VẤN ĐỀ GIÀ HÓA, QUYỀN CỦA NGƯỜI CAO TUỔI VÀ CHƯƠNG TRÌNH NGHỊ SỰ 2030 VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Vấn đề già hóa và người cao tuổi Người cao tuổi (NCT) trong năm 2015 chiếm khoảng 12,3% dân số thế giới với 901 triệu người và sẽ tăng lên hơn 2 tỷ người, chiếm 22% dân số thế giới vào năm 2050. Trung bình cứ một giây lại có 2 người bước vào tuổi 60, tức là mỗi năm thế giới có thêm khoảng 58 triệu NCT.

 

Dân số tuổi 60+ (triệu)

Tỷ lệ (%) người 60+

 

2015

2030

2050

2015

2030

2050

Thế giới

 

900,9

 

1.402,4

 

2.092

 

12,3

 

16,5

 

21,5

Châu Á

 

508

 

845

 

1.293,7

 

11,6

 

17,2

 

24,6

Việt Nam

 

9,6

 

18,4

 

31,4

 

10,3

 

17,5

 

27,9

Nguồn: UNDESA.2015 a,b,c.World population aging 2015-2050; World population policies. New York

Biến đổi dân số diễn ra nhanh nhất ở các nước có thu nhập thấp và đến năm 2050, 80% số NCT ở các nước này. Với 508 triệu người, châu Á đứng đầu về tốc độ già hóa dân số với số NCT chiếm hơn 50% số NCT toàn thế giới và châu Âu có tỷ lệ NCT lớn nhất là 24% với 177 triệu. Châu Phi tuy có số ít NCT hơn song dự báo vẫn tăng từ 64 triệu lên 105 triệu vào năm 2030. Cũng trong giai đoạn 2015-2030, số NCT được dự báo sẽ tăng tiếp 56% và lên 1.400 tỷ người, chiếm tỉ lệ 16,5% tổng số dân toàn cầu, trong đó chiếm hơn 25% dân số châu Âu và Bắc Mỹ, 17% dân số châu Á và khu vực Mỹ la tinh-Caribê, 6% dân số châu Phi (UNDESA, 2015a).

Số NCT ở ASEAN dự kiến ​​sẽ tăng từ 59,5 triệu người trong năm 2015 lên 127 triệu người vào năm 2035. Đến năm 2050, tỷ lệ NCT ở khu vực này là 24% với ba thành viên quốc gia đang trong tình trạng già hóa hiện nay sẽ trở thành siêu già là Sin-ga-po (38%), Thái Lan (32%) và Việt Nam (31%), còn các quốc gia thành viên khác trong khu vực đều sẽ ở giai đoạn già hóa hoặc có dân số già. Ở Việt Nam, số NCT đã tăng nhiều trong những năm gần đây và Việt Nam hiện là một trong số những quốc gia già hóa nhanh nhất châu Á, với dự báo sẽ gia tăng nhanh trong những thập kỷ tới. Trong năm 2015, số NCT chiếm 10,3% tổng dân số với 9,6 triệu người và số NCT sẽ tăng gấp hơn 3 lần với hơn 30 triệu người vào năm 2050.

Trên toàn thế giới, số NCT siêu già (từ 80 tuổi trở lên) tăng nhanh hơn các nhóm NCT khác, trong năm 2000 là 71 triệu tăng lên 125 triệu (tăng 77%) chiếm 14% số NCT trên thế giới trong năm 2015 và dự báo lên gần 202 triệu (tăng 61%) vào năm 2030. Số người siêu già sẽ tăng lên hơn 3 lần từ năm 2015 thành 434 triệu vào năm 2050. Hiện số NCT trên thế giới đã nhiều hơn số trẻ em 0-4 tuổi và tới năm 2050 thì số NCT sẽ nhiều cả hơn số trẻ em từ 0-14 tuổi (UNDESA 2015a).

