SỬ DỤNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI KHU CÔNG NGHIỆP

Bài viết dựa trên Khảo sát việc tiếp cận dịch vụ hành chính công của người lao động tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long, Đông Anh, Hà Nội năm 2016.

Khảo sát được tiến hành theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng không tỷ lệ, với lượng mẫu được chọn là 200 người lao động và các phỏng vấn sâu với hai nhóm đối tượng: người lao động và cán bộ chính quyền địa phương để làm rõ hơn thực trạng tiếp cận và các yếu tố ảnh hưởng tới việc tiếp cận dịch vụ hành chính công của người lao động.

Nhận biết nơi làm các dịch vụ hành chính công

Các thủ tục hành chính như: đăng kí khai sinh; đăng kí kết hôn; xác nhận sơ yếu lí lịch, chứng thực giấy tờ; khai báo tạm trú tạm vắng thường được làm tại chính quyền nơi cá nhân đang sinh sống và làm việc. Tuy nhiên, các loại giấy tờ này vẫn có thể làm tại chính quyền nơi cá nhân đó không đăng kí tạm trú tạm vắng. Vì vậy, việc nhận biết nơi làm việc các thủ tục hành chính rất quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động, giảm thiểu thời gian làm và đi lại.

Bảng 1. Tỷ lệ nhận biết về nơi làm các thủ tục hành chính công (%)

 

Thủ tục hành chính công

Chính quyền nơi đăng ký hộ khẩu thường trú

Chính quyền nơi sinh sống, làm việc

 

 

 

 

Bộ phận 1 cửa

Phòng khác nhau

Bộ phận 1 cửa

Phòng khác nhau

 

Đăng ký khai sinh thông thường

77,2

22,8

3,5

   0,0

 

Đăng ký kết hôn

71,5

28,5

3,5

    0,0

 

Xác nhận sơ yếu lý lịch

84,5

15,5

3,5

     0,0

 

Chứng thực bản sao từ bản chính giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt

88,8

11,2

6,0

     0,0

 

Khai báo tạm trú tại công an xã/phường

67,5

            22,0

10,0

     1,0

 

Khai báo tạm vắng tại công an xã/phường

70,5

23,5

6,0

    0,5

                       
 

Trong Bảng 1, có sự khác biệt rõ về nhận biết của người lao động khi cho biết nơi làm thủ tục hành chính. Tỷ lệ lựa chọn làm các thủ tục trên ở chính quyền địa phương nơi đăng ký hộ khẩu thường trú ở bộ phận một cửa rất cao: chứng thực bản sao từ bản chính giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt là 88,8%; xác nhận sơ yếu lý lịch (84,5%); đăng ký khai sinh thông thường (77,2%); đăng ký kết hôn (71,5%); khai báo tạm vắng (70,5%); khai báo tạm trú (67,5%). Người lao động địa phương cho biết họ làm các thủ tục này tại bộ phận một cửa của ủy ban nhân dân xã: Tất nhiên là anh làm ở bộ phận một cửa chứ. Làm ở đây nhanh và tiện hơn rất nhiều, anh nghĩ chắc ở xã nào bây giờ cũng cải cách làm ở bộ phận một cửa hết cả rồi.” (nam, 35 tuổi, Hà Nội)

Theo lãnh đạo xã: “Bộ phận một cửa được triển khai từ tháng 10 năm 2005, theo quyết định 07 về chức danh, nhiệm vụ của bộ phận văn phòng một cửa, ở xã Kim Chung, có bộ phận một cửa, thì nộp các giấy tờ hành chính ở đây rồi bộ phận này sẽ có nhiệm vụ gửi các bộ phận liên quan, rồi chuyển lãnh đạo ký, rồi gửi lại cán bộ một cửa trả cho người làm thủ tục. Do địa bàn xã Kim Chung rộng và tập trung nhiều lao động, cho nên xã đã điều chuyển bộ phận Tư pháp sang ngồi ở văn phòng một cửa và tuyển thêm 2 cán bộ hợp đồng trợ giúp các công việc có liên quan tới bộ phận một cửa này (lãnh đạo xã Kim Chung)

Cũng có một số người lao động đã làm các thủ tục hành chính tại nơi họ đăng kí tạm trú, đối với người lao động tại khu công nghiệp họ có thể làm các thủ tục tại địa bàn nơi họ đang làm việc.

