SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG BẢO VỆ RỪNG Ở LÀO CAI

Quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững là một trong 3 Chương trình phát triển của Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020 hiện đang được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đẩy mạnh thực hiện nhằm mục tiêu quản lý, phát triển và sử dụng rừng bền vững, có hiệu quả, đáp ứng cơ bản nhu cầu lâm sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội. Chiến lược này đã tập trung vào 5 chương trình chính: Quản lý và phát triển rừng bền vững; Bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và các dịch vụ môi trường; Chế biến và thương mại gỗ, lâm sản; Nghiên cứu, giáo dục, đào tạo và khuyến lâm; Đổi mới chính sách, thể chế, lập kế hoạch và giám sát ngành.

Dựa trên các dữ liệu được khảo sát tại 03 xã (Na Hối, Lầu Thí Ngài, Nậm Mòn) của huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai, bài viết trình bày thực trạng sự tham gia của người dân trong quản lý, bảo vệ rừng tại một tỉnh thuộc ở miền núi phía Bắc.

Sự lãnh đạo, chỉ đạo trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng

Về công tác lãnh đạo, chỉ đạo

Những năm gần đây tỉnh Lào Cai luôn chú trọng đến công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Tỉnh ủy đã đưa các nội dung về quản lý, bảo vệ phát triển rừng vào trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ XV và ban hành Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 27/11/2015 về 4 chương trình công tác và 19 đề án trọng tâm của tỉnh, trong đó có đề án “Tái cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp tỉnh Lào Cai giai đoạn 2016 - 2020”, Sau đó, UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch số 92/KH-UBND ngày 08/4/2016 thực hiện đề án. Năm 2017, Tỉnh ủy Lào Cai đã ban hành Nghị quyết 09-NQ/TU, ngày 24/4/2017 về phát triển lâm nghiệp bền vững tỉnh Lào Cai giai đoạn 2016-2020. Bên cạnh đó tỉnh ủy, UBND yêu cầu các cấp huyện phải có các chương trình, đề án, kế hoạch thực hiện các yêu cầu của cấp trên.

Đối với huyện Bắc Hà, Huyện ủy, UBND huyện đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các xã thực hiện việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng một cách chi tiết. Trên cơ sở yêu cầu của cấp trên, Huyện ủy Bắc Hà đã ban hành “Đề án Phát triển lâm nghiệp, nâng cao chất lượng rừng giai đoạn 2016 - 2020”.

Đề án này đã xác định mục tiêu chung là “Diện tích đất trống quy hoạch cho lâm nghiệp trên địa bàn còn tương đối lớn 11.398 ha để nâng cao tỷ lệ độ che phủ rừng đến hết năm 2020 đạt trên 40% và nâng cao chất lượng rừng góp phần xóa đói giảm nghèo theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện khóa XXIII đề ra, trong 5 năm phải tập trung tổ chức thực hiện trồng rừng mới 6.056 ha”1.

Thực hiện các hoạt động về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng theo các Đề án của tỉnh và huyện, các cấp ngành thường xuyên có các báo cáo bằng văn bản về kết quả thực hiện các đề án trên địa bàn. Các báo cáo bao gồm từ báo cáo sơ kết 06, báo cáo tổng kết năm, báo cáo theo nội dung được lồng ghép trong các báo cáo KT-XH của địa phương…

Về công tác quản lý, bảo vệ rừng

Theo số liệu, toàn tỉnh có diện tích rừng năm 2017 là 353.597 ha, được phân chia thành nhiều chủ thể quản lý. Trong đó các tổ chức nhà nước (BQL rừng phòng hộ, BQL rừng đặc dụng; VQG, Doanh nghiệp nhà nước) quản lý 188.535 ha. UBND xã tạm thời quản lý diện tích 98.456 ha. Các hộ gia đình cá nhân quản lý 63.093 ha. Cộng đồng dân cư quản lý 1.405 ha. Lực lượng vũ trang quản lý là 670 ha; Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là 1.177 ha và các tổ chức khác là 263 ha2. Có thể thấy quản lý rừng được thực hiện khá tốt trên địa bàn tỉnh Lào Cai.