Do tuổi thọ phụ nữ dài hơn (khoảng từ hai đến tám tuổi) nên phần đông NCT là các cụ bà. Số NCT nữ đông hơn số NCT nam 66 triệu. Trong số NCT từ 80 trở lên, số các cụ bà gần như đông hơn gấp hai số các cụ ông và trong số NCT tuổi 100 trở lên, số các cụ bà đông hơn 4 đến 5 lần số các cụ ông. 19% số các cụ bà sống một mình (do li hôn/li thân) với 8% số các cụ ông. 80% số các cụ ông tái kết hôn so với chỉ 48% số các cụ bà (UNDESA 2015b). Bộ Chỉ số theo dõi già hóa toàn cầu năm 2015 của Tổ chức Hỗ trợ Người cao tuổi Quốc tế tập hợp số liệu từ 96 quốc gia về tình trạng già hóa và NCT trên thế giới dựa trên bốn lĩnh vực: 1) an ninh thu nhập, 2) tình trạng sức khỏe, 3) việc làm và giáo dục và 4) môi trường thuận lợi, cũng đưa ra các số liệu về phụ nữ cao tuổi. Về tình trạng sức khỏe, phụ nữ sống thọ hơn nam giới. Vào tuổi 60, tuổi thọ của nam giới là 78 tuổi và song tuổi thọ khỏe mạnh là 73,7 tuổi, còn con số tương đương ở phụ nữ là 81 tuổi và 75,8 tuổi. Trong lĩnh vực thu nhập, lương hưu của phụ nữ cũng thấp hơn nam giới.

Quyền của NCT là quyền con người – hướng tới một công ước về quyền của NCT

Các quyền của NCT cũng là các quyền con người như tất cả những người khác và bình đẳng mà không phụ thuộc hay thay đổi vào tuổi tác như đã khẳng định trong Tuyên ngôn Phổ quát về quyền con người (UDHR) do Liên Hợp Quốc thông qua ngày 10-12-1948 là “Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và các quyền” (Điều 1). UDHR và những văn kiện quốc tế liên quan khác đã nêu ra những quyền cơ bản của NCT mà các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc và những chủ thể quốc tế khác phải tôn trọng và thực hiện.

Thế giới ngày càng quan tâm hơn tới vấn đề của NCT và nhận ra rằng, thế giới không thể phát triển bền vững khi mà NCT bị sao nhãng bỏ qua. Với khẩu hiệu “Tiến tới một thế giới thịnh vượng cho mọi lứa tuổi”, Liên Hợp Quốc đang hướng tới xây dựng những chương trình, kế hoạch và hành động mà trong đó tất cả mọi người đều được tham gia và hưởng lợi. Sự thay đổi trong quan điểm của Liên Hợp Quốc và các quốc gia về NCT trong thời gian qua chủ yếu xuất phát từ hai lí do chính là già hóa dân số trên thế giới ngày càng gia tăng và cách nhìn nhận về NCT đã thay đổi. NCT không chỉ là nhóm người dễ bị tổn thương mà họ phải được bảo vệ và chăm sóc. Họ cũng còn là nguồn lực của xã hội, có kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng, khả năng, nhiệt tình và lý do để tiếp tục đóng góp cho sự phát triển thịnh vượng của xã hội. Từ năm 1990, Liên Hợp Quốc đã lấy ngày 1-10 hàng năm là Ngày Quốc tế NCT và đã có những tuyên bố, chương trình hành động quốc tế về NCT nhằm đối phó với những thách thức của già hóa dân số trong thế kỷ 21 và thúc đẩy phát triển một xã hội cho mọi lứa tuổi. Cácnguyên tắc của Liên Hợp Quốc với NCT được thông qua năm 1991 nhấn mạnh đến sự độc lập, sự tham gia, chăm sóc, tự thực hiện mong muốn và phẩm giá (United Nations, 2012).

Tuy nhiên từ thực tế khắp thế giới từ vài thập kỷ qua cho thấy khuôn khổ pháp lý quốc tế về NCT chưa đủ mạnh hay hiệu quả, đặc biệt việc thực hiện ở cấp quốc gia. Ngay cả các báo cáo quốc gia thực hiện công ước đều sao nhãng hoặc xem nhẹ, thậm trí chối bỏ quyền của NCT (nhất là với phụ nữ cao tuổi. Tình trạng “mù tuổi” là phổ biến trong việc thực hiện báo cáo các công ước cơ bản, trừ Công ước về quyền của người lao động di cư và thành viên gia đình họ (ICRMW). Phân biệt đối xử với NCT trên cơ sở tuổi tác cũng được nhấn mạnh tại Công ước về quyền của người khuyết tật (CRPD) và Khuyến nghị chung số 27 của Ủy ban CEDAW. Tình trạng này cũng rất phổ biến khi các nước tham gia các vòng báo cáo quốc gia về Đánh giá Định kì phổ quát (UPR) được Liên Hợp Quốc tổ chức cứ 4 đến 4,5 năm một lần trong những năm gần đây.

Để khắc phục tình trạng trên, chín khoảng trống trong hệ thống bảo vệ quốc tế cho NCT được Liên Hợp Quốc xác định để phải được khỏa lấp và tập trung giải quyết gồm:

  1. Phân biệt đối xử trên cơ sở tuổi tác
  2. Năng lực pháp luật và công nhận bình đẳng trước pháp luật
  3. Chăm sóc lâu dài
  4. Bạo lực và lạm dụng
  5. Tiếp cận những nguồn lực sản xuất, công việc, lương thực và nhà ở trong tuổi già
  6. An sinh xã hội
  7. Quyền sức khỏe và chăm sóc cuối đời
  8. Tuổi già và khuyết tật
  9. NCT trong tù giam và tiếp cận công lý

Nhu cầu có công ước chuyên riêng về quyền của NCT đã được cộng đồng quốc tế đặt ra và được bàn thảo trong những năm qua. Từ năm 2010, Liên Hợp Quốc cùng các quốc gia thành viên bắt đầu tổ chức soạn thảo công ước về quyền của NCT. Một công ước như vậy theo khuôn khổ và quy định chung của một công ước về quyền con người dự kiến sẽ gồm những nội dung chủ yếu sau: Các nguyên tắc cơ bản (không phân biệt đối xử, tôn trọng, phẩm giá, tự chủ, bình đẳng, tự hoàn thiện và phát triển bản thân, tham gia đầy đủ, hiệu quả và hòa nhập xã hội, tôn trọng sự khác nhau và đa dạng, tiếp cận được); các nghĩa vụ chung; những quyền con người cụ thể; và thực hiện, theo dõi giám sát và các cơ chế chịu trách nhiệm giải trình.

Chương trình Nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững để “Không ai bị bỏ lại phía sau”

Tại Hội nghị Cấp cao Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc tổ chức trong năm 2000, 189 quốc gia thành viên nhất trí thông qua Tuyên bố Cấp cao Thiên niên kỷ và cam kết đạt được tám Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) vào năm 2015 gồm:

  1. Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói.
  2. Đạt phổ cập giáo dục tiểu học.
  3. Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao năng lực, vị thế cho phụ nữ.
  4. Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em.
  5. Nâng cao sức khỏe bà mẹ.
  6. Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh khác.
  7. Đảm bảo bền vững về môi trường.
  8. Thiết lập mối quan hệ đối tác toàn cầu vì mục đích phát triển.

Tuyên bố Thiên niên kỷ và các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ là lộ trình tiến tới xây dựng một thế giới mà ở đó không còn nghèo đói, tất cả trẻ em được học hành, sức khoẻ của người dân được nâng cao, môi trường được duy trì bền vững và mọi người được hưởng tự do, công bằng và bình đẳng. Tuy nhiên, cả 8 mục tiêu phát triển thiên niên kỷ này lại đều không chú trọng hay không liên quan trực tiếp đến vấn đề già hóa hay NCT.

Ngày 25-9-2015 tại Liên Hợp Quốc, chính phủ hơn 190 nước trên thế giới đã cam kết thực hiện Chương trình Nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững với 17 mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) và 169 chỉ tiêu tương ứng phải hoàn thành vào năm 2030. Trước đó, cộng đồng quốc tế đã đánh giá, tổng kết các thành công cùng những thách thức còn lại của việc thực hiện 8 mtrong giai đoạn 2000-2015, qua việc xóa bỏ nghèo cùng cực, đấu tranh chống bất bình đẳng và bất công, khắc phục sự biến đổi khí hậu.

Các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs), hay được biết tới cách khác là Những mục tiêu Toàn cầu mang tính phổ quát về phát triển bền vững hướng tới việc hành động để chấm dứt nghèo đói, bảo vệ hành tinh và đảm bảo rằng tất cả mọi người đều được hưởng hòa bình và thịnh vượng. Cả 17 mục tiêu phát triển bền vững này thay thế và được xây dựng dựa trên thành công của các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, trong khi đó lại gồm cả những lĩnh vực hay vấn đề mới như biến đổi khí hậu, bất bình đẳng kinh tế, canh tân, tiêu thụ bền vững, hòa bình và công lý…trong số các ưu tiên khác. Không giống các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, khung các mục tiêu phát triển bền vững không phân biệt chia ra “các nước phát triển” với “những nước đang phát triển”. Thay vào đó, các mục tiêu này áp dụng với tất cả các nước.

Phát triển bền vững là ưu tiên cấp bách nhất của cộng đồng quốc tế và là mục đích cốt lõi của chương trình nghị sự cho phát triển sau năm 2015, với trên cả ba trụ cột chính là kinh tế, xã hội và môi trường. Phát triển bền vững trên cả ba phương diện: phát triển bền vững về kinh tế, phát triển bền vững về xã hội và phát triển bền vững về mặt môi trường là xu thế chung của các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, đồng thời là một đặc điểm nổi bật của thế giới đương đại, phản ánh sự nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế vì mục tiêu bảo đảm và nâng cao chất lượng sống của các thế hệ hiện tại và tương lai. Chương trình Nghị sự 2030 có độ bao phủ chính sách phổ quát, rộng lớn, toàn diện vì lợi ích của mọi người dân trên toàn thế giới, cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Các nhóm dân cư dễ bị tổn thương, trong đó có NCT được chú trọng ưu tiên “để không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Những thách thức cơ bản với NCT, trong đó có phụ nữ cao tuổi

(1) NCT bị phân biệt đối xử trên thực tế ở nhiều nơi khắp thế giới và trong nhiều xã hội vì lý do tuổi tác và vì những cơ sở, lý do khác như giới tính, chủng tộc, nguồn gốc, sắc tộc, tôn giáo, hoàn cảnh xã hội, nơi họ sinh sống, khuyết tật, trình độ văn hóa, giầu nghèo…làm ảnh hưởng, tác động tiêu cực đến việc thụ hưởng tất cả những quyền con người khác. Nhiều NCT bị mất đi các quyền cùng lợi ích chính đáng và mất đi cả cơ hội để tiếp tục cống hiến cho xã hội. Rất nhiều người coi NCT là lớp người già cần được chăm sóc và trách nhiệm chăm sóc NCT thuộc về gia đình. Từ đó, hầu hết những chương trình và chính sách ở nhiều nước chỉ thiên về trợ cấp, ưu tiên, thăm hỏi, động viên khiến cho nhiều NCT trong hoàn cảnh khó khăn không được giúp đỡ đúng cách thức. Nhiều chính sách phát triển quốc tế và các hoạt động thường không bao gồm NCT. Sự gia tăng “NCT siêu già” cũng là thách thức lớn, đặc biệt đối với gia đình và cộng đồng. Bên cạnh đó, tình trạng kỳ thị tuổi tác, phân biệt đối xử với NCT làm họ đối mặt với tình trạng không được tiếp cận quyền lợi, trách nhiệm chăm sóc, và phụng dưỡng của con cháu và cộng đồng ngày càng suy giảm khiến nhiều NCT ốm đau không ai chăm sóc. Nhiều nước thiếu chính sách phù hợp với NCT và trên thực tế lại có rất ít hoạt động và các văn bản hướng dẫn của Liên Hợp Quốc liên quan tới NCT so với những nhóm người dễ bị tổn thương nhất. Điều này đã khiến cho nhiều NCT không được bảo vệ trước tình cảnh bị phân biệt đối xử, ít cơ hội hưởng lợi từ các chương trình phát triển. Ở nhiều nước, quyền của NCT vẫn chưa được các quốc gia quan tâm đúng mức, ngay cả khi có pháp luật quy định. Vai trò của NCT đối với gia đình và cộng đồng thường không được biết đến và không được đánh giá đúng mức ở nhiều nơi. Quá trình già hóa ở nam giới và phụ nữ diễn ra cũng khác nhau và cả hai giới đều gặp phải sự phân biệt đối xử do tuổi tác song nhiều hơn với các cụ bà.

(2) Nghèo khổ hiện vẫn là thách thức lớn nhất cần được giải quyết cấp bách do tình trạng vô gia cư và thiếu nơi ăn chốn ở, suy dinh dưỡng, bệnh tật kinh niên…của nhiều NCT song lại không được chăm sóc, chữa trị và thiếu thuốc men, không có hay phải bị hạn chế tiếp cận nước sạch và những điều kiện vệ sinh, không có hay bị hạn chế tiếp cận an sinh xã hội…ở nhiều nơi trên thế giới. Trong những thập kỷ qua, sự gia tăng NCT nghèo khổ trong tổng số dân số toàn cầu là vấn đề đáng quan tâm. Phần lớn họ không có lương hưu dù là lương hưu tối thiểu, phải làm việc vất vả để đảm bảo cuộc sống và thường làm những công việc không an toàn, được trả công thấp đến khi họ không thể làm việc được nữa hoặc bệnh tật, ốm đau, phải sống trong cảnh bần cùng. Nhà nước cũng gặp phải không ít những vấn đề nan giải trong chính sách kinh tế, xã hội do tình trạng thâm hụt của các quỹ bảo hiểm và trợ cấp xã hội. Nguyên nhân cũng là do quy định tuổi làm việc của người lao động được nâng cao, mặt khác, các phí dịch vụ, nhất là về y tế ngày càng trở nên đắt đỏ nhờ các thành tựu y học, và công nghệ cao (ILO, 2015). Điều này diễn ra ở nhiều nước phát triển và đang phát triển khi mà lương hưu của nhiều NCT chỉ xấp xỉ hay chỉ nhỉnh hơn chút ít so với mức nghèo khổ. Khủng hoảng kinh tế thế giới, dẫn đến sự tăng giá cả sinh hoạt, thức ăn, giao thông và nhà ở…làm tồi tệ thêm cuộc sống của NCT. Đặc biệt, đối với những người sống ở các địa phương nghèo hoặc bị tác động xấu của môi trường thường có nguy cơ cao chịu ảnh hưởng của các cuộc xung đột hoặc các nguyên nhân khác về chính trị và môi trường không ổn định tạo ra sự thiếu an toàn cho NCT. Trong các hộ gia đình nghèo, NCT và trẻ em bị ảnh hưởng nhiều nhất. Nhiều NCT vẫn là người lao động chính nuôi sống cả nhà và chăm sóc những thành viên khác trong gia đình. Đồng thời, nhiều NCT phải chăm sóc cháu do bố mẹ ra thành thị làm việc kiếm tiền hoặc bệnh tật hay chết do HIV/AIDS và các bệnh hiểm nghèo khác. Ở nhiều nước châu Phi, NCT là những người chăm sóc chủ yếu đối với 40% người có HIV/AIDS hoặc trẻ em bị mồ côi do AIDS (United Nations, 2015).

Ở nhiều quốc gia, những người sống và làm việc ở nông thôn thường có thu nhập thấp và rất ít người được hưởng các chế độ bảo trợ và an sinh xã hội, nếu có thì thường ở mức rất thấp. NCT đa số thuộc nhóm những người nghèo, nhất là phụ nữ cao tuổi. Người cao tuổi, đặc biệt những người không gia đình dễ bị tổn thương khi gặp thiên tai và các tình huống khẩn cấp khác. Đây cũng là thách thức đặc biệt đối với các nước đang phát triển với phần lớn người cao tuổi sống tại khu vực nông thôn. So với NCT nam giới, số phụ nữ là NCT sống trong nghèo khổ, thiệt thòi và bị gạt ra ngoài lề xã hội cũng đông hơn ở cả các nước đang phát triển và phát triển. Họ phải chịu đựng bất bình đẳng về thu nhập, tiếp cận giáo dục và y tế, an sinh xã hội, sinh kế, công ăn việc làm, thừa kế, bất bình đẳng giới, bạo lực trên cơ sở giới, chăm sóc không được trả lương.

Cùng với sự gia tăng tỷ lệ già hóa, số NCT sống trong hoàn cảnh khó khăn cũng ngày càng tăng, đặc biệt là tại các nước nghèo kém phát triển hơn. 65% số NCT hiện đang sống ở các nước nghèo kém phát triển và tới năm 2050 sẽ có 80% số NCT sống tại các quốc gia này và khoảng hơn 200 triệu người trong số họ sống trong cảnh nghèo khổ, bệnh tật, chiến tranh, ô nhiễm môi trường... Đây chính là những nguyên nhân khiến nhiều NCT trên thế giới không được chăm sóc, bị ngược đãi, bị mất quyền tham gia và quyết định... Hơn 50% số NCT vẫn đang phải làm việc, chủ yếu ở các khu vực phi chính thức. NCT là một tài sản quý giá đối với xã hội, cộng đồng, gia đình và họ có đóng góp to lớn cho sự phát triển chung của gia đình và xã hội. Bản thân NCT mang lại lợi ích chứ không phải là gánh nặng cho xã hội vì phải coi họ là những thành viên tích cực và năng động trong xã hội, chứ không coi họ là những người chỉ tiếp nhận một cách thụ động các dịch vụ đồng nhất của nhà nước. Họ phải được coi là một nguồn lực kinh tế quan trọng cho sự phát triển và Nhà nước cần thúc đẩy các cơ hội việc làm, quy định tuổi về hưu linh hoạt và phát triển kỹ năng cho NCT để giúp họ tăng thu nhập và có được lợi ích cho tuổi già (United Nations, 2017). 75% NCT sống trong các khu vực bị ảnh hưởng bởi thiên tai và biến đổi khí hậu (United Nations, 2017).

(3) Bạo lực, lạm dụng và bóc lột

Già hóa dân số là một thực tế mang tính lâu dài không thể đảo ngược và đang được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm. Vấn đề này đang diễn ra mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới, kéo theo nhiều vấn đề, thách thức về kinh tế-xã hội và văn hóa cần phải giải quyết vì đã và đang tác động không nhỏ tới cuộc sống của con người - ở tất cả các cấp độ cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội. Già hóa dân số không phải là một gánh nặng nhưng nó sẽ làm cho gánh nặng kinh tế và xã hội trở nên trầm trọng hơn nếu không có những bước chuẩn bị và thực hiện các chiến lược và chính sách thích ứng. Nếu trước kia trách nhiệm chăm sóc NCT hầu hết thuộc về trách nhiệm của mỗi gia đình thì ngày nay trách nhiệm đó đã dần chuyển sang xã hội và nhà nước, với nhiều đòi hỏi về dịch vụ và loại hình chăm sóc. Sự gia tăng số NCT kéo theo những nhu cầu được chăm sóc về y tế và các loại hình chăm sóc khác, đồng thời ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng, thị trường lao động, lương hưu, thuế... cũng như đặt ra các thách thức như bảo đảm môi trường sống thích hợp cho NCT để giúp họ có thể tham gia hoạt động cộng đồng. Vấn đề thiết kế xây dựng nhà ở và các công trình công cộng thuận tiện với NCT, bảo đảm cho người cao tuổi được hưởng lợi ích do sự phát triển xã hội đem lại.

Trong quan niệm của cộng đồng quốc tế, NCT là một nhóm dân cư dễ bị tổn thương bởi những đặc điểm về tâm, sinh lý và nhất là về những quan niệm không đúng của xã hội đối với họ. Bên cạnh đó, hiện nay ở nhiều nước phát triển đã xuất hiện “mâu thuẫn thế hệ” do sự khác biệt giữa nhóm NCT với lớp trẻ không được giải quyết kịp thời như sự khác biệt các nhu cầu về văn hoá, đặc biệt là mâu thuẫn về việc làm. Nhiều thanh niên gặp khó khăn trong tìm việc làm, do tuổi lao động của thế hệ trước được kéo dài.

(4) Thiếu những biện pháp và dịch vụ cụ thể như nguồn lực, cơ sở vật chất để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cho NCT như những nơi chăm sóc tại nhà và ở cơ sở trung tâm chuyên ngành, bệnh viện lão khoa, chương trình ở cộng đồng… Chăm sóc sức khoẻ là nhân tố hàng đầu bảo đảm cho NCT có cuộc sống tốt về thể chất, tâm lý, xã hội và tinh thần đang đặt ra nhiều vấn đề và khó khăn. Do quy luật sinh học, sức khoẻ của NCT yếu hơn dần so với lớp trẻ tuổi hơn, nhất là về thể chất. NCT thường mắc các bệnh lão khoa, như các bệnh liên quan đến tim mạch (xơ vữa động mạch, thiểu năng động mạch vành…), hô hấp (viêm phế quản, hen…), tiêu hoá, tiết niệu (u xơ tiền liệt tuyến…), xương khớp (vôi hóa, loãng xương…), rối loạn chuyển hoá máu (tăng glu-cô, cô-let-xtê-rôn…), thần kinh (pa-kin-xơn, a-dây-mơ, trầm cảm…). NCT thường ít vận động hơn, có sức đề kháng và sức khỏe hạn chế hơn chính vì vậy khả năng thích nghi với các thay đổi trong môi trường sống cũng kém hơn (Quốc hội, 2015).

15 trong 17 mục tiêu phát triển bền vững sau có liên quan trực tiếp đến NCT, đặc biệt Mục tiêu 3 là “Bảo đảm cuộc sống lành mạnh và thúc đẩy phúc lợi cho tất cả mọi người ở lứa tuổi”. Chuẩn bị cho vấn đề già hóa dân số và thực hiện quyền con người của NCT là sống còn cho việc thực hiện Chương trình Nghị sự 2030. 

Khuyến nghị thực hiện Chương trình Nghị sự 2030

  • Tăng quyền năng cho NCT với tư cách là những chủ thể thực hiện các chính sách và chương trình quốc gia. NCT không chỉ bị coi là nhóm người dễ bị tổn thương mà phải được nhìn nhận là những tác nhân tham gia tích cực trong quá trình chuyển đổi và phát triển xã hội bền vững.
  • Thúc đẩy một phương pháp tiếp cận chia sẻ trách nhiệm nhằm chuẩn bị cho quá trình già hóa khỏe mạnh, năng động và có ích bằng cách hỗ trợ cho gia đình, người chăm sóc/nhân viên chăm sóc và tăng cường vai trò của cộng đồng trong việc chăm sóc NCT;
  • Thúc đẩy sự đoàn kết liên thế hệ hướng tới một xã hội cho tất cả các độ tuổi bằng cách nâng cao nhận thức về quyền, những vấn đề, thách thức của NCT và sự già hóa;
  • Tăng cường phương pháp tiếp cận dựa trên quyền/nhu cầu và vòng đời, xóa bỏ tất cả những hình thức phân biệt đối xử với lý do tuổi cao và qua việc tiếp cận bình đẳng của NCT với các dịch vụ công, thu nhập, những dịch vụ chăm sóc y tế và thông tin cũng như các biện pháp bảo vệ pháp lý và hệ thống hỗ trợ hiệu quả;
  • Lồng ghép những vấn đề về NCT vào các chính sách công, chương trình và kế hoạch phát triển quốc gia, bao gồm việc linh hoạt đối với tuổi nghỉ hưu và các chính sách việc làm;
  • Thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực và chuyên gia trong lĩnh vực lão khoa, nghiên cứu về già hóa và những lĩnh vực liên quan, bao gồm cả những cán bộ/nhân viên chăm sóc nhằm đáp ứng nhu cầu về các dịch vụ y tế, nhân viên xã hội hiện tại và trong tương lai cho NCT;
  • Thúc đẩy việc xây dựng hệ thống dữ liệu, thu thập thông tin đáng tin cậy, dựa trên bằng chứng và phân tích giới về già hóa, bao gồm thúc đẩy năng lực giải quyết vấn đề/thu hẹp khoảng cách trong chính sách, nghiên cứu và thực tiễn, nhất là trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0;