Bảng 2. Tỷ lệ người lao động tự làm thủ tục hành chính hoặc nhờ người khác làm hộ (%)

 

Thủ tục hành chính công

Tự bản thân

Nhờ người khác

Đăng ký khai sinh thông thường

69,0

31,0

Đăng ký kết hôn

98,5

1,5

Xác nhận sơ yếu lý lịch

74,0

26,0

Chứng thực bản sao từ bản chính giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt

63,5

36,5

Khai báo tạm trú tại công an xã/ phường

78,0

22,0

Khai báo tạm vắng tại công an xã/ phường

75,5

24,5

 

Thủ tục đăng ký kết hôn có tỷ lệ tự làm cao, 98,5%. Thủ tục chứng thực bản sao từ bản chính giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt có thể nhờ người khác làm hộ, 36,5%. Đa số các tỷ lệ ý kiến của người lao động cho rằng các thủ tục hành chính nêu trên (> 50%) do bản thân làm. Cụ thể, đăng  ký khai sinh thông thường là 69%, xác nhận sơ yếu lý lịch, 74%; chứng thực bản sao từ bản chính giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt, 63,5%; khai báo tạm trú, 78%; và khai báo tạm vắng, 75,5%.

Về việc nhờ người khác làm hộ, đăng ký khai sinh là 31%; đăng ký kết hôn, 1,5%; xác nhận sơ yếu lý lịch, 26%; khai báo tạm trú, 22%; và khai báo tạm vắng, 24,5%. Tuy nhiên, qua phỏng vấn định tính, một số lao động ngoại tỉnh có thể nhờ chủ nhà trọ đi làm hộ giấy tạm trú tạm vắng: “Anh thì vẫn đăng ký thường trú tại quê nhà ở Thanh Hóa, ở đây anh chỉ đăng ký tạm trú tạm vắng, nhưng anh không phải đi đăng ký mà do chủ nhà trọ đưa cho mình mẫu sẵn có, mình điền đầy đủ các thông tin cần thiết vào, đưa cho chủ nhà trọ đi đăng ký cho.” (nam, 27 tuổi, Thanh Hóa)

Như vậy, có thể thấy tỷ lệ và số lượng người nhận biết về nơi làm các thủ tục hành chính công khá cao, ngoài một số giấy tờ bắt buộc phải về nơi có hộ khẩu thường trú làm thì những loại giấy tờ khác họ cũng có thể làm tại nơi đang làm việc.

Sử dụng các dịch vụ hành chính công

Qua kết quả khảo sát định lượng và định tính sẽ làm rõ khả năng sử dụng và tiếp cận với các loại thủ tục hành chính như là: đăng ký khai sinh thông thường, đăng ký kết hôn; xác nhận sơ yếu lí lịch; chứng thực giấy tờ; khai báo tạm trú, tạm vắng. Khả năng tiếp cận trong nghiên cứu chỉ ra việc người lao động đã từng làm các loại thủ tục này chưa? Việc sử dụng các dịch vụ hành chính công của người lao động ở mức độ nào?

Tỷ lệ đã từng làm thủ tục xác nhận sơ yếu lý lịch và chứng thực giấy tờ là cao nhất, 97% và 96%. Đây là những thủ tục cần thiết và cơ bản nhất mà người lao động thường xuyên phải làm, sau đó là đăng ký khai sinh (84%). Các thủ tục khác đăng ký kết hôn, khai báo tạm trú, khai báo tạm vắng chiếm tỷ lệ thấp hơn (63%-69%).

“Những loại thủ tục này thì anh đã từng làm qua hết rồi, lao động ở nơi khác như anh thì hầu hết các thủ tục bắt buộc phải từng làm như đăng ký khai sinh hoặc chứng thực giấy tờ thì làm nhiều rồi vì có trong hồ sơ xin việc.”(nam, 29 tuổi, Nghệ An)

Theo ý kiến của cán bộ văn phòng một cửa, ủy ban vẫn tạo điều kiện cho người lao động ở nơi khác đến làm các thủ tục hành chính như đăng ký khai sinh, xác nhận sơ yếu lí lịch, chứng thực. Tuy nhiên đối với những trường hợp chưa có hộ khẩu thường trú ở địa bàn xã thì người lao động được hướng dẫn về địa phương đăng ký hộ khẩu thường trú để đăng ký khai sinh để tránh những bất cập sau này:

“Hiện tại ở UBND xã thì mới có một trường hợp là đăng ký khai sinh ở đây, còn các trường hợp khác thì luôn được hướng dẫn về nơi đăng ký hộ khẩu thường trú để làm đăng ký khai sinh. Sở dĩ như vậy là bởi nếu cho con đi học thì họ lại phải lên xã Kim Chung xin bản sao công chứng rồi về quê làm các thủ tục hộ khẩu, cũng phức tạp, nên chúng tôi đều hướng dẫn cho người lao động về nơi có hộ khẩu để làm. Đối với những trường hợp người lao động mà xác định mua đất làm nhà ở lâu dài ở đây thì chúng tôi vẫn làm các thủ tục giấy tờ bình thường”.(nữ, cán bộ văn phòng một cửa xã Kim Chung)

Các kênh thông tin như: báo, tạp chí, đài, tivi, Internet cho thấy đa số người lao động đều có tiếp cận với các kênh thông tin này, tuy nhiên họ tiếp cận ở những mức độ khác nhau và có sự chênh lệch rõ rệt. Kênh thông tin người lao động sử dụng thường xuyên là Internet với 68%; còn lại đa số sử dụng tivi, radio, báo…ở mức độ thỉnh thoảng: 43%; 34%; và 39%.

Bảng 2. Mức độ tiếp cận thông tin có liên quan tới các thủ tục hành chính công

 qua các kênh thông tin (%)

 

Kênh

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Hiếm khi

Không bao giờ

Báo

10,5

        39,0

     21,0

29,5

Tạp chí

2,5

        31,0

24,5

        42,0

Đài/ Radio

5,5

        34,0

31,5

        29,0

Tivi

        20,0

        43,0

     17,0

        20,0

Internet

        34,0

  45,5

     16,0

 4,5

Khác

4,5

        13,0

         5,0

           77,5

 

Một lao động nữ cho biết: “Chị thấy nói chung thì người lao động ở đây toàn làm ca, nhưng khi làm thủ tục nào thì họ cũng lướt qua xem cần mang giấy tờ gì, nhưng chủ yếu là tìm trên mạng thôi, chứ ít ai tìm thông tin ở báo chí gì cả.” (nữ, 28 tuổi, Hà Nội)

Như vậy, mức độ tiếp cận thông tin của người lao động là tương đối cao nhất là qua Internet. Có thể khẳng định người lao động là một trong những đối tượng rất quan tâm tới lĩnh vực hành chính công.

Mức phí và thời gian làm các dịch vụ hành chính công 

Qua khảo sát về hiểu biết mức thu phí hiện nay có được niêm yết tại UBND xã/phường, có sự chênh lệch về mức độ hiểu biết của người lao động. 65% người lao động biết có mức thu phí có được niêm yết tại trụ sở UBND xã/phường; 15% biết mức thu phí không được niêm yết ở UBND xã/phường; và 20% không rõ mức thu phí có được niêm yết tại UBND. Có thể người lao động khi đến UBND không để ý tới bảng thu phí hoặc có biết nhưng không đọc và không rõ các mức thu phí.

Theo cán bộ văn phòng một cửa UBND xã Kim Chung, hiện tại ở Ủy ban có niêm yết bảng thu phí và mức phí cụ thể ở trước văn phòng:

“Niêm yết mức phí và phí là có, thời gian giải quyết cũng được niêm yết ở trước cửa văn phòng một cửa, chỗ nội quy quy định. Những quy định này được thực hiện theo quy định 07 về nội quy quy định thời hạn giải quyết. Tuy nhiên, ở xã Kim Chung có một điểm khác mà chúng tôi luôn tạo điều kiện cho người lao động đó là, theo quy định thì công dân nộp các thủ tục để làm sau 15 giờ chiều thì sẽ hẹn sang ngày hôm sau để giải quyết, nhưng ở xã Kim Chung thì tạo điều kiện tối đa cho đến 16 giờ 30 phút, còn nếu quá thời gian trên thì mới để sang ngày hôm sau.” (nữ, cán bộ văn phòng một cửa xã Kim Chung).

