TÌNH HÌNH KINH TẾ- XÃ HỘI NĂM 2018

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước GDP cả năm 2018 tăng 7,08%, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2008 trở về đây, khẳng định tính kịp thời và hiệu quả của các giải pháp được Chính phủ ban hành, chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương cùng nỗ lực thực hiện. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,76%, đóng góp 8,7% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,85%, đóng góp 48,6%; khu vực dịch vụ tăng 7,03%, đóng góp 42,7%.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt mức tăng trưởng cao nhất trong giai đoạn 2012-2018, khẳng định xu thế chuyển đổi cơ cấu ngành đã phát huy hiệu quả, mặt khác giá bán sản phẩm ổn định cùng với thị trường xuất khẩu được mở rộng là động lực chính thúc đẩy sản xuất của khu vực này. Trong đó, ngành nông nghiệp tiếp tục khẳng định xu hướng phục hồi rõ nét khi đạt mức tăng 2,89%, là mức tăng cao nhất của giai đoạn 2012-2018, đóng góp 0,36 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành thủy sản đạt kết quả khá tốt với mức tăng 6,46%, đóng góp 0,22 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 6,01% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,05 điểm phần trăm.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp năm 2018 duy trì mức tăng trưởng khá với 8,79%, đóng góp 2,85 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục khẳng định là điểm sáng của khu vực này và là động lực chính của tăng trưởng với mức tăng 12,98%, tuy thấp hơn mức tăng của cùng kỳ năm 2017 nhưng cao hơn nhiều so với mức tăng các năm 2012-2016, đóng góp 2,55 điểm phần trăm. Ngành công nghiệp khai khoáng vẫn tăng trưởng âm (giảm 3,11%), làm giảm 0,23 điểm phần trăm mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế nhưng mức giảm đã được thu hẹp đáng kể so với mức giảm 7,1% của năm trước. Ngành xây dựng năm 2018 duy trì được mức tăng trưởng khá với tốc độ 9,16%, đóng góp 0,65 điểm phần trăm.

Khu vực dịch vụ năm 2018 tăng 7,03%, tuy thấp hơn mức tăng 7,44% của năm 2017 nhưng cao hơn so với các năm 2012-2016. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 8,51% so với cùng kỳ năm trước, là ngành có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong khu vực dịch vụ, cũng là ngành có đóng góp lớn nhất vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế (0,92 điểm phần trăm); hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 8,21%, đóng góp 0,53 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 6,78%, đóng góp 0,29 điểm phần trăm; ngành vận tải, kho bãi tăng 7,85%, đóng góp 0,26 điểm phần trăm; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 4,33%, đóng góp 0,24 điểm phần trăm.

Quy mô nền kinh tế năm 2018 theo giá hiện hành đạt 5.535,3 nghìn tỷ đồng; GDP bình quân đầu người ước tính đạt 58,5 triệu đồng, tương đương 2.587 USD, tăng 198 USD so với năm 2017. Về cơ cấu nền kinh tế năm 2018, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 14,57% GDP; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,28%; khu vực dịch vụ chiếm 41,17%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,98% (Cơ cấu tương ứng của năm 2017 là: 15,34%; 33,40%; 41,26%; 10,0%).

Trên góc độ sử dụng GDP năm 2018, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,17% so với năm 2017; tích lũy tài sản tăng 8,22%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 14,27%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 12,81%.

Dân số, lao động và việc làm

Dân số trung bình năm 2018 của cả nước ước tính 94,67 triệu người, tăng 988,4 nghìn người, tương đương tăng 1,06% so với năm 2017, trong đó dân số thành thị 33,83 triệu người, chiếm 35,7%; dân số nông thôn 60,84 triệu người, chiếm 64,3%; dân số nam 46,79 triệu người, chiếm 49,4%; dân số nữ 47,88 triệu người, chiếm 50,6%.

Tổng tỷ suất sinh năm 2018 ước tính đạt 2,05 con/phụ nữ và ở dưới mức sinh thay thế. Tỷ số giới tính của trẻ em mới sinh là 115,1 bé trai/100 bé gái; tỷ suất sinh thô là 14,58‰; tỷ suất chết thô là 6,82‰. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi (số trẻ em dưới 1 tuổi tử vong/1.000 trẻ sinh ra sống) là 14,24‰. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi là 21,38‰. Tuổi thọ trung bình của dân số cả nước năm 2018 là 73,5 năm, trong đó nam là 70,9 năm và nữ là 76,2 năm.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước quý IV năm 2018 ước tính là 55,7 triệu người, tăng 286,6 nghìn người so với quý trước và tăng 530,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: lao động nam 29,2 triệu người (52,3%); lao động nữ 26,5 triệu người (47,7%). Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 17,9 triệu người (32%); khu vực nông thôn là 37,8 triệu người (68%). Tính chung cả năm 2018, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 55,4 triệu người, tăng 566,2 nghìn người so với năm 2017.

Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động quý IV năm 2018 ước tính là 49 triệu người, tăng 289,8 nghìn người so với quý trước và tăng 522,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước, trong đó lao động nam 26,8 triệu người (54,8%); lao động nữ 22,2 triệu người (45,2%); lao động khu vực thành thị là 16,5 triệu người (33,6%); khu vực nông thôn là 32,5 triệu người (66,4%). Tính chung cả năm 2018, lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 48,7 triệu người, tăng 549,8 nghìn người so với năm trước.

Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc quý IV năm 2018 ước tính 54,6 triệu người, bao gồm 20,6 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, (37,7%); khu vực công nghiệp và xây dựng 14,6 triệu người (26,7%); khu vực dịch vụ 19,4 triệu người (35,6%). Tính chung cả năm 2018, lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc là 54,3 triệu người, bao gồm 20,7 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản (38,1%), giảm 2,1 điểm phần trăm so với năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng 14,4 triệu người (26,6%), tăng 0,8 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ 19,2 triệu người (35,3%), tăng 1,3 điểm phần trăm.

Quý IV/2018, tỷ lệ thất nghiệp chung cả nước ước tính là 1,99%; tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi là 2,18%; tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (15-24 tuổi) là 6,78%. Tính chung cả năm 2018, tỷ lệ thất nghiệp chung cả nước là 2,0%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 2,95%; khu vực nông thôn là 1,55%. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2018 là 2,19%, trong đó khu vực thành thị là 3,10%; khu vực nông thôn là 1,74%. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên năm 2018 ước tính là 7,06%, trong đó khu vực thành thị là 10,56%; khu vực nông thôn là 5,73%.

Năm 2018, tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi là 1,46%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 0,69%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 1,85% (tỷ lệ thiếu việc làm của năm 2017 tương ứng là 1,66%; 0,84%; 2,07%). Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản ước tính là 56,3%, trong đó khu vực thành thị là 48%; khu vực nông thôn là 63% (năm 2017 tương ứng là 57,2%; 48,8%; 64,5%).

Năng suất lao động

Năng suất lao động (NSLĐ) toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2018 ước tính đạt 102 triệu đồng/lao động (tương đương 4.512 USD/lao động), tăng 8,8 triệu đồng/lao động so với năm 2017 (tương đương 346 USD). Tính theo giá so sánh năm 2010, NSLĐ toàn nền kinh tế năm 2018 tăng 5,93% so với năm trước, bình quân giai đoạn 2016-2018 tăng 5,75%/năm.

Năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua tăng đều qua các năm, có tốc độ tăng NSLĐ cao trong khu vực ASEAN. Tính chung giai đoạn 2008-2017, NSLĐ theo sức mua tương đương năm 2011 (PPP 2011) của Việt Nam tăng trung bình 4%/năm, cao hơn so với mức tăng bình quân của Xin-ga-po (0,9%/năm); Ma-lai-xi-a (1,1%/năm); Thái Lan (2,6%/năm); Phi-li-pin (3,3%/năm); In-đô-nê-xi-a (3,4%/năm). Tuy nhiên, NSLĐ của Việt Nam hiện nay vẫn rất thấp so với các nước trong khu vực: Tính theo PPP 2011, NSLĐ của Việt Nam năm 2017 đạt 10.232 USD, chỉ bằng 7,2% mức năng suất lao động của Xin-ga-po; 18,4% của Ma-lai-xi-a; 36,2% của Thái Lan; 43% của In-đô-nê-xi-a và bằng 55% của Phi-li-pin. Đáng chú ý là chênh lệch về mức NSLĐ giữa Việt Nam với các nước vẫn tiếp tục gia tăng, điều này cho thấy khoảng cách và thách thức nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt để có thể bắt kịp mức NSLĐ của các nước.

 Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Năm 2018, thu nhập bình quân một người một tháng ước tính đạt 3,76 triệu đồng (tăng 660 nghìn đồng so với năm 2016), bình quân giai đoạn 2016-2018 tăng 10,2%/năm. Tỷ lệ hộ nghèo theo tiếp cận đa chiều năm 2018 ước tính 6,8%, giảm 1,1 điểm phần trăm so với năm 2017.

Thiếu đói trong nông dân năm 2018 giảm mạnh so với năm trước, cả nước có 105 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 42,1%, tương ứng với 420 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 43,7%. Thiếu đói năm nay giảm mạnh là kết quả của chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển các ngành nghề để tạo thêm việc làm, đồng thời diễn biến thời tiết khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và công tác phòng chống giảm thiểu tác động của thiên tai đã được triển khai đồng bộ ngay từ đầu năm. Thiếu đói tập trung chủ yếu vào các tháng đầu năm. Thiếu đói trong nông dân có xu hướng giảm dần. Để khắc phục, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 7,4 nghìn tấn lương thực và hơn 1,6 tỷ đồng.