Nâng cao năng lực của các ban, ngành, cơ quan chính phủ, những tổ chức xã hội, cộng đồng và các bên có liên quan để phối hợp tốt và hiệu quả hơn trong việc cung cấp những dịch vụ chất lượng cho NCT ở cấp địa phương và quốc gia;

  • Khuyến khích xây dựng các hiệp hội của NCT và những hình thức mạng lưới khác, bao gồm câu lạc bộ NCT và mạng lưới tình nguyện viên qua việc nâng cao năng lực cho họ, cung cấp cho họ nền tảng pháp luật, chính sách và việc thực hiện trên cơ sở quyền và giới về già hóa và NCT;
  • Thúc đẩy những cộng đồng/thành phố thân thiện với NCT với các hệ thống cơ sở hạ tầng bền vững và có thể tiếp cận được;
  • Xây dựng và củng cố mạng lưới, quan hệ đối tác trong nước và nước ngoài cũng như với các đối tác phát triển, bao gồm các cơ quan Liên Hợp Quốc, với các tổ chức xã hội, khu vực tư nhân và các bên liên quan trong việc hỗ trợ, cung cấp đủ nguồn lực và thực hiện hiệu quả những chương trình, kế hoạch cho NCT.

Tài liệu tham khảo

  1.  Vũ Ngọc Bình (2016). Pháp luật, chính sách với NCT và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam (bài trình bày ở Hội thảo Quốc tế về “Chăm sóc NCT ở châu Á: chăm sóc lâu dài trong bối cảnh gia đình” do Đại học Quốc gia Xin-ga-po tổ chức.
  2. Hội Người cao tuổi Việt Nam (2015), Các văn bản, chính sách đối với người cao tuổi Việt Nam. NXB Lao Động, Hà Nội.
  3. HelpAge International (2015), 2015 Global Age Watch Index, London.
  4. Ngân hàng Thế giới (2016), Sống lâu và thịnh vượng hơn – Vấn đề già hóa dân số khu vực Đông Á-Thái Bình Dương, Washsington.
  5. Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (2011), Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam – thực trạng dự báo và một số khuyến nghị, Hà Nội.
  6. Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội (2015). Già hóa dân số và chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng ở Việt Nam, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội.
  7. United Nations (2017), Follow-up to the International Year of Older Persons: Second World Assembly on Ageing Report of the Secretary-General, New York.
  8. United Nations (2015), Human Rights of Older Persons – Summary of the Report of the Secretary-General to the General Assembly, New York.

United Nations (2012), Report of the Secretary-General Report of the United Nations High Commissioner for Human Rights. New York.

  1. UNDP (2016). Leave No One Behind: Ageing, Gender and the 2030 Agenda. Issue Brief. New York.

 

Nguồn: UNFPA, Bộ Y tế (2017) Những rào cản trong tiếp cận các dịch vụ chăm sóc bà mẹ và KHHGĐ của đồng bào dân tộc thiểu số VN.