Tuy mức phí đã được quy định rõ tại Quyết định số 4322/QĐ-UBND ngày 01/10/2012 “Về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành/ thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế/thủ tục hành chính bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ trong lĩnh vực tư pháp thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tư pháp/ UBND cấp huyện/UBND cấp xã trên địa bàn thành phố Hà Nội, nhưng đánh giá về mức thu phí này có nhiều ý kiến, cụ thể 65% người lao động cho biết chính quyền xã/phường có niêm yết bảng thu phí tại trụ sở UBND; 33,5% đánh giá mức phí là cao; 8% đánh giá là không cao; và 58,5% đánh giá bình thường.

“Phí thu như thế chị nghĩ là không cao đâu em, rẻ ấy chứ. Chị thì không nắm rõ mức phí theo quy định nhưng mà phí thực tế thu cũng không đắt đâu. Bây giờ ở UBND xã cũng tiện lắm, có máy photo ở đấy, giá cũng rẻ và thuận tiện hơn nhiều cho người dân.” (nữ, 28 tuổi, Hà Nội)

Như vậy, ở một số nơi thì đã có niêm yết mức thu phí khi làm các thủ tục này, hầu hết các mức phí này được người lao động đánh giá là bình thường và không cao. Tuy nhiên, cũng một số người lao động chưa nắm rõ cụ thể mức phí cụ thể là bao nhiêu.

Với mức độ nhận biết và hiểu biết của người lao động về các loại thủ tục hành chính công đã nêu thì có thể thấy nhận thức của người lao động khá cao khi tỷ lệ người đã từng làm các thủ tục cao, tỷ lệ có biết đến mức phí, cũng như thời hạn giải quyết các thủ tục đó. Đây là những thủ tục cần thiết mà người lao động hay phải làm. Bên cạnh đó, cũng vẫn còn một bộ phận người lao động có nhận thức chưa đầy đủ về các loại thủ tục hành chính công.

Mức độ hài lòng của người lao động với các dịch vụ hành chính công

Kết quả khảo sát cho thấy không có sự khác biệt và chênh lệch nhiều về mức độ hài lòng của người lao động ở các nội dung thái độ phục vụ của cán bộ (2,85 điểm); năng lực, chuyên môn nghiệp vụ (2,71 điểm); cán bộ hướng dẫn thủ tục làm (2,8 điểm); giờ giấc làm việc (2,78 điểm); và kết quả giải quyết công việc (2,68 điểm).

Việc đánh giá mức độ hài lòng của người lao động của chính quyền cũng không dễ, trong khi chính quyền luôn tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu của người lao động:

“Để đánh giá mức độ hài lòng thì vô cùng lắm, ủy ban luôn tạo điều kiện hết sức có thể sao cho người lao động nói riêng và người dân nói chung có thể dễ dàng và thuận lợi tiếp cận được với các thủ tục hành chính này, còn để nói đáp ứng được 100% sự hài lòng của công dân thì cũng vô cùng lắm.”(nữ, cán bộ văn phòng một cửa xã Kim Chung)

Như vậy, việc cải thiện chất lượng dịch vụ được tốt hơn và nâng cao mức độ hài lòng của người lao động là một quá trình dài và sự tham gia đồng bộ của các ban ngành liên quan tới cải cách thủ tục hành chính.

Những bất cập trong tiếp cận các dịch vụ hành chính công

Người lao động trong khu công nghiệp là nhóm xã hội có đặc thù về thời gian, cho nên việc làm các thủ tục hành chính công họ cũng gặp không ít những khó khăn. Kết quả khảo sát cho thấy, hơn một nửa (56%) người lao động gặp khó khăn khi làm các thủ tục hành chính công. Không chỉ là khó khăn như về thời gian, mà còn gặp khó khăn về giấy tờ, thủ tục rườm rà.

Bảng 3. Những khó khăn mà người lao động gặp phải khi làm các

thủ tục hành chính công (%)

 

Khó khăn

Không

Thủ tục giấy tờ còn rườm rà, mất thời gian

     50,0

8,5

Trả kết quả muộn hơn so với giấy hẹn

20,5

             38,0

Cán bộ gây khó khăn

      13,0

45,5

Cán bộ không đúng mực khi giao tiếp

       9,0

49,5

Năng lực chuyên môn của cán bộ hạn chế

12,5

             46,0

Phải đi lại, bổ sung giấy tờ nhiều lần

       37,0

             21,0

Ứng dụng CNTT còn hạn chế

       20,0

38,5

Khác

0,5

            58,0

 

 

Trong số những khó khăn này, thủ tục giấy tờ còn rườm rà, mất thời gian chiếm tỷ lệ cao nhất với 50% ý kiến; tiếp đến là phải đi lại, bổ sung giấy tờ nhiều lần (37%); trả kết quả muộn so với giấy hẹn (20,5%); và ứng dụng CNTT hạn chế (20%). Cũng có 9% cho rằng cán bộ không đúng mực khi giao tiếp.

