TIẾP CẬN THÔNG TIN VỀ DỊCH VỤ NƯỚC SẠCH VÀ NHÀ Ở CỦA NGƯỜI DÂN

(Nghiên cứu tại huyện Yên Dũng, Bắc Giang)

Bài viết mô tả thực trạng tiếp cận thông tin về dịch vụ nước sạch và nhà ở của người dân qua đề tài Tiếp cận thông tin về các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân hiện nay qua thu thập thông tin t 800 người dân tại thị trấn Neo và xã Tân Liễu, Huyện Yên Dũng, Tỉnh Bắc Giang năm 2018.

Nội dung, tần suất tiếp cận thông tin về dịch vụ nước sạch và nhà ở

  • Nội dung, tần suất tiếp cận thông tin về dịch vụ nước sạch

100% người trả lời có được tiếp cận thông tin về dịch vụ nước sạch. Nghiên cứu chia thành 5 loại thông tin cơ bản: chất lượng nguồn nước, giá cả nguồn nước, các dịch vụ nước sạch đi kèm, các loại giấy tờ-hợp đồng pháp lý liên quan, chính sách liên quan đến dịch vụ nước sạch.

Thông tin về chất lượng nguồn nước được nhiều người tiếp cận nhất với tỷ lệ là 79,2%, tiếp đến là chính sách liên quan đến dịch vụ nước sạch (70%), giá cả (68,3%), các dịch vụ nước sạch đi kèm (65,8%), giấy tờ hợp đồng giấy tờ pháp lý liên quan được (46,7%). Mặc dù có sự chênh lệch về tỷ lệ người tiếp cận các loại thông tin, nhưng không chênh lệch quá nhiều.

Thông tin về chất lượng nguồn nước có tỷ lệ người tiếp cận nhiều nhất là do Công ty cổ phần cấp thoát nước huyện Yên Dũng đến từng địa bàn các xã và thị trấn trong huyện để khảo sát tình hình nước sinh hoạt ở từng địa phương (lấy mẫu nước ở mỗi thôn/tiểu khu để đo). Sau đó có tuyên truyền, mở lớp hướng dẫn cung cấp thông tin về chất lượng nguồn nước sinh hoạt đang sử dụng. Mặt khác, chất lượng nguồn nước mà người dân sử dụng và chính sách về nước sạch có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân, chủ yếu là ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như quyền lợi của nhân dân.

Công ty chúng tôi đến từng địa bàn trên toàn huyện để đo mẫu nước, sau đó còn mở cả lớp tuyên truyền cho người dân nữa. Bên cạnh việc kêu gọi người dân sử dụng nước sạch, chúng tôi cũng gửi đi nhiều thông điệp để người dân có trách nhiệm hơn trong việc sử dụng nguồn nước sinh hoạt cho hợp vệ sinh”. (Nam, nhân viên Công ty cổ phần cấp thoát nước Yên Dũng)

Thực tế huyện Yên Dũng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu cấp nước sạch cho người dân. Công trình nước sạch mới chỉ đáp ứng được 15% dân số toàn huyện. Trong nghiên cứu này, chỉ có 30% người dân thị trấn Neo và xã Tân Liễu được sử dụng nước máy (toàn bộ đều ở một số tiểu khu thuộc thị trấn Neo). Do vậy, nhiều người chưa được tiếp cận đến thông tin về các loại giấy tờ hợp đồng pháp lý, giá cả hay các dịch vụ nước sạch đi kèm khác.

Về tần suất tiếp cận thông tin về dịch vụ nước sạch, kết quả nghiên cứu cho thấy 20% người trả lời nói họ tiếp cận thông tin về chất lượng nguồn nước 1 vài lần/tuần. Do xuất hiện nhiều trên truyền thông và được địa phương tuyên truyền thường xuyên, mà tần suất tiếp cận thông tin về chất lượng nguồn nước thường xuyên (1 vài lần/tuần) cao nhất. Đây cũng là lý do mà tỷ lệ người trả lời không bao giờ tiếp cận thông tin về chất lượng nguồn nước là thấp nhất (19,2%).