Trên địa bàn huyện, công tác quản lý rừng và theo dõi cán biến động diện  tích rừng cũng được đặc biệt quan tâm. Hiện tại Huyện đã thực hiện trồng rừng sản xuất, phòng hộ bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước và nhân dân tự đầu tư: 3.521 ha; đến hết 2017, diện tích trồng Quế là 7.203 ha. Về diện tích trồng mới rừng sản xuất, kết quả cho thấy, toàn huyện đã thực hiện trồng mới 2.500 ha.

Một trong các hoạt động bảo vệ rừng (BVR) là chăm sóc các diện tích rừng đang có cũng như diện tích rừng trồng mới. Theo báo cáo của Huyện ủy3, toàn huyện hiện tại đã thực hiện chăm sóc cho 1.149,4 lượt ha đối với rừng phòng hộ; hoàn thành thực hiện chăm sóc 3.125 lượt ha đối với rừng sản xuất. Hoạt động chỉ đạo hạt kiểm lâm và chính quền các xã tổ chức thống kê, lập hồ sơ và ký cam kết bảo vệ rừng với 173 hộ trồng cây dưới tán rừng, diện tích là 218,2 ha. Hoạt động truy xuất nguồn gốc lâm sản cũng được thực hiện nghiêm túc. Trong đó, thực hiện truy xuất nguồn gốc lâm sản, ngăn chặn và xử lý kịp thời nghiêm minh đúng quy định của pháp luật đối với 16 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng.

Hình thức nhận khoán BVR cũng được thực hiện rộng rãi. Trong các năm 2014-2016, tỉnh thực hiện 5 hình thức nhận khoán đối với các chủ thể khác nhau. Các hình thức này thực hiện theo phương thức ký hợp đồng nhận khoán BVR hàng năm, cụ thể:

Bảng 1. Loại hình bảo vệ rừng tại Lào Cai, 2014-2016

Loại hình

Diện tích (ha)

Tỷ lệ/tổng DT khoán (%)

Số hộ nhận

Bình quân

Hộ gia đình

6.984,5

3,6

639 (hộ)

11 ha/hộ

Cộng đồng

56.073,1

28,54

342 hộ

163 ha/cộng đồng

Nhóm hộ

58.613, 3

29,9

869 nhóm hộ

67,5 ha/nhóm hộ

Tổ/đội tự  quản

34.323,3

17,7

23 tổ/đội

1.492 ha/tổ

Chia sẻ lợi ích

30.077

20,2

  •  
  •  
 

Nguồn: Sở NN&PTNT Lào Cai, Báo cáo thực trạng bảo vệ rừng 2018.

Sự tham gia của người dân trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng

Tập huấn liên quan tới hoạt động lâm nghiệp

Sự tham gia của người dân trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng gồm nhiều hình thức và mức độ khác nhau. Mức độ tham gia đầu tiên và thấp nhất trong quá trình tham gia là được biết, được thông tin, được tập huấn. Trả lời câu hỏi, “trong 5 năm qua, gia đình được tập huấn nội dung gì?” Kết quả khảo sát cho thấy, trong cả 2 nhóm được khảo sát là người dân và cán bộ đều cho biết kết quả khá tương đồng là nội dung về trồng rừng và Phòng chống chữa cháy rừng (PCCCR) được tập huấn nhiều.