Việc người lao động có người quen/người thân sẽ có nhiều thuận lợi hơn khi họ đi làm các thủ tục hành chính ở UBND xã/phường, mặc dù tỷ lệ người lao động không có người quen/người thân làm trong UBND xã/phường chiếm tỷ lệ cao với 91%.

Không quen biết thì anh thấy thái độ bình thường, có quen biết thì dễ hơn, được hướng dẫn tận tình hơn, thay vì đợi thì mình được xin trước.” (nam, 27 tuổi, Thanh Hóa)

Ở mỗi thủ tục hành chính khác nhau, người lao động gặp khó khăn ở mức độ khác nhau. Nhìn chung, hơn 2/3 người lao động đánh giá mức độ bình thường; 15% cho rằng khó khăn; gần 10% và nói không khó khăn. Bên cạnh những khó khăn về làm thủ tục hành chính thì việc di chuyển về quê để làm các thủ tục của người lao động ngoại tỉnh cũng gặp nhiều khó khăn, trong đó đường về quê xa, đi lại khó khăn chiếm tỷ lệ cao nhất (64,8%), tiếp đến là không xin nghỉ làm được (59,3%), say xe (41,8%)…Việc chờ đợi làm thủ tục hành chính công tại UBND xã cũng là một vấn đề với 75% nói họ phải chờ đợi chủ yếu bởi các lý do: theo thứ tự (55,8)%; cán bộ phụ trách bận họp (41,6%); cán bộ phụ trách đi vắng (39,6%). 57% người lao động nói quá trình làm các thủ tục hành chính công mất thời gian; 39% cho là bình thường; và 4% đánh giá nhanh chóng. Hơn nữa, người lao động là nhóm xã hội đặc thù do có hạn chế về thời gian, đặc biệt những người phải làm việc theo ca kíp. Có tới 2/3 (67%) người lao động phải làm ca.

Mong muốn của người lao động với các thủ tục hành chính công

Tìm hiểu thông tin về thủ tục hành chính công

Một nửa (50%) người lao động rất mong muốn được tìm hiểu các thông tin về thủ tục hành chính công. 46% nói việc tìm hiểu các thông tin về thủ tục hành chính công là bình thường bởi có thể do họ phải làm ca, không có nhiều thời gian và điều kiện để tìm hiểu, hoặc họ còn thiếu các thiết bị truyền thông. Với đặc thù làm việc theo ca nên việc tiếp cận dịch vụ cũng gặp khó khăn khi mà UBND làm việc theo giờ hành chính. Đây cũng là một trong những yếu tố gây khó khăn cho người lao động.

Cải thiện chất lượng dịch vụ hành chính công

Việc đơn giản hóa các giấy tờ hành chính và rút ngắn thời gian xử lý các thủ tục hành chính luôn là những ưu tiên hàng đầu trong việc cải thiện chất lượng dịch vụ hành chính công hiện nay. 87,5% người lao động muốn đơn giản hoá các giấy tờ hành chính; 69,5% muốn cán bộ xã cần hướng dẫn cụ thể và chi tiết hơn về các loại giấy tờ; và 81,5% muốn thời gian xử lý các thủ tục cần nhanh gọn.

