm  năm 2050 là 16%. Tỷ trọng dân số <15 tuổi năm 2018 là 26% và năm 2050 21%.

 

Các quốc gia đông dân nhất (triệu người)

2018

 

2050

Trung Quốc

1.394

 

Ấn Độ

1.680

Ấn Độ

1.371

 

Trung Quốc

1.344

Hoa Kỳ

328

 

Nigeria

411

Indonesia

265

 

Hoa Kỳ

390

Brazil

209

 

Indonesia

320

Pakistan

201

 

Pakistan

307

Nigeria

196

 

Brazil

231

Bangladesh

166

 

Cộng hòa dân chủ nhân dân Công-Gô

216

Nga

147

 

Bangladesh

202

Mexico

131

 

Ethiopia

191

 

Tổng tỷ suất sinh (con/phụ nữ), 2018

 

Cao nhất

 

Thấp nhất

Niger

7,2

 

Hàn Quốc

1,1

Chad

6,4

 

Singapore

1,2

Cộng hòa dân chủ nhân dân Công-Gô

6,3

 

Đài Loan

1,2

Somalia

6,3

 

Bosnia-Herzegovina

1,3

Angola

6,2

 

Moldova

1,3

Mali

6,0

 

Tây Ban Nha

1,3

Burkina Faso

5,5

 

Italy

1,3

Nigeria

5,5

 

Hy Lạp

1,3

Burundi

5,5

 

Ukraine

1,3

Gambia

5,4

 

Romania

1,4

Dân số thế giới ngày càng già

Với mức sinh giảm liên tục và tỷ lệ tử vong, dân số toàn cầu thay đổi theo hướng già hóa dân số, với tốc độ ngày càng nhanh. Tỷ lệ người cao tuổi (65+) trong dân số toàn cầu tăng từ 5% năm 1960 lên 9% năm 2018 và dự kiến ​​sẽ tăng lên 16% vào năm 2050, trong đó nhóm người cao tuổi từ 85 tuổi trở lên tăng nhanh nhất. Tỷ lệ trẻ em (0-14) trong tổng số dân đang giảm, từ 37% vào năm 1960, xuống 26% vào năm 2018, và dự kiến còn 21% vào năm 2050. Thời gian và tốc độ thay đổi cấu trúc tuổi thay đổi theo quốc gia, và những thay đổi này có ý nghĩa kinh tế và xã hội quan trọng.

Mỗi cấu trúc tuổi của dân số đặt ra những thách thức khác nhau

Cơ cấu tuổi của dân số có ý nghĩa đối với chương trình xây dựng chính sách quốc gia và phân bổ nguồn lực. Các quốc gia có mức sinh và tỷ lệ phụ thuộc trẻ em tương đối cao đối mặt với những thách thức trong đầu tư đầy đủ các nguồn lực vào phát triển vốn con người của những người trẻ tuổi. Nếu các khoản đầu tư này được thực hiện, các quốc gia có cơ hội đạt được các lợi ích tăng trưởng kinh tế của nhóm dân số trong độ tuổi lao động lớn và được giáo dục tốt hơn. Các quốc gia có tỷ lệ phụ thuộc người già cao hoặc tỷ lệ phụ thuộc chung cao gấp đôi (tỷ lệ phụ thuộc cao của trẻ em và người già) phải đối mặt với những thách thức khác nhau. Họ phải giải quyết các chi phí y tế cao và nhu cầu chăm sóc dài hạn của người cao tuổi, trong khi vẫn phải đầu tư vào phúc lợi và tương lai cho thế hệ trẻ.

Đầu tư vào giáo dục có thể giúp các nước tăng trưởng kinh tế

Giáo dục trung học phổ thông có thể trang bị cho giới trẻ kiến ​​thức và kỹ năng cần thiết để cạnh tranh trong lực lượng lao động, giúp họ kiếm thêm tiền và tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Giáo dục trung học cũng mang lại những lợi ích thay đổi kinh tế và sức khỏe cho các em gái, kể cả tăng tuổi lần kết hôn và sinh con lần đầu. Tuyển sinh trung học phổ thông đang tăng ở nhiều khu vực nhưng vẫn còn tương đối thấp ở nhiều quốc gia có tỷ lệ phụ thuộc trẻ em cao như Ethiopia và Guatemala, sẽ phải đầu tư vào cải thiện khả năng tiếp cận giáo dục trung học phổ thông để phát triển lực lượng lao động có khả năng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Sự tham gia lao động của nam giới cao tuổi tại các khu vực đang phát triển giảm đi

Cấu trúc tuổi của một quốc gia và bối cảnh kinh tế xã hội và chính trị có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của người cao tuổi. Đồng thời, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của người cao tuổi có thể tác động đến chính sách và cơ cấu hỗ trợ xã hội của mỗi quốc gia. Nhìn chung, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của người cao tuổi có xu hướng cao hơn ở các quốc gia có tỷ lệ phụ thuộc trẻ em cao và trung bình. Tuy nhiên, nhiều quốc gia trong các nhóm này, như Philippines, cho thấy một mô hình suy giảm tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nam giới cao tuổi. Ngược lại, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của người cao tuổi thường tăng ở các quốc gia có tỷ lệ phụ thuộc tuổi già cao. Sự gia tăng này được thúc đẩy một phần bởi tuổi thọ cao hơn và các chính sách khuyến khích người cao tuổi tham gia thị trường lao động chính thức. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ giới cao tuổi đang gia tăng ở nhiều quốc gia trên thế giới do cải cách an sinh xã hội và thay đổi các chuẩn mực văn hóa.

Từ năm 1974, tỷ lệ trẻ em nghèo ở Mỹ đã vượt quá tỷ lệ người cao tuổi nghèo

Tỷ lệ nghèo là một trong những chỉ số quan trọng về phúc lợi kinh tế và khác nhau giữa các nhóm tuổi. Vào giữa những năm 1960, 29% người Mỹ từ 65+ sống trong nghèo đói, so với 18% trẻ em dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, xu hướng tỷ lệ nghèo ở hai nhóm tuổi này đã thay đổi rõ rệt kể từ năm 1974, với tỷ lệ người cao tuổi nghèo giảm dần, và tỷ lệ trẻ em nghèo tăng cao nhất vào giữa những năm 1980, giữa những năm 1990 và trong các năm 2010-2012 sau cuộc Đại suy thoái. Các chương trình phúc lợi như An sinh xã hội và Chăm sóc y tế đã có hiệu quả trong việc giảm tỷ lệ nghèo ở những người cao tuổi, nhưng chi phí chăm sóc lại tăng lên nhanh chóng khi dân số già đi. Với nguồn lực hạn chế, Mỹ sẽ tiếp tục đối mặt với những khó khăn trong việc cải thiện sức khỏe của cả trẻ em và người cao tuổi. Đầu tư nguồn lực ngày nay để giảm nghèo ở trẻ em có thể tăng khả năng sản xuất trong tương lai và giúp bù đắp chi phí của dân số già.
 

 

TS. Nguyễn Quốc Anh