Bảng 2. Nội dung tập huấn liên quan tới hoạt động lâm nghiệp

 

Nội dung tập huấn

Người dân (%)

Cán bộ (%)

Trồng rừng

84,3

92,0

Khai thác tài nguyên rừng

23,6

48,0

Phòng chống chữa cháy rừng

63,8

94,0

Chống xói mòn đất

29,9

44,0

Chống người phá hoại rừng

37,0

62,0

Phát triển rừng

47,2

74,0

Nguồn: Kết quả khảo sát đề tài, 2018

Bảng trên cho thấy, trong số 127 người dân trả lời câu hỏi về tập huấn, có tới trên 84% cho biết họ được tập huấn về trồng rừng, và trên 63% cho biết được tập huấn về PCCCR và gần 50% được cho biết được tập huấn về phát triển rừng. Kết quả đối với nhóm cán bộ là 92% cho biết người dân được tập huấn về trồng rừng; 94% cho biết người dân được tập huấn về PCCCR; 74% cán việc trực tiếp tham gia chữa cháy. Tuyên truyền về PCCCR là hoạt động mà người dân tham gia nhiều nhất, với gần 90%; tỷ lệ người dân trực tiếp tham gia chống cháy rừng chiếm 45%, thành viên đội xung kính chống cháy rừng là trên 31%... Như vậy, có thể thấy, rất nhiều người dân tham gia vào hoạt động PCCCR.

Bảng 3. Các hoạt động người dân tham gia trong PCCCR

Hoạt động

Tỷ lệ (%)

Tuyên truyền

87,9

Trực tiếp chống cháy rừng

45,0

Thành viên đội chống cháy rừng

32,1

Chuyên trách chống cháy rừng

20,0

Khác

0,7

Nguồn: Kết quả khảo sát đề tài, 2018

Về hình thức tham gia của người dân trong PCCCR còn được thể hiện ở việc các xã đều có đội xung kích PCCCR. Đội xung kích này được người dân bầu lên và hoạt động khá hiệu quả. Kết quả của hoạt động PCCCR cho thấy, từ 2013 đến 2017 không có vụ cháy rừng nào xảy ra trên địa bàn khảo sát. Một số đám cháy nhỏ đã được người dân kịp thời dập tắt và không để lan rộng. Về hoạt động PCCCR, các xã rất tích cực tuyên truyền cho người dân những tri thức và kỹ năng để phòng cháy rừng, từ những kỹ năng chữa cháy đến các kỹ năng để đốt rác, rẫy không bị cháy.

Từ 2013, ý thức của bà con đồng bào là không biết. Nên rất chủ quan về bảo vệ rừng, nên có hiện tượng cháy rừng. Từ 2013 trở lại đây không có cháy rừng. Các buổi họp các ban ngành đoàn thể của thôn cũng đều đưa ra tuyên truyền. Nội dung nhiều về phòng chống cháy rừng, bảo vệ rừng. Cháy rừng thì chủ yếu ở khu đồi núi trọc thôi, bà con làm nương giờ thì hãn hữu lắm mới có cháy rừng, mà chỉ các đám nhỏ thôi. Dập lửa ngay. Người dân giờ trách nhiệm hơn. (nam cán bộ xã Nậm Mòn).

Công tác BVR, xã thường xuyên đôn đốc, hướng dẫn bà con khai thác theo quy định. Từ 2013 đến nay cũng không có cháy rừng. Năm 2017, khi phát nương thì bà con có sơ ý làm cháy nhỏ, người dân thấy khói lên và gọi cho cán bộ xã, khi cán bộ xã lên thì đã thấy bà con tập trung và đám cháy đã được dập rồi. Về cơ bản là không có gì. (nữ cán bộ xã Na Hối)

Sự tham gia trong mô hình quản lý, bảo vệ rừng

Quản lý và bảo vệ rừng là một nội dung quan trọng trong phát triển rừng bền vững. Việc tham gia của người dân trong các hoạt động liên quan tới quản lý rừng, BVR có ý nghĩa quan trọng, quyết định tới hoạt động thực hiện phát triển rừng bền vững. Có hai hình thức quản lý, bảo vệ rừng được sử dụng phổ biến tại địa bàn khảo sát. Cả hai nhóm cán bộ và người dân đều cho biết, thứ nhất “Quản lý, bảo vệ rừng theo thôn/bản” là hình thức phổ biến, áp dụng rộng rãi, tiếp đến là “Quản lý, bảo vệ rừng theo nhóm” cũng được sử dụng rộng rãi.