Phỏng vấn định tính cũng cho thấy việc đơn giản các loại giấy tờ và rút ngắn thời gian làm là điều họ mong muốn nhất:

“Anh thấy là trước mấy năm thì xin dấu gõ cửa mấy phòng ban để làm thủ tục, nhiều khi cũng mất nhiều thời gian, hoặc nhiều khi mình cũng phải đợi lâu mất nhiều thời gian mới làm xong thủ tục nhưng bây giờ làm cũng nhanh chóng, anh muốn không chỉ về giờ giấc, tác phong làm việc của cán bộ chính quyền xã cần nhanh chóng mà cần làm giảm bớt giấy tờ không cần thiết đi. Một số loại giấy tờ như giấy khai sinh cần thực hiện làm online, tránh mất thời gian đi lại của nhiều lao động như anh”. (nam lao động, 27 tuổi, Thanh Hóa)

Kết quả khảo sát thực trạng của người lao động về nhu cầu tìm hiểu thông tin và nhu cầu cải thiện chất lượng dịch vụ cho thấy dịch vụ hành chính công luôn là lĩnh vực được quan tâm nhiều. Hầu hết người lao động đã có những tiếp cận cơ bản ban đầu về những loại thủ tục đó, tuy nhiên việc tiếp cận vẫn gặp nhiều khó khăn và hạn chế. Người lao động có nhu cầu và mong muốn cải thiện chất lượng dịch vụ cũng như được tìm hiểu kỹ các thủ tục hành chính.

Kết luận

Sự ra đời của bộ phận “một cửa”, “một cửa liên thông” đã giải quyết được rất nhiều bất cập và hạn chế khi làm các thủ tục hành chính như là: rào cản về thời gian, giảm được chi phí làm thủ tục, thời gian giải quyết công việc và trình tự giải quyết, mức thu phí đã được niêm yết công khai.

Thực trạng việc tiếp cận dịch vụ hành chính công của người lao động vẫn còn gặp nhiều khó khăn, bất cập như: việc di chuyển đi lại, thời gian chờ đợi, việc xin nghỉ làm…vv. Tỷ lệ người lao động gặp các khó khăn nêu trên luôn chiếm tỷ lệ khá cao, điều này cũng được khẳng định trong các phỏng vấn sâu khi hầu hết các ý kiến đều cho biết họ đều gặp khó khăn khi làm các thủ tục hành chính công hiện nay.

Để nâng cao hơn nữa chất lượng hành chính công thì việc triển khai “cơ chế một cửa”, “một cửa liên thông” không những ở Hà Nội và nhiều địa phương trong cả nước đã mang lại những kết quả khả quan. Tuy nhiên, thực trạng người dân nói chung và người lao động nói riêng vẫn phải chờ đợi, đi lại nhiều lần vẫn đang là một trong những vấn đề nhức nhối, cần được khắc phục triệt để. Do vậy, mô hình này cần tiếp tục triển khai mạnh hơn nữa các trong những năm tới.

Hiện nay với ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, việc tìm hiểu thông tin liên quan tới thủ tục hành chính đã trở nên dễ dàng và đơn giản, tạo điều kiện cho người lao động có thể tiếp cận thông tin và tìm hiểu kiến thức về dịch vụ hành chính công thuận lợi.

Tài liệu tham khảo

  1. Đặng Nguyên Anh (2005), Chiều cạnh giới của di dân lao động trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Tạp chí xã hội học số 2 (90).
  2. Đặng Nguyên Anh & Nguyễn Bình Minh (1998), Đảm bảo cung cấp dịch vụ xã hội cho người lao động nhập cư ở thành phố, Tạp chí xã hội học số 4 (64).
  3. Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Vũ Công Giao (2011), Lao động di trú trong pháp luật quốc tế và Việt Nam, sách chuyên khảo, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội.
  4. Phạm Tất Dong – Lê Ngọc Hùng (Đồng chủ biên) (2001), “Xã hội học”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
  5. Phạm Quỳnh Hương (2006), Người nhập cư đô thị và an sinh xã hội, Tạp chí Xã hội học số 1 (93).
  6. Nguyễn Thị Bích Nga (2003), Việc làm và đời sống của người lao động theo thời vụ từ nông thôn ra Hà Nội (Nghiên cứu trường hợp tại Hà Nội và xã Xuân Thượng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định), Tạp chí xã hội học số 2 (82).
  7. Hà Thị Phương Tiến, Hà Quang Ngọc (2002), Lao động nữ di cư tự do nông thôn – thành thị, NXB Phụ nữ Hà Nội.

8. Trung tâm nghiên cứu con người – quyền công dân (2009), Bảo vệ người lao động di trú, tập hợp các văn kiện quan trọng của quốc tế, khu vực ASEAN và của Việt Nam liên quan đến vị thế và việc bảo vệ người lao động di trú”. Nxb lao động, Hà Nội.

Nguyễn Thị Yến