Bảng 1. Tần suất (%) tiếp cận thông tin về dịch vụ nước sạch

Tần suất

Nội dung

1 vài lần/ tuần

1 vài lần/tháng

1 vài lần/năm

Không bao giờ

Chất lượng nguồn nước

20,0

34,2

26,7

19,2

về giá cả

8,3

35,0

24,2

32,5

Về dịch vụ nước sạch đi kèm

5,8

25,8

35

33,3

Về hợp đồng, giấy tờ pháp lý liên quan

1,7

23,2

22,5

52,5

Chính sách về dịch vụ nước sạch

10,8

20,0

40,0

29,2

Thông tin về hợp đồng, giấy tờ pháp lý liên quan có tần suất tiếp cận thấp nhất, tỷ lệ thường xuyên (1 vài lần/tuần) tiếp cận thông tin này thấp nhất (1,7%), trong khi đó tỷ lệ không bao giờ tiếp cận thông tin này so với các thông tin khác là cao nhất (52,5%). Tỷ lệ tiếp cận thông tin này thấp nhất trong 5 loại thông tin là do, ngoài trường hợp những người được sử dụng dịch vụ nước sạch, chỉ một phần nhỏ những người không tiếp cận dịch vụ nước sạch có cơ hội tiếp cận thông tin về hợp đồng, giấy tờ pháp lý liên quan.

“Đến nước sạch chúng tôi còn chưa được sử dụng thì làm sao mà chúng tôi biết được mấy loại giấy tờ này như thế nào, còn chưa được nhìn qua bao giờ cơ mà... cái này chỉ những nơi dùng nước máy người ta mới biết được thôi.” (Nam, người dân  xã Tân Liễu)

Thông tin về giá cả nguồn nước có tỷ lệ người tiếp cận thông tin với tần suất 1 vài lần/tháng là cao nhất (35%), do nhân viên nước sạch đến từng hộ gia đình để thu tiền nước đã sử dụng. Trong khi đó thông tin chính sách về dịch vụ nước sạch theo tháng là thấp nhất với 20%. Nguyên nhân là thông tin chính sách rất ít, 1 năm người dân chỉ được biết đến 1 vài lần (vì vậy mà với tần suất 1 vài lần/ năm thông tin về chính sách có tỷ lệ người trả lời cao nhất (40%).

“Chính sách về nước thì hiếm lắm mới được nghe qua, ở đâu ra mà nhiều chính sách để ngày nào cũng tiếp cận chứ...” (Nam, người dân xã Tân Liễu).

Như vậy, do mục đích tiếp cận của người dân và tính chất của từng loại thông tin khác nhau mà có tần suất tiếp cận khác nhau.

  • Nội dung và tần suất tiếp cận thông tin về dịch vụ nhà ở

Qua phân tích số liệu, có 90,2% người trả lời có tiếp cận thông tin về dịch vụ nhà ở. Dịch vụ nhà ở được chia thành 2 loại là dịch vụ nhà ở công và dịch vụ nhà ở tư nhân. Dịch vụ nhà ở xã hội (dịch vụ nhà ở công) là các hoạt động hỗ trợ nhà ở cho các đối tượng đã được quy định trong các văn bản pháp quy của nhà nước. Trong khi đó dịch vụ nhà ở tư nhân, được nhiều người tiếp cận hơn.

Nhìn chung tỷ lệ tiếp cận thông tin về dịch vụ nhà ở của người dân trên địa bàn huyện Yên Dũng khá cao (từ 44,2-71,7%). Trong đó,  thông tin về chính sách nhà ở dành cho đối tượng được hưởng trợ cấp/đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được nhiều người tiếp cận nhất (75%), sau đó là: thông tin về dịch vụ nhà ở khác (71,7%), thông tin về dự án xây dựng/quy hoạch (62,5%), thông tin về thủ tục hành chính cấp giấy tờ nhà đất (59,2%), thông tin về thị trường nhà đất (56,7%), thông tin được ít người biết đến là giá cả đất đai (44,2%).