Tổng kinh phí dành cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo trong năm 2018 là 4.977 tỷ đồng, bao gồm 2.792 tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ các đối tượng chính sách; 1.487 tỷ đồng hỗ trợ các hộ nghèo và 698 tỷ đồng cứu đói, cứu trợ xã hội khác. Bên cạnh đó, đã có gần 23,6 triệu thẻ bảo hiểm y tế, sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát tặng cho các đối tượng chính sách trên địa bàn cả nước.

Giáo dục, đào tạo

Năm học 2018-2019, cả nước có 5,3 triệu trẻ em bậc mầm non (0,7 triệu trẻ em đi nhà trẻ và 4,6 triệu trẻ em đi học mẫu giáo); 16,6 triệu học sinh phổ thông đến trường (8,4 triệu học sinh tiểu học; 5,6 triệu học sinh trung học cơ sở; 2,6 triệu học sinh trung học phổ thông) và 1,5 triệu sinh viên đại học, cao đẳng, trung cấp.

Giáo dục nghề nghiệp đóng vai trò quan trọng trong đào tạo nhân lực trực tiếp trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng đa dạng về loại hình đào tạo và mô hình hoạt động. Hiện cả nước có 1.954 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, bao gồm 394 trường cao đẳng, 515 trường trung cấp và 1.045 trung tâm giáo dục thường xuyên. Đào tạo nghề năm 2018 đã tuyển mới được 2.210 nghìn người, trong đó trình độ cao đẳng, trung cấp tuyển sinh được 545 nghìn người; trình độ sơ cấp và chương trình đào tạo nghề khác tuyển sinh được 1.665 nghìn người, trong đó hỗ trợ đào tạo nghề cho 800 nghìn lao động nông thôn học nghề. Năm 2018, số học sinh tốt nghiệp các lớp đào tạo nghề là 2.100 nghìn người, trong đó trình độ cao đẳng và trung cấp là 440 nghìn người, trình độ sơ cấp và các chương trình đào tạo khác là 1.660 nghìn người.

Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Năm 2018, cả nước có 125,2 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (16 trường hợp tử vong); 127,4 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 628 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 760 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (21 trường hợp tử vong); 33 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (2 trường hợp tử vong); 673 trường hợp mắc bệnh ho gà (2 trường hợp tử vong); 77 trường hợp mắc bệnh liên cầu lợn ở người (6 trường hợp tử vong); 2 trường hợp nhiễm vi rút Zika; 72 trường hợp tử vong do bệnh dại.

Đến thời điểm 18/12/2018, tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống là 208,8 nghìn người và số trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS là 94,9 nghìn người; số người tử vong do HIV/AIDS là 98,16 nghìn người.

Về ngộ độc thực phẩm, năm 2018, cả nước xảy ra 84 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 3.174 người bị ngộ độc, trong đó 11 người tử vong.

Hoạt động văn hóa và thể dục thể thao

Hoạt động văn hóa năm 2018 tập trung chào mừng các ngày Lễ lớn, các sự kiện trọng đại của đất nước và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Các sự kiện được tổ chức trang trọng, an toàn, tiết kiệm và hiệu quả; thu hút sự quan tâm và tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân. Công tác quản lý lễ hội được chú trọng nhằm phát huy tính tích cực của lễ hội dân gian và phù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc; công tác an ninh trật tự, an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ, vệ sinh môi trường và hoạt động kinh doanh hàng hóa trong lễ hội được đảm bảo; ý thức thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội của nhân dân và du khách khi tham gia lễ hội được nâng lên, những hiện tượng tiêu cực và các tập tục mang yếu tố bạo lực, phản cảm trong lễ hội đã giảm so với năm trước.

Năm 2018, thể thao thành tích cao của Việt Nam đã đạt nhiều kết quả nổi bật. Đoàn thể thao Việt Nam đã giành được 922  huy chương trong các giải đấu quốc tế, trong đó 391 huy chương vàng, 296 huy chương bạc, 235 huy chương đồng.

Tai nạn giao thông

Năm 2018, cả nước đã xảy ra 18.232 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 9.446 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 8.786 vụ va chạm giao thông, làm 8.125 người chết; 5.124 người bị thương và 9.070 người bị thương nhẹ. So với năm 2017, năm 2018 tai nạn giao thông giảm trên cả ba tiêu chí, số vụ tai nạn giảm 9,2% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 3,4%; số vụ va chạm giao thông giảm 14,8%); số người chết giảm 1,9%; số người bị thương giảm 8,3% và số người bị thương nhẹ giảm 20,8%. Bình quân 1 ngày trong năm 2018, xảy ra 50 vụ tai nạn giao thông (giảm 5 vụ so với năm 2017), gồm 26 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 24 vụ va chạm giao thông, làm 22 người chết, 14 người bị thương và 25 người bị thương nhẹ.

Thiệt hại do thiên tai 

Thiên tai xảy ra trong năm chủ yếu là mưa lớn, lũ quét, ngập lụt và sạt lở đất. Thiệt hại do thiên tai năm 2018 giảm nhiều so với năm 2017: có 218 người chết, mất tích và 157 người bị thương; hơn 260 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng, giảm 28,5%; 1.967 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi, giảm 76,3% và 119 nghìn nhà sạt lở, tốc mái, ngập nước, giảm 79,7%. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai năm 2018 ước tính 15,7 nghìn tỷ đồng, giảm 73,8% so với năm 2017.

Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Năm 2018 có 13.929 vụ vi phạm môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 12.759 vụ với tổng số tiền phạt hơn 200 tỷ đồng; và 4.075 vụ cháy, nổ, làm 112 người chết và 263 người bị thươngthiệt hại ước tính khoảng 1,7 nghìn tỷ đồng.

Một số chỉ tiêu dân số và lao động, 2015-2018

 

2015

2016

2017

2018

(ước tính)

Dân số trung bình (nghìn người)

91.709,8

92.692,2

93.677,6

94.666,0

  Nam

45.224,0

45.753,4

46.266,3

46.785,2

  Nữ

46.485,8

46.938,8

47.411,3

47.880,8

  Thành thị

31.067,5

31.926,3

32.823,1

33.830,0

  Nông thôn

60.642,3

60.765,9

60.854,5

60.836,0

Tỷ lệ tăng dân số (%)

1,08

1,07

1,06

1,06

Tỷ số giới tính của dân số (số nam/100 nữ)

97,3

97,5

97,6

97,7

Tỷ lệ dân số thành thị (%)

33,9

34,4

35,0

35,7

Tổng tỷ suất sinh (số con/phụ nữ)

2,10

2,09

2,04

2,05

Tỷ suất sinh thô ()

16,20

15,96

14,90

14,58

Tỷ suất chết thô (‰)

6,81

6,83

6,84

6,82

Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi (‰)

14,7

14,5

14,4

14,2

Tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi (‰)

22,1

21,8

21,6

21,4

Tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh (năm)

73,3

73,4

73,5

73,5

Tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ ba trở lên (%)

15,8

16,3

17,3

20,9

Tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi có chồng đang sử dụng biện pháp tránh thai (%)

75,7

77,6

76,4

76,7

 Biện pháp tránh thai hiện đại

65,0

66,5

65,6

66,5

   Biện pháp khác

10,7

11,1

10,8

10,1

Lực lượng lao động 15+ (nghìn người)

53.984,2

54.445,3

54.823,8

55.390,0

   Nam

27.843,6

28.072,8

28.445,1

28.981,9

    Nữ

26.140,6

26.372,5

26.378,7

26.408,1

Lao động từ 15+ đang làm việc (nghìn người)

52.840,0

53.302,8

53.703,4

54.283,1

Nông, lâm nghiệp, thủy sản

23.259,1

22.315,2

21.564,8

20.681,9

Công nghiệp và xây dựng

12.018,0

13.198,9

13.828,7

14.439,3

Dịch vụ

17.562,9

17,788,7

18.264,4

19.161,9

Kinh tế-xã hội Việt Nam năm 2018 tiếp tục khởi sắc với tăng trưởng GDP đạt mức cao nhất trong 11 năm qua. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; chất lượng tăng trưởng được cải thiện. Sản xuất nông nghiệp đạt kết quả khá; công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ thị trường tiếp tục tăng cao, giữ vững vai trò là động lực tăng trưởng. Thực hiện vốn đầu tư phát triển hiệu quả hơn với nhiều năng lực sản xuất mới được bổ sung cho nền kinh tế. Môi trường kinh doanh đang ngày càng cải thiện. Tiêu dùng tăng cao, xuất khẩu và thu hút khách du lịch quốc tế đạt khá. Tình hình giải quyết việc làm và an sinh xã hội được quan tâm thực hiện. Bên cạnh những mặt tích cực, nền kinh tế vẫn còn những tồn tại, thách thức: quá trình cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng chậm; năng suất lao động còn thấp, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao. Biến đổi khí hậu, thiên tai, bão, lũ, dịch bệnh diễn biến phức tạp có thể ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân.

Nguồn: TCTK, Tình hình kinh tế-xã hội năm 2018.