XÂY DỰNG GIẢI PHÁP ĐA NGÀNH, TOÀN DIỆN PHÒNG CHỐNG TẢO HÔN

Ở Việt Nam, tảo hôn xảy ra ở tất cả các tỉnh, thành phố và ở tất cả các dân tộc. Tỉ lệ tảo hôn đặc biệt cao trong các cộng đồng dân tộc thiểu số (DTTS) và ở các tỉnh có đông người dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc, Tây nguyên, một số tỉnh miền Trung và ở đồng bằng sông Cửu Long. Tỷ lệ tảo hôn chung trong các nhóm DTTS khá cao là 26,6%, gấp 18 lần so với dân tộc Kinh (1,4%) và gấp 10 lần với tỷ lệ chung của cả nước (2,5%).

Khảo sát của Ủy ban Dân tộc vào năm 2015 cho thấy, có tới 40 trong tổng số 53 DTTS có tỷ lệ tảo hôn từ 20% trở lên, đặc biệt có 6 DTTS có tỷ lệ tảo hôn từ 50 – 60%. Các dân tộc có tỉ lệ tảo hôn cao nhất thường rơi vào các dân tộc sinh sống ở vùng KT-XH đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa.

Một số tồn tại vùng DTTS liên quan đến tỷ lệ tảo hôn cao và có xu hướng ngày càng tăng trong những năm gần đây:

  • Tỷ lệ nữ vị thành niên và thanh niên dân tộc thiểu số biết chữ là 83,2%, thấp hơn đáng kể so với tỉ lệ này của nữ dân tộc Kinh – Hoa là 99,1%.
  • Tỷ lệ trẻ em gái DTTS đi học đúng tuổi bậc tiểu học năm 2014 là 92,1% so với tỷ lệ này của nhóm dân tộc Kinh – Hoa là 98,9%; các số liệu tương ứng ở bậc THCS là 76,64% so với 92,6%.
  • Tỷ lệ bỏ học giữa chừng của học sinh DTTS vẫn còn cao: tỉ lệ học sinh DTTS học lên cấp THPT mới chỉ đạt 41,8%, nghĩa là 58,2% học sinh DTTS dừng lại việc học ở cấp THCS. Đây cũng là độ tuổi phổ biến nhất của tảo hôn vùng DTTS.
  • Kiến thức toàn diện về lây nhiễm HIV của trẻ em gái và phụ nữ trong độ tuổi 15-49 trong đồng bào DTTS thấp nhất: 29% so với 47% ở nhóm dân tộc Kinh.
  • Tỷ lệ sinh con tại nhà trung bình của phụ nữ DTTS là 36,3% trong đó có những dân tộc tỉ lên này lên đến 70-90% như Mông, Hà Nhì, La HỦ, La Ha, Lự, Mảng, Cống, Si La… đây đồng thời cũng là các dân tộc có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất và cũng là những DTTS có tỉ lệ tảo hôn cao nhất. 

Những khó khăn, thách thức trong can thiệp giảm thiểu tảo hôn

  • Tảo hôn đã làm hạn chế cơ hội học tập của trẻ em gái, làm các em mất đi các cơ hội được đào tạo và tìm được công việc làm ổn định. Tảo hôn cũng khiến các trẻ em gái dễ mang thai sớm khi cơ thể chưa phát triển toàn diện, điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển tinh thần và thể chất của các em. Tảo hôn làm tăng nguy cơ bạo lực gia đình và các dạng bạo lực trên cơ sở giới. Ngoài ra, tảo hôn là vi phạm quyền trẻ em. Nếu xét về tổng thể, tảo hôn tác động trực tiếp đến các vấn đề kinh tế-xã hội khác tạo thành một vòng luẩn quẩn của sự đói nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số. Đây cũng là nguyên nhân sâu xa làm suy giảm chất lượng nguồn nhân lực và sự phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số. 
  • Mặc dù Luật pháp về các vấn đề hôn nhân và gia đình ở Việt Nam đã quy định tuổi kết hôn ở phụ nữ là đủ tròn 18 và nam giới là đủ tròn 20, song 11% phụ nữ tuổi từ 20 đến 49 đã kết hôn hoặc đã sống chung như vợ chồng trước tuổi 18 (UN Women). Hơn nữa, vẫn còn tồn tại bất bình đẳng ở nhiều khu vực và các nhóm dân tộc, một số cộng đồng hiện đang tụt hậu so với tiến trình phát triển kinh tế-xã hội và tiến bộ về bình đẳng giới, họ đang phải đối mặt với tình trạng tảo hôn khá phổ biến. Việc giảm thiểu tình trạng tảo hôn, đặc biệt trong đồng bào DTTS là vấn đề chiến lâu dài và nhiều thách thức:

(1) Vùng DTTS là vùng có tỉ lệ nghèo cao nhất cả nước (tỉ lệ nghèo chung của 53 DTTS là 23,1%, gấp 5 lần so với tỉ lệ nghèo chung cả nước), trình độ dân trí thấp lại chịu ảnh hưởng và chi phối mạnh mẽ bởi các phong tục và quan niệm lạc hậu trong hôn nhân.

(2) Cơ hội tham gia việc làm được trả lương rất thấp, do gia tăng các áp lực về sinh kế và lương thực cho gia đình. Nhiều gia đình DTTS cho con gái đi lấy chồng là một giải pháp giảm áp lực kinh tế đối với gia đình. (3) Nhận thức và ý thức pháp luật của người dân còn nhiều hạn chế.

(4) Công tác truyền thông, phổ biến kiến thức cơ bản và kiến thức pháp luật còn nhiều bất cập nhất là tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa. Rào cản về ngôn ngữ là một yếu tố khiến cho việc tiếp cận truyền thông gặp nhiều khó khăn và không đem lại hiệu quả như mong muốn.

(5) Chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của các bộ, ngành, và chính quyền các cấp. Nhận thức của một số cán bộ chính quyền cơ sở còn xem nhẹ, thiếu hiểu biết hoặc vô tình tiếp tay co tảo hôn hoặc tổ chức cho con em mình tảo hôn.

(6) Kinh phí được bố trí để triển khai thực hiện Quyết định 498/QĐ-Ttg rất hạn hẹp, nên khó đạt được mục tiêu giảm bình quân từ 2-3%/năm số cặp tảo hôn.

Ngoài ra, còn thiếu sự gắn kết giữa các bộ/ngành và tổ chức xã hội để giải quyết vấn đề tảo hôn; thiếu cơ chế rõ ràng với nguồn lực phù hợp cho sự phối hợp liên ngành giữa các bộ/ngành; giảm thiểu tảo hôn chưa được lồng ghép vào các chương trình chiến lược quan trọng của các bộ/ngành.

Các nỗ lực nhằm giảm thiểu tình trạng tảo hôn tại Việt Nam

Tổng cục Dân số-Kế hoạch hóa gia đình, Bộ Y tế (DS-KHHGĐ), là cơ quan sớm có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng các mô hình can thiệp dựa vào cộng đồng nhằm giảm thiểu tảo hôn. Từ 2011 đến nay, Tổng cục DS-KHHGĐ đã có nỗ lực rất lớn thực hiện các mô hình can thiệp tại một số xã của 22 tỉnh trọng điểm trong cả nước và đạt được những kết quả nhất định.

Nhận diện tảo hôn là một trong những trở ngại cho sự phát triển KT-XH và chất lượng nguồn nhân lực vùng DTTS, năm 2015, Chính phủ đã phê duyệt đề án: “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số” giai đoạn 2015-2025 (Quyết định 498/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ). Sau hai năm tích cực triển khai đề án cũng đã thu được những kết quả nhất định thông qua công tác truyền thông bằng nhiều hình thức, xây dựng Mô hình thí điểm ở các tỉnh có tỉ lệ tảo hôn cao, tổ chức tập huấn theo khu vực cho cán bộ địa phương.

Bên cạnh đó, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cũng có nhiều nỗ lực trong việc bảo vệ quyền trẻ em, đặc biệt Luật trẻ em 2016 mới đây có quy định “ép buộc trẻ em tảo hôn” là một trong những hành vi bị cấm. Ngoài ra, một số bộ, ngành đã có sự quan tâm chỉ đạo, tăng cường công tác tuyên truyền, lồng ghép tuyên truyền nội dung về tảo hôn.

Các địa phương có tỷ lệ tảo hôn và nguy cơ tảo hôn cao đã có nhiều nỗ lực trong việc giảm thiểu tình trạng tảo hôn, một số tỉnh đã chủ động xây dựng kế hoạch, bố trí kinh phí thực hiện Quyết định 498/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Trong những năm gần đây, tảo hôn cũng thu hút được sự quan tâm của các tổ chức quốc tế, các tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam. Đặc biệt, các tổ chức Liên hợp quốc tại Việt Nam đều coi tảo hôn là một vấn đề kinh tế-xã hội phức tạp và cần được quan tâm giải quyết cùng những vấn đề còn tồn đọng khác, nhất là ở vùng DTTS. Ngày 25/10/2016, một Hội thảo quốc gia về tảo hôn ở Việt Nam được tổ chức đã cho thấy tầm quan trọng của vấn đề này trong bối cảnh hiện nay. 

Mặc dù các bộ, ngành, địa phương đã có nỗ lực cho giảm thiểu tình trạng tảo hôn, nhưng do thiếu cơ chế phối hợp và nguồn lực nên hiệu quả chưa cao. Giải quyết tình trạng tảo hôn phải đi liền với giải quyết các vấn đề kinh tế-xã hội khác, và cần có các tác động phù hợp, hiệu quả đối với các dân tộc và vùng miền khác nhau, trong đó có cả người Kinh.

Tăng quyền năng và đầu tư cho phụ nữ và trẻ em gái: Chìa khoá để phá vỡ chu trình tảo hôn 

Chìa khoá để phá vỡ chu trình tảo hôn và kết hôn trẻ em là tăng quyền năng và đầu tư cho phụ nữ và trẻ em gái. Mọi phụ nữ và trẻ em gái có nguy cơ hoặc chịu ảnh hưởng bởi kết hôn trẻ em và tảo hôn cần được tiếp cận những dịch vụ có chất lượng về giáo dục và đào tạo, tư vấn về pháp luật và y tế, kể cả tư vấn sức khỏe sinh sản và tình dục, nhà tạm lánh và các dịch vụ xã hội khác. Tăng cường truyền thông, tập huấn nhằm nâng cao nhận thức về bất bình đẳng giới và nâng cao vị thế của trẻ em gái trong gia đình, cộng đồng, cũng như trong việc ra quyết định kết hôn; Trẻ em gái cần được trang bị kiến thức và kỹ năng tốt hơn, được cung cấp thông tin đầy đủ để các em có thể quyết định đúng và phù hợp trong hôn nhân của mình.

Điều này đòi hỏi mọi cơ quan chính phủ cần đảm bảo rằng quá trình lập kế hoạch, ngân sách, hoạch định chính sách, và giám sát việc thực hiện phản ánh được nhu cầu của trẻ em gái và trai, và việc đầu tư vào tăng quyền năng cho trẻ em gái cần được ưu tiên ở mọi khía cạnh và mọi lĩnh vực.

Tăng cường hệ thống bảo vệ trẻ em để phòng ngừa và đáp ứng các hình thức bạo lực, xâm hại và bóc lột đối với trẻ em gái và trai. Khuyến khích việc tạo ra các không gian và các hoạt động giải trí, tập huấn kỹ năng và giá trị sống cho thanh thiếu niên. Những khóa tập huấn này sẽ giúp các em nâng cao năng lực và khả năng đưa ra các quyết định tốt, phù hợp hơn trong việc lựa chọn kết hôn. Điều quan trọng là cần lắng nghe quan điểm của trẻ em về những nguyên nhân sâu xa của tình trạng kết hôn trẻ em và cần thu hút cũng như tăng quyền năng cho trẻ em để các em có thể cùng tham gia tìm giải pháp nhằm phòng ngừa và chấm dứt nạn kết hôn trẻ em, đặc biệt là ở các nhóm dân tộc thiểu số.

Ở cấp độ chính sách, đề án/chính sách về giảm thiểu kết hôn trẻ em cần được xây dựng đi kèm với các chính sách và biện pháp tổng thể (chiến lược truyền thông theo hướng tích cực, kích thích động lực cho thanh niên, thêm điểm trường gần bản làng để khuyến khích học sinh đi học, mở rộng các cơ hội việc làm, phát triển sinh kế, tạo các không gian giải trí lành mạnh). Truyền thông nhấn mạnh vào các khía cạnh tích cực của việc kết hôn đủ tuổi và cơ hội tốt hơn cho trẻ em. Đồng thời, cần có nghiên cứu chuyên sâu về tảo hôn làm bằng chứng phục vụ xây dựng cách tiếp cận tổng thể và toàn diện để giải quyết vấn đề tảