QUAN HỆ ỨNG XỬ VỢ CHỒNG TRONG GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG

Quan hệ ứng xử vợ chồng trong đời sống tâm lý tình cảm Các khía cạnh chủ yếu trong đời sống tâm lý tình cảm vợ chồng gồm có: giao tiếp vợ chồng, tình cảm và sự chung thủy vợ chồng.

Trong giao tiếp vợ chồng, sự nhường nhịn lẫn nhau là quan hệ ứng xử được nhiều người tán thành và mong đợi. Tuy nhiên, trong gia đình truyền thống, sự nhường nhịn thường nghiêng về phía người vợ nhiều hơn. Sự nhường nhịn này vợ không chỉ thể hiện trong giao tiếp với chồng mà còn được thể hiện ở chỗ nhường cho chồng được thể hiện vai trò trong những công việc giao tiếp bên ngoài gia đình (Giàu vì bạn, sang vì vợ). Bên cạnh sự nhường nhịn, một quan hệ khác trong giao tiếp của người vợ đối với người chồng, đó là cam chịu, nhẫn nhục. Nếu như sự nhường nhịn là quan hệ ứng xử chung cho cả vợ và chồng, thì cam chịu, nhẫn nhục là quan hệ ứng xử thường là ở phía người vợ. Dưới chế độ phụ quyền thời phong kiến, người phụ nữ bị lắm điều áp chế, ý thức nhịn nhục phổ biến ở người vợ. Sau khi lấy chồng, người phụ nữ hoàn toàn chịu sự chi phối của người chồng và gia đình nhà chồng. Nhiều quan hệ ứng xử khác của vợ đối với chồng cũng được đề cao như thương chồng,chung thủy với chồng. Văn hóa truyền thống đòi hỏi rất nhiều, đặt ra các chuẩn mực, quan hệ trong cách ứng xử giao tiếp của người vợ với chồng trong khi ít đòi hỏi ứng xử của người chồng đối với vợ.

Hôn nhân trong xã hội Việt Nam truyền thống phần lớn do cha mẹ sắp đặt, đề cao duy trì nòi giống, nối dõi tông đường, tình nghĩa vợ chồng, tinh thần trách nhiệm, nuôi dưỡng chăm sóc cha mẹ khi về già... Chính vì thế, ly hôn là điều rất hiếm khi xảy ra và sự chung thủy vợ chồng vừa là giá trị đạo đức vừa là sự sống còn đối với gia đình. 

Chung thủy vừa là một giá trị vừa là quan hệ ứng xử trong mối quan hệ vợ chồng. Tuy nhiên, quan hệ này lại được áp dụng không giống nhau đối với người vợ và người chồng trong gia đình truyền thống. Chung thủy về phía người vợ là bắt buộc và bị kiểm soát chặt chẽ cả về pháp luật, đạo đức và dư luận xã hội, trong khi người chồng được nới lỏng hơn. Người đàn ông có thể có những mối quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân, thậm chí được phép lấy nhiều vợ.

Có thể nhận thấy, trong đời sống tâm lý tình cảm vợ chồng, quan hệ ứng xử được hình thành trong gia đình việt nam truyền thống áp dụng cho người vợ nhiều hơn người chồng.

Quan hệ ứng xử vợ chồng trong phân công lao động

Phân công lao động giữa vợ và chồng hay phân công lao động theo giới trong gia đình được coi là hình thức phân công lao động đầu tiên của lịch sử phân công lao động xã hội. Nó bắt nguồn từ sự khác biệt về vai trò giới tính của nam và nữ trong việc duy trì nòi giống. Phụ nữ do phải mang thai, sinh đẻ và cho con bú nên cũng là người chủ yếu nuôi dưỡng và chăm sóc con cái, trong khi người đàn ông lo đi tìm kiếm thức ăn và vật dụng sinh hoạt cần thiết để nuôi sống vợ con và duy trì cuộc sống gia đình. Mặt khác, vì cơ thể của nam giới thường cao to hơn và có sức khỏe nhất thời tốt hơn, lại không phải mang thai, sinh đẻ nên nam giới thường có khuynh hướng đảm nhận các công việc nặng nhọc đòi hỏi sức khỏe cơ bắp và những công việc bên ngoài nhà và xa nhà. Điều này rất có thể chỉ là chiến lược sống được các xã hội tiền công nghiệp chấp nhận vì hiệu quả xã hội của nó. Tuy nhiên, qua nhiều thế hệ, sự phân công lao động dựa trên cơ sở giới tính được xã hội hóa và thể chế hóa thành cấu trúc xã hội và người ta coi nó như là những chuẩn mực tự nhiên, thiên chức của mỗi giới [1]. Cũng từ đó, hình thành nên các Quan hệ ứng xử giữa vợ và chồng trong phân công lao động gia đình: đàn ông làm việc nặng, đàn bà làm việc nhẹ; đàn ông làm việc bên ngoài nhà và xa nhà, đàn bà làm việc bên trong nhà và gần nhà; đàn ông kiếm sống, đàn bà nuôi con và chăm sóc gia đình.

Đây cũng là những quan hệ ứng xử trong phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình Việt Nam truyền thống. Tuy nhiên, phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình Việt Nam truyền thống có tính linh hoạt rất cao, đặc biệt trong lao động sản xuất và tạo thu nhập. Trong công việc đồng áng, phụ nữ không phải là người giúp việc hay phụ việc cho nam giới mà ngang hàng với nam giới. Shợp tác lao động giữa vợ và chồng trong sản xuất nông nghiệp là một quan hệ ứng xử mang bản sắc riêng của phân công lao động trong gia đình Việt Nam truyền thống. Cơ sở của sự hợp tác này là dựa trên “lợi thế so sánh” về giới tính, chứ không phải công việc của ai quan trọng hơn ai. Trong sản xuất nông nghiệp, nhất là nông nghiệp làm lúa nước, cày bừa làm đất là công việc nặng nhọc. Đàn ông có lợi thế về sức khỏe cơ bắp thường đảm nhận công việc này. Đàn bà khéo léo và dẻo dai hơn đảm nhận khâu gieo cấy. Bên cạnh đó, việc đàn bà gieo cấy còn do quan niệm phụ nữ gieo cấy mới phù hợp với tự nhiên làm cho cây lúa sinh sôi nẩy nở. Đây có lẽ là lý do giải thích vì sao quan hệ ứng xử trong quan hệ vợ chồng của gia đình việt nam truyền thống là thuận vợ thuận chồng, vợ chồng cùng bàn bạc, đồng lòng, chung sức trong sản xuất, chứ không phải quan hệphu xướng phụ tùy theo văn hóa Nho giáo, ở đó người vợ nhất nhất tuân theo sự sắp đặt, chỉ huy của người chồng.

Ở khía cạnh tạo thu nhập bằng tiền mặt cho gia đình, phụ nữ cũng tháo vát không thua kém gì nam giới. Ở nông thôn Viêt Nam, ngoài làm ruộng các hộ gia đình còn làm các nghề thủ công để tạo ra các sản phẩm phục vụ tiêu dùng và kiếm thêm thu nhập cho gia đình như đan lát, dệt vải, làm bánh trái, buôn bán… Trong những hộ gia đình như vậy, phụ nữ có vai trò kinh tế rất đáng kể.

Rõ ràng, phụ nữ không chỉ quán xuyến những công việc bên trong gia đình, quản lý toàn bộ chi tiêu của gia đình,sản xuất ra lúa gạo nuôi sống các thành viên gia đình, mà còn có các hoạt động kinh tế bên ngoài nhà như  buôn bán hoặc đi làm thuê kiếm thêm thu nhập cho gia đình. Như vậy, quan hệ đàn bà làm việc bên trong nhà và gần nhà, đàn ông làm việc ngoài nhà và xa nhà chỉ đúng trên danh nghĩa chứ không hoàn toàn đúng trong thực tế.

Quan hệ ứng xử vợ chồng trong quan hệ quyền lực

Trong gia đình Việt Nam truyền thống, phụ nữ có vai trò đáng kể trong kinh tế. Phụ nữ không chỉ ngang bằng với chồng trong sản xuất là lúa gạo mà còn là người tạo ra một phần rất lớn thu nhập bằng tiền mặt của gia đình. Điều này đã khiến cho phụ nữ cân bằng được cán cân quyền lực với chồng trong gia đình, cho dù Nho giáo có trao cho người đàn ông vị thế cao hơn.

Tác động của truyền thống gia trưởng đến cán cân quyền lực vợ chồng vẫn là vấn đề gây ra nhiều tranh cãi. Một số nhà nghiên cứu hoài nghi về một tư tưởng gia trưởng thật sự tồn tại trong gia đình Việt Nam truyền thống và địa vị hoàn toàn thấp kém của người phụ nữ trong gia đình. Nhà dân tộc học Từ Chi (1996) cho rằng phụ nữ Việt Nam ở trong một “địa vị oái ăm”, có vẻ như “thấp” song lại rất cao và gia đình người Việt - phần lớn là “gia đình hạt nhân” rất khó xếp vào những hệ thống phân loại kiểu phương Tây như “mẫu hệ” hay “phụ hệ”. Trần Quốc Vượng (2000) khi bàn về văn hóa Việt Nam trong sự đối sánh với văn hóa Trung Quốc thì cho rằng tuy có sự giao tiếp và hỗn dung văn hóa Việt Hoa nhưng khuynh hướng giao tiếp và hỗn dung vẫn là Việt hóa chứ không phải là Hoa hóa; và văn hóa Việt Nam không bao giờ là một bản sao chép của văn hóa Trung Hoa. Và theo ông, do nhiều nguyên nhân và điều kiện lịch sử, cái nói lên bản sắc của văn hóa dân tộc Việt Nam là văn hóa dân gian Việt Nam. Đây là một luận điểm hết sức quan trọng, nó gợi ý cho việc nghiên cứu văn hóa Việt Nam nói chung và văn hóa gia đình nói riêng là không thể chỉ dựa vào giáo lý Nho giáo được ghi chép trong các văn bản mà trước hết phải dựa vào kho tàng văn hóa dân gian của người Việt, được truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tác giả Phạm Việt Long (2004) nhận xét: tục ngữ, ca dao cho ta thấy rằng trong quan niệm của người Việt, chung sống vợ chồng là một đạo lý. Vì vậy, quyền hạn giữa người chồng và người vợ không phải chỉ có một chiều mà phải đặt trên tính chất tương ứng và bình đẳng. Quan hệ vợ chồng chủ yếu là tình yêu và hòa thuận. Người phụ nữ Việt theo chồng, nhưng không theo kiểu “tòng phu” của Nho giáo, không phải theo để hầu hạ, mà để chia sẻ niềm vui, là nghĩa vụ tương thân tương ái và bình đẳng xây dựng trên ý thức đồng lao cộng lực, chung thủy, khác với đạo “tam tòng” của Khổng Mạnh [2].

Tác giả Trần Đình Hượu cho rằng, ngay cả “trong những gia đình gia thế, tay hòm chìa khóa lại là ở người đàn bà, người chồng giao hết tiền nong cho vợ và không bao giờ kiểm soát sự chi tiêu của vợ. Người đàn bà được gọi là nội tướng, chủ phụ, tuy về danh nghĩa là nghe theo lời chồng, giúp chồng, nhưng thực tế là người chủ trì việc nhà” [2]

Trên lý thuyết người ta vẫn tuân theo các nguyên lý Nho giáo, nhưng trong thực tế phong tục tập quán mới có ảnh hưởng đến quan hệ ứng xử trong gia đình, người phụ nữ Việt Nam vẫn là “nội tướng trong gia đình”, các quyết định trong gia đình hầu như có sự tham gia đóng góp ý kiến của người vợ, người phụ nữ trong gia đình... [3].

Học giả Nguyễn Văn Huyên cũng có nhận xét tương tự về vai trò của phụ nữ trong gia đình người Việt xưa: “Vợ là người chỉ huy trưởng việc nhà, người ta gọi vợ là nội tướng (người chủ bên trong). Hầu như bao giờ vợ cũng giữ tiền bạc, quản lý của cải, giải quyết các khoản chi tiêu, thu lợi tức, bỏ hòm tiền cho thuê nhà; tóm lại thực hiện mọi hoạt động quản trị. Cùng với chồng, vợ có những quyền chung về giáo dục con cái”. Người phụ nữ, người mẹ của gia đình người Việt có “vị trí hai mặt”. Bề ngoài là một gia đình phụ quyền, được tô đậm bởi nhiều thế kỷ ảnh hưởng từ Nho giáo, tam tòng tứ đức, phụ nữ lấy chồng phải theo chồng, mang tên chồng, con cái mang họ nhà chồng, sự phân biệt mang tên chữ nội – ngoại đủ để thể hiện tính thiên lệch nhưng trong thực tế người vợ người mẹ lại không bị tách khỏi nền sản xuất, lại là “tay hòm chìa khóa” của gia đình, có một vị trí ẩn tàng nhưng vững chắc. Trần Quốc Vượng còn đi xa hơn khi đưa ra nhận xét “trong công việc gia đình - xã hội, phụ nữ Việt Nam đều đóng vai trò chủ động và nói chung chưa hề có chuyện “Thuyền theo lái, gái theo chồng” [4].

Có hai sự thực trong quan hệ ứng xử giữa vợ và chồng ở xã hội truyền thống: (i) quyền uy mạnh mẽ trên lý thuyết của người chồng đối với người vợ, (ii) địa vị tương đối bình đẳng trong thực tế giữa vợ và chồng. Cái tư thế quyền uy được nhấn mạnh bởi pháp luật là kết quả không thể chối cãi của việc Việt Nam chấp nhận đạo lý gia đình Nho giáo [4].

Đến đây có thể nhận thấy rằng, khác với mô hình “độc quyền” theo văn hóa Nho giáo, ở đó quyền quyết định chủ yếu thuộc về người đàn ông gia trưởng, quan hệ “phân quyền” - người vợ/người chồng quyết định chính một số công việc và “chung quyền” - cả hai vợ chồng cùng quyết định trong gia đình Việt Nam truyền thống là khá phổ biến.

Trong mối quan hệ vợ chồng, có nhiều quan hệ ứng xử dành cho phụ nữ hơn là nam giới trong giao tiếp ứng xử do ảnh hưởng văn hóa Nho giáo. Nhưng trong phân công lao động, quan hệ hợp tác chiếm ưu thế hơn so với quan hệ phu xướng phụ tùy. Còn trong quan hệ quyền lực, quan hệ “chia quyền” và “chung quyền” thể hiện rõ trong thực tiễn đời sống so với quan hệ “độc quyền” của người chống theo văn hóa Nho giáo.

Gia đình Việt Nam truyền thống được gắn kết một cách bền chặt là do tình nghĩa và trách nhiệm giữa các thành viên. Trong mô hình gia đình truyền thống, mọi thành viên trong gia đình đều đón nhận và thụ hưởng sự hy sinh của phụ nữ... Ngay cả vấn đề quan hệ tình dục, người vợ cũng luôn phải chịu sự bất công, luôn ở trạng thái bị động và cam chịu. Tính ưu việt của gia đình truyền thống đặc biệt trong mối quan hệ vợ chồng chính là sự chung thuỷ, sự hoà thuận gia đình.

Tài liệu tham khảo

  1. Trần Đình Hượu (1966), Đến với hiện đại từ truyền thống, NXB Văn hóa. Hà Nội.
  2. Phan Kế Bính (2011), Việt Nam phong tục, NXB Văn học. Hà Nội.
  3. Toàn Ánh (2012), Nếp cũ, Nxb Trẻ.
  4. Đỗ Thị Bình và các tác giả khác (2002), Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nxb. Khoa học xã hội, Hà nội.

 

TS. Nguyễn Thanh Huyền