Thông tin về chính sách nhà ở dành cho đối tượng được hưởng trợ cấp/đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được nhiều người tiếp cận vì đây là chính sách được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Cán bộ địa phương thực hiện rất tích cực chính sách hỗ trợ xây dựng nhà ở cho các hộ nghèo trên địa bàn.

“Gia đình thuộc hộ nghèo/cận nghèo rất ít. Tuy nhiên những hộ gia đình thuộc diện này có nhu cầu xây dựng nhà ở đều được cán bộ tạo điều kiện quan tâm giúp đỡ, tuy nhiên thời gian nhận được tiền hỗ trợ từ khi làm thủ tục đến khi lấy mất nhiều thời gian một chút” (Nam, người dân xã Tân Liễu).

 Bên cạnh đó thông tin về các dịch vụ nhà ở tư nhân (các thông tin về xây dựng, sửa chữa, lắp đặt…) chiếm tỷ lệ tiếp cận thông tin cao là bởi đây là hoạt động phục vụ cho lợi ích của mỗi cá nhân, giúp cải tạo, phục hồi và hoàn thiện môi trường sống của hộ gia đình. Thông tin về giá cả đất đai được ít người tiếp cận nhất là do nghiên cứu được thực hiện ở khu vực nông thôn. Hầu hết nhà cửa mà các hộ gia đình xây dựng chủ yếu trên vùng đất mà thế hệ trước để lại, nên việc quan tâm đến vấn đề mua mảnh đất mới không nhiều.

Về tần suất tiếp cận các thông tin về dịch vụ nhà, tần suất thường xuyên (1 vài lần/tuần) tiếp cận các loại thông tin nước sạch (1,7-20%) đa dạng hơn nhiều so với các loại thông tin nhà ở (6,7-8,3%). Tỷ lệ người dân tiếp cận thông tin về nhà ở 1 vài lần/tuần rất thấp (6,7-8,3%). Trong khi tỷ lệ người trả lời không bao giờ tiếp cận thông tin lại cao (thông tin giá cả, thông tin thị trường nhà đất, thông tin thủ tục hành chính, thông tin về các dự án xây dựng- quy hoạch (đều lớn hơn 35%). Chỉ có thông tin về dịch vụ nhà ở tư nhân (26,7%), thông tin về chính sách nhà ở (25%) có tỷ lệ trả lời không bao giờ tiếp cận thấp hơn.

Bảng 2. Tần suất tiếp cận thông tin về dịch vụ nhà ở

Thông tin về dịch vụ nhà ở

Tần suất tiếp cận (%)

1 vài lần/ tuần

1 vài lần/tháng

1 vài lần/năm

Không bao giờ

Giá cả

8,3

13,3

25

53,3

Thị trường nhà đất

6,7

24,2

24,2

45

Chính sách nhà ở

7,5

29,2

38,3

25

Thủ tục hành chính

7,5

20,8

31,7

40

Các dự án xây dựng- quy hoạch

7,5

23,3

33,3

35,8

Các dịch vụ nhà ở tư nhân

7,5

31,7

34,2

26,7

 

Với tần suất 1 vài lần/tháng thông tin về các dịch vụ nhà ở tư nhân (31,7%) chiếm tỷ lệ cao nhất. Do nhu cầu về các dịch vụ nhà ở tư nhân nhiều, tỷ lệ được tiếp cận nhiều các thông tin về loại dịch vụ này cũng cao. Trong khi đó thông tin về chính sách nhà ở được nhiều người lựa chọn tiếp cận với tần suất 1 vài lần/1 năm nhiều nhất. Cũng giống như thông tin về chính sách nước sạch (tỷ lệ người tiếp 1 vài lần/năm cao nhất) hay các thông tin về nhóm chính sách khác, các chính sách đưa ra có giới hạn, hơn nữa người dân chủ yếu tiếp cận qua cán bộ địa phương. Thông qua các cuộc họp định kỳ theo quý, người dân mới có cơ hội được tiếp cận thông tin về chính sách tại địa phương.