Bảng 4. Quản lý, bảo vệ rừng tại địa bàn khảo sát

Hình thức tổ chức quản lý và bảo vệ rừng

Người dân (%)

Cán bộ (%)

Quản lý và bảo vệ rừng theo dòng tộc/dân tộc

49.7

32.7

Quản lý và bảo vệ rừng theo thôn/bản

85.3

90.4

Quản lý và bảo vệ rừng theo các nhóm

42.7

73.1

Hình thức khác

7.7

11.5

Nguồn: Kết quả khảo sát đề tài, 2018

Hai hình thức phổ biến là quản lý, BVR theo thôn/bản và quản lý, BVR theo nhóm. Tuy nhiên, hiệu quả của hai hình thức quản lý, bảo vệ rừng này là khác nhau. Về cơ bản, cả hai đều có hiệu quả trong BVR nhưng có mức độ khác nhau. Nói về hiệu quả của 2 mô hình này, phỏng vấn cán bộ kiểm lâm cho thấy:

Các nhóm thì không phải hoạt động tốt tất cả. Nhưng so với các biện pháp BVR thì quản lý, bảo vệ rừng theo nhóm đang thực hiện tốt nhất. Chứ còn quản lý rừng, bảo vệ rừng theo cộng đồng thì chưa được tốt bằng, vì đôi khi vai trò của trưởng thôn chưa được cao. Quản lý, BVR cộng đồng thôn thì các anh ý đang hiểu là “rừng của chung”, đơn giá nhà nước thì thấp. Nếu chia đều: cho bà con trong dân thì một năm có khi một người chỉ được mấy chục nghìn thôi. Cho nên hiệu quả chưa cao. Theo tổ nhóm thì người ta phân ra thường xuyên kiểm tra, thanh tra. Thực tế trong các thôn thì những người tham gia các nhóm bảo vệ rừng cũng là những người cùng tham gia vào hoạt động của cộng đồng. Quan điểm của nhà nước và tỉnh thì hướng tới khuyến khích quản lý rừng cộng đồng, nhưng mà trên thực tế thì quản lý rừng cộng đồng vẫn còn những vấn đề tồn tại. Trong cộng đồng thì cũng giống như xã hội, có người tốt, có người xấu, còn nhóm thì ông phải bình bầu, họp thôn phải đưa ra ý kiến, ví dụ ông nào vào nhóm phải được nhận xét, có thể đề cử người khác. Nhóm bầu ra 1 trưởng nhóm thì người trưởng nhóm có trách nhiệm cao hơn. (nam cán bộ kiểm lâm)

Sự tham gia trong hoạt động truyền thống bảo vệ rừng

Theo kết quả làm việc với các cán bộ của huyện Bắc Hà, được biết hầu hết các xã trên đại bàn huyện có truyền thống BVR thông qua hình thức tổ chức lễ hội “Cúng rừng”. Đây là nét văn hóa truyền thống của người Bắc Hà, cứ vào khoảng đầu năm âm lịch, các thôn bản lại tổ chức 1 ngày lễ cúng rừng, để bày tỏ sự cảm ơn rừng cũng như cam kết, nhắc nhở thành viên trong thôn bản phải yêu quý và bảo vệ rừng. Về lễ hội cúng rừng tại Na Hối, phỏng vấn lãnh đạo xã cho biết:

Lễ Cúng rừng: ở xã chúng tôi, bà con có lễ cúng rừng. Tổ chức làm 2 loại: Chiều 30 của tháng 1 âm, còn những thôn khác thì tổ chức vào ngày 2 tháng 2 âm. Trong ngày cúng rừng đó thì tập trung đại diện các hộ gia đình, đồng chí trưởng thôn sẽ đứng ra triển khai một số nội dung của thôn, cũng như yêu cầu các hộ gia đình phải cam kết quản lý, bảo vệ rừng cũng như là chăn thả gia xúc. Các nội dung này thì thấy được thực hiện tương đối hiệu quả. Nếu như hộ gia đình nào vi phạm thì bị xử lý theo quy ước, hương ước của thôn. Cái này đã được đưa vào các thôn hàng năm. (nữ, Chủ tịch UBND xã)

Quyền quyết định trong các hoạt động quản lý, bảo vệ rừng, phát triển rừng

Quyền tham gia vào các quyết định liên quan đến lâm nghiệp thể hiện mức độ tham gia nhiều của người dân. Các câu hỏi liên quan tới sự tham gia của người dân vào các hoạt động như BVR và xây dựng quy chế BVR, có tới trên 90% người dân trả lời họ tham gia vào tất cả các hoạt động đó. Khi hỏi sâu hơn về hình thức tham gia, kết quả cho thấy, hình thức tham gia “họp thôn/ấp” và “trao đổi trong các cuộc họp” được người dân cho biết là tham gia nhiều. Tuy nhiên vẫn còn gần 50% người dân cho biết họ cũng được tham gia theo hình thức “Cán bộ xã thông báo”

Quyền quyết định

Như vậy, có thể thấy, người dân tham gia vào hoạt động liên quan đến rừng theo nhiều hình thức. Tuy nhiên, mức độ cao nhất về sự tham gia đó là “trao quyền toàn bộ” cho người dân. Trả lời câu hỏi “ai là người quyết định?” đối với các hoạt động sẽ cho biết mức độ người dân tham gia. Kết quả cho thấy, “cả người dân và cán bộ cùng quyết định” rất phổ biến trong các nội dung liên quan tới rừng. Có trên 60% người được hỏi trả lời phương án “cả người dân và cán bộ quyết định” các nội dung về BVR, trên 70% người trả lời phương án “cả người dân và cán bộ quyết định” đối với nội dung liên quan tới PTR và xây dựng các quy ước BVR. Tuy nhiên, có tới trên 1/4 người được hỏi cho rằng, cán bộ xã là người quyết định những vấn đề liên quan tới BVR.

Bảng 5. Người quyết định đối với các hoạt động

                                                                                                                                   Đơn vị: %

Quyết định

BVR

Xây dựng quy ước BVR

Cán bộ xã quyết định

26,0

16,1

Người dân quyết định

10,7

8,0

Cả người dân và cán bộ xã cùng quyết định

62,6

75,2

Không ý kiến

0,8

0,7

 

Nguồn: Kết quả khảo sát đề tài, 2018

Về sự tham gia của người dân và các quyết định, phỏng vấn lãnh đạo huyện cho thấy:

Về mức độ tham gia của người dân. Một là tham gia qua họp thôn. Thứ hai, tham gia trong việc gửi văn bản, tham gia bằng cách tham gia các hội nghị đối thoại và tiếp xúc cử tri. Xã thì cũng có nhiều người khác nhau, người thì rất nhiệt tình, người thì thờ ơ. Ở Bắc Hà, người dân tham gia rất nhiệt tình liên quan đến quy hoạch phát triển rừng. Cái này gắn với lợi ích thì người dân tham gia rất tích cực. Họ phải biết đâu là rừng sản xuất, đâu là rừng phòng hộ, để họ biết trồng rừng và khai thác. (nam, PCT huyện Bắc Hà)

Đánh giá hiệu quả hoạt động bảo vệ rừng

Đánh giá của người dân về mức độ hiệu quả trong công tác BVR tại Lào Cai cho thấy, đa số người dân cho rằng “Hiệu quả” và “Rất hiệu quả” (77%), tỷ lệ đánh giá hiệu quả ở mức “Bình thường” chỉ chiếm hơn 16%, chỉ có 2% người dân đánh giá là chưa hiệu quả.

Đánh giá những hoạt động liên quan tới BVR, người dân tham gia nhiều nhất vào hoạt động “Chống người phá hoại rừng” (87,1%), tiếp đến là PCCCR (80,7%) và Chống xói mòn đất (68,3%). Vẫn còn 1/5 số người có tham gia vào hoạt động khai thác rừng.

KẾT LUẬN

  • Tỉnh ủy, UBND tỉnh Lào Cai, cũng như các cấp, các ngành của tỉnh đã chủ động thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, và kịp thời ban hành nhiều văn bản, chương trình chỉ đạo và thực hiện hiệu quả những nội dung liên quan tới quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh.
  • Trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, người dân có nhiều hình thức tham gia với nhiều hoạt động và nhiều mô hình khác nhau như tham dự các hoạt động tuyên truyền, tham gia các mô hình PCCCR, tham gia các tổ nhóm xung kích chữa cháy rừng…
  • Về mô hình quản lý, bảo vệ rừng, người dân tham gia nhất là quản lý, bảo vệ rừng theo thôn/bản, tiếp đến là mô hình quản lý, bảo vệ rừng theo dòng tộc/dân tộc.
  • Trong các nội dung liên quan tới công tác PCCCR, người dân tham gia nhiều nhất vào hoạt động “Tuyên truyền” và “Chuyên trách PCCCR” có tỷ lệ người dân tham gia ít nhất.
  • Hai hoạt động liên quan tới bảo vệ rừng được đánh giá là người dân tham gia “tích cực” là “Chống người phá hoại rừng” và “PCCCR”. Đa số người dân đánh giá công tác bảo vệ rừng “Rất hiệu quả” và “khá hiệu quả”.
  • Về cấp độ tham gia, người dân tham gia từ cấp độ thấp nhất là “được thông tin” đến cấp độ cao nhất là “trao quyền” được thể hiện ở việc các quyết định liên quan tới bảo vệ rừng hoặc xây dựng các quy chế bảo vệ rừng tại địa phương đều do “Cán bộ và người dân cùng quyết định”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyễn Quý Thanh (chủ biên), Vốn xã hội và phát triển, Nxb Đại học quốc gia, H. 2015.
  2. Nguyễn Trung Kiên, Lê Ngọc Hùng, Quản lý xã hội dựa vào sự tham gia: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, tạp chí Xã hội học, số 1/2012.
  3. Nguyễn Thị Kim Nhung, Lý thuyết về “sự tham gia của cộng đồng” trong hoạch định chính sách và khả năng vận dụng vào quá trình ban hành các quyết định về môi trường ở Việt Nam, Tạp chí Xã hội học, số 2/2014.
  4. Scott Davidson (1998), Spining the wheel of participation, in Planning, Vol.1261.
  5. Đảng bộ huyện Bắc Hà, Đề án Phát triển lâm nghiệp, nâng cao chất lượng rừng giai đoạn 2016 – 2020, Bắc Hà, 2016.
  6. Sở Nông nghiệp và PTNT Lào Cai, Báo cáo Thực trạng bảo vệ rừng và sự tham gia của người dân trong công tác bảo vệ rừng tại tỉnh Lào Cai, 8/2018.
  7. Huyện ủy Bắc Hà, Báo cáo sơ kết giữa nhiệm kỳ kết quả thực hiện đề án phát triển lâm nghiệp, nâng cao chất lượng rừng giai đoạn 2016 – 2020, tháng 4/2018.

 

 

2 Sở Nông nghiệp và PTNT Lào Cai, Báo cáo thực trạng bảo vệ rừng và sự tham gia của người dân trong công tác bảo vệ rừng tại tỉnh Lào Cai, tháng 8/2018.

3 Huyện ủy Bắc Hà, báo cáo sơ kết giữa nhiệm kỳ kết quả thực hiện đề án phát triển lâm nghiệp, nâng  cao chất lượng rừng giai đoạn 2016-2020. Tháng 4/2018.

PGS. TS Đặng Thị Ánh Tuyết* ThS. Nguyễn Thị Thanh Hương* ThS. Nguyễn Ngọc Huy