Như vậy, mức độ tiếp cận thông tin về dịch vụ nước sạch của người dân thường xuyên hơn so với mức độ tiếp cận thông tin về dịch vụ nhà ở. Cụ thể là mức độ tiếp cận thường xuyên (1 vài lần/ tuần) nhất ở thông tin nước sạch từ 5,8-20%, trong khi thông tin nhà ở chỉ từ 6,7-8,3%.

Kênh tiếp cận thông tin về nước sạch và nhà ở

Người dân có thể tiếp nhận thông tin dịch vụ nước sạch nhà ở qua hai kênh chính là: kênh thông tin trực tiếp, và kênh thông tin gián tiếp. Kênh trực tiếp, là người đón nhận thông tin và người cung cấp thông tin “mặt đối mặt”, bên cạnh việc chỉ lắng nghe thông tin người tiếp nhận còn có thể đưa ra câu hỏi-quan điểm, ý kiến và phản hổi đối với người truyền phát thông tin.

Bảng 3. Tỷ lệ người dân tiếp cận thông tin qua kênh trực tiếp

Kênh trực tiếp

Tỷ lệ (%)

Gia đình/người thân

65,0

Bạn bè/hàng xóm

58,3

Đồng nghiệp

25,9

Cán bộ địa phương

56,7

Nhân viên công ty dịch vụ

52,5

 

Gia đình/người thân là kênh thông tin trao đổi trực tiếp được nhiều người tiếp nhận nhất chiếm 65%. Đây là điều dễ hiểu, vì quy mô sử dụng các dịch vụ này (lắp đặt, sửa chữa nhà ở, đấu nối nguồn cấp nước…) là các sinh hoạt thường xuyên của hộ gia đình. Các cá nhân được tiếp cận thông tin từ thành viên khác để sử dụng dịch vụ một cách hợp lý nhất, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu sống của tất cả thành viên trong gia đình.

Tỷ lệ người tiếp cận thông tin qua bạn bè/hàng xóm (58,3%), qua cán bộ địa phương (56,7%) và qua nhân viên công ty dịch vụ (52,5%) chênh lệch không đáng kể (từ 52,5%-58,5%). Dịch vụ nhà ở và dịch vụ nước sạch là 2/5 dịch vụ xã hội cơ bản, đáp ứng nhu cầu sống hàng ngày của con người. Thông tin về chúng luôn được cập nhật, các vấn đề liên quan đến hai loại dịch vụ này thường xuyên được đưa ra trao đổi bàn luận tại nhà văn hóa và các địa điểm công cộng. Tại nhà văn hóa, người dân sẽ được tiếp cận thông tin từ nhân viên công ty dịch vụ nước sạch, nhà ở và cán bộ địa phương, tại các địa điểm công cộng hoặc nhà người quen như bạn bè, hàng xóm.

Thông tin về các vấn đề diễn ra trong phạm vi gia đình (nước sạch và nhà ở) rất ít khi được tiếp cận tại nơi làm việc. Vì thế, tỷ lệ tiếp cận thông tin về dịch vụ từ đồng nghiệp thấp nhất (25,9%). Mặt khác, tỷ lệ người dân là công nhân/nhân viên không nhiều cho nên không có đồng nghiệp, thành phần chủ yếu trong địa bàn khảo sát là nông dân. Bên cạnh việc tiếp cận thông tin về dịch vụ nước sạch và nhà ở qua kênh thông tin trực tiếp, người dân cũng có thể tiếp cận thông tin qua kênh gián tiếp. Nhất là thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng.

Bảng 4. Tỷ lệ tiếp cận thông tin qua kênh gián tiếp

Kênh thông tin gián tiếp

Tỷ lệ

Truyền hình (tivi)

65,0

Phát thanh

37,5

Báo in

13,5

Mạng Internet

50,0

Mạng xã hội

45,0

Áp phích, băng rôn, tờ rơi

46,7

Gọi điện thoại tư vấn

47,5

Loa phát thanh địa phương

46,7

Tỷ  lệ tiếp cận thông tin về dịch vụ nước sạch và nhà ở qua kênh gián tiếp thông qua truyền hình cao nhất chiếm 65%, bởi: (1) tivi là phương tiện truyền thông đại chúng có tỷ lệ người sử dụng cao nhất (98,2%); (2) các thông tin xuất hiện trên truyền hình là những thông tin mới mang tính thời sự, có độ chính xác cao; (3) thông tin vừa có hình ảnh, âm thanh phù hợp với mọi lứa tuổi.

“Rất nhiều gia đình trong đó có gia đình tôi buổi tối nếu không đi chơi thường ở nhà xem tivi. Gia đình tôi thường xem chương trình thời sự trên kênh VTV1 lúc 7 giờ tối, hôm nào gia đình tôi cũng vừa ăn cơm vừa xem. Sau đó 8 giờ lại bật kênh của đài truyền hình tỉnh lên xem.”(Nam, người dân thị trấn Neo)

Hiện tại, tỷ lệ người sử dụng Internet và mạng xã hội cũng ngày một tăng lên. Tỷ lệ tiếp cận thông tin về nước sạch và nhà ở trên hai phương tiện này cũng tương đối cao: Internet (60%), mạng xã hội (45%). Cách thức thể hiện nội dung phong phú, tích hợp nhiều ưu điểm của các phương tiện thông tin khác, giúp người dùng chủ động tìm kiếm thông tin ở bất cứ đâu, bất cứ thời điểm nào. Thông tin trên Internet đa dạng, bao gồm cả những thông tin chính thống và không chính thống. Với dịch vụ nước sạch và nhà ở, người dùng có thể tiếp cận thông tin về chính sách, có thể tiếp cận được các dịch vụ tư nhân, cũng có thể chủ động nhờ tư vấn của chuyên gia... Có thể thấy, vai trò ngày càng quan trọng của Internet và mạng xã hội trong việc tiếp cận thông tin về dịch vụ nước sạch, nhà ở của người dân.

Nội dung mà người tiếp cận qua loa phát thanh địa phương về dịch vụ nước sạch và nhà ở chủ yếu là thông báo các cuộc họp (lớp tuyên truyền), cũng có thể là các chương trình, chiến dịch, chính sách của nhà nước và địa phương về hai dịch vụ này. Thông tin mà người tiếp cận qua kênh này không được truyền tải đầy đủ, chi tiết. Áp phích và băng rôn cũng tương tự, chủ yếu là những khẩu hiệu câu ngắn. Tờ rơi mà người dân tiếp cận phần lớn có nội dung quảng cáo, giới thiệu dịch vụ nước sạch và nhà ở của công ty tư nhân (được dán trên tường). 

Mặc dù thông tin từ báo in có độ chính xác cao, nội dung được phân tích chi tiết nhưng ít người đọc, vì vậy tỷ lệ người tiếp cận thông tin từ báo in thấp nhất với 13,3%. Tiếp cận thông tin từ báo in không thường xuyên, phải chờ đợi, không chủ động được thời gian. Thêm nữa thông tin không sinh động, chỉ được trình bày bằng chữ và hình ảnh. Nhiều ấn phẩm sử dụng các thuật ngữ chuyên môn, không phù hợp với số đông người dân có trình độ học vấn của nhân dân còn thấp (chủ yếu là tiểu học, THPT).

Tóm lại với kênh trực tiếp, kênh gia đình vừa là kênh được nhiều người tiếp cận thông tin dịch vụ nước sạch, nhà ở nhất, vừa là kênh thông tin được nhiều người lựa chọn ưu tiên tiếp cận nhất. Đối với kênh thông tin gián tiếp, truyền hình là kênh được nhiều người tiếp cận nhất để tiếp cận thông tin, đồng thời cũng là kênh được nhiều người lựa chọn là kênh ưu tiên tiếp cận nhất.

Mục đích tiếp cận thông tin

Mỗi người tiếp cận thông tin về dịch vụ nước sạch và nhà ở đều có mục đích khác nhau. Trong 7 mục đích được đưa ra, mục đích ứng dụng thông tin để cải tạo nước sạch và không gian nhà ở được nhiều người lựa chọn nhất với 59,2%, tiếp đến là để nâng cao hiểu biết và tiếp cận với dịch vụ tư nhân (48,5%), tiếp cận với dịch vụ của nhà nước và địa phương (46,7%), giải đáp thắc mắc (35,8%), giải trí (15%), và giúp đỡ người khác (13,3%).

Mục đích cải tạo nước sạch và không gian nhà ở chiếm tỷ lệ người lựa chọn cao nhất. Mục đích này xuất phát từ nhu cầu của con người, mong muốn một cuộc sống tiến bộ hơn. Để tiến bộ, có được chất lượng cuộc sống tốt hơn con người cần phải cải tạo, cần phải thay đổi. Trước thông tin về chất lượng nước, đấu nối nguồn nước nhiều hộ gia đình đã bỏ việc sử dụng nước giếng khoan, nước mưa để sử dụng nước máy với nguồn nước sạch hơn. Tiếp cận thông tin về dịch vụ nhà ở, các hộ gia đình sẽ xây dựng, lắp đặt, sửa chữa nhà ở đẹp hơn, tiện nghi hơn... Đó chính là cải tạo không gian sống và nước sạch mà người nghiên cứu muốn nhấn mạnh đến.

“Khi được tập huấn ở nhà văn hóa tiểu khu, tôi ý thức bảo vệ sức khỏe bản thân và gia đình hơn. Tôi thường xuyên vệ sinh bể nước hơn. Trước đây tôi hay dùng nước giếng đun sôi, những bây giờ tôi không dùng nước giếng nữa, gia đình tôi bây giờ chủ yếu là uống nước bình mua ở cửa hàng tạp hóa. Sắp tới dự định mua máy lọc nước cho an toàn hơn.” (Nam, người dân thị trấn Neo)

Mục đích tiếp cận thông tin về dịch vụ của người dân, xuất phát từ chính nhu cầu của họ. 46,7% muốn tiếp cận dịch vụ của nhà nước và địa phương; 48,5% là  để nâng cao hiểu biết và tiếp cận với dịch vụ tư nhân. Dịch vụ của nhà nước và địa phương mà người dân có thể tiếp cận được là: thủ tục nhà đất, chính sách hỗ trợ nhà ở... Dịch vụ nước sạch nhà ở người dân có thể tiếp cận được từ các doanh nghiệp tư nhân là: cho thuê nhà, dọn nhà, mua, bán nhà, xây dựng, lắp đặt sửa chữa...

“Tra trên mạng hoặc hỏi người quen thì mới biết được nơi nào làm nhà sửa nhà tốt chứ. Mà cả đời người ai chả xây nhà sửa nhà vài lần... Bình thường mình có nhu cầu thì mình mới tìm hiểu thôi, chứ cũng chẳng rảnh để tìm cái mình không cần làm gì cả.” (PVS, nữ, thị trấn Neo)

Tiếp cận thông tin để giải trí thấp (15%); chủ yếu là nhóm đối tượng không có nhu cầu sử dụng dịch vụ nước sạch và nhà ở nữa. Các thông tin chủ yếu là vô tình tiếp cận chứ không hề có chủ đích, trước khi được tiếp cận không biết mình sẽ được tiếp cận với những thông tin gì.

“Các cụ ở nhà không có việc gì làm, ở nhà xem tivi nghe đài cho đỡ buồn, mấy loại thông tin này các cụ xem để biết xem để giải trí thôi chứ chẳng để làm gì cả.” (PVS, nam, thị trấn Neo)

Tỷ lệ tiếp cận thông tin về nước sạch và nhà ở với mục đích giúp đỡ người khác thấp nhất 13,3%. Điều kiện sống của mỗi gia đình là khác nhau, việc tiếp cận thông tin để phục vụ quyền lợi của hộ gia đình. Vì vậy giúp đỡ người khác ở đây được hiểu là chia sẻ thông tin để người khác tiếp cận được, giúp họ có thể chủ động tiếp cận được với dịch vụ phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh gia đình.

Kết luận và khuyến nghị

Dịch vụ nước sạch và nhà ở có vai trò lớn trong cuộc sống của người dân. Sử dụng dịch vụ nước sạch sẽ giúp con người tránh được các căn bệnh do nguồn nước không hợp vệ sinh gây ra. Sử dụng dịch vụ nhà ở sẽ giúp người dân có môi trường sống tốt, đảm bảo chất lượng. Việc tiếp cận thông tin về hai loại dịch vụ trên nâng cao nhận thức cho người dân, tác động đến hành động đảm bảo đời sống sinh hoạt được tốt hơn.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người dân được tiếp cận với thông tin về dịch vụ nước sạch và nhà ở nhiều. Tuy nhiên người dân vẫn chưa tiếp cận toàn diện thông tin về dịch vụ nước sạch và nhà ở, mà hầu như chỉ tiếp cận ở một vài mảng thông tin nhất định. Chủ yếu người dân tiếp cận thông tin qua kênh gián tiếp như truyền hình và mạng Internet, còn với kênh thông tin trực tiếp thì chủ yếu người dân tiếp cận qua kênh người thân, bạn bè với mục đích ứng dụng để cải tạo thực tiễn.

Khuyến nghị đối với người dân

Đảm bảo tính tin cậy và chính xác trong quá trình truyền tải thông tin, nhất là qua Internet và mạng xã hội.

Người dân cần chủ động tiếp cận thông tin về dịch vụ nước sạch và nhà ở để được tiếp cận với dịch vụ nước sạch và nhà ở tối ưu nhất.

Đối với chính quyền địa phương và doanh nghiệp

Các doanh nghiệp và địa phương cần nỗ lực hơn nữa để người dân có thể tiếp cận được dịch vụ, đảm bảo chất lượng cuộc sống. Địa phương và các doanh nghiệp trong quá trình truyền thông cần nhiệt tình, sử dụng từ ngữ đơn giản dễ hiểu nhưng đủ ý để người dân dễ nắm bắt được thông tin. Các thông tin tuyên truyền phải đúng theo đường lối, chính sách, pháp luật của nhà nước.

Đối với các nhà làm truyền thông

Tăng cường các thông tin về dịch vụ nước sạch và nhà ở đến với người dân. Đảm bảo các thông tin đều hữu ích, cập nhật, đa dạng, tin cậy, dễ kiểm chứng. Tăng cường truyền thông trên mạng xã hội và Internet để người dân có thể chủ động tìm kiếm các thông tin về dịch vụ nước sạch và nhà ở một cách thuận tiện. Sàng lọc kỹ lưỡng, để người dân có điều kiện tiếp cận với các thông tin đáp ứng được nhu cầu.

Đối với nhà làm chính sách

Ban hành các văn bản đi kèm về tiếp cận thông tin với chính sách để đưa chính sách đến với người dân.

Tài liệu tham khảo

  1. . Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP), Báo cáo (2015): “Chất lượng nước thế giới”.
  2. . Hoàng Thị Huệ, Lê Thị Hoa (2017), ““Đánh giá nhu cầu sử dụng nước sạch và mức sẵn lòng chi trả của người dân cho dịch vụ cung cấp nước sạch tại thị xã Quảng yên, tỉnh Quảng Ninh”, Tạp chí Môi Trường Số chuyên đề II năm 2017.

3. Đào Minh Hương (2012), “Tiếp cận nước sạch và vệ sinh môi trường quyền cơ bản của con người”, Tạp chí Nghiên cứu con người số 1, năm 2012.

4. Nguyễn Trung Thành (2015), “Thực trạng quyền tiếp cận thông tin trong lĩnh vực đất đai ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nội vụ, số 29.

 

PHẠM VÕ QUỲNH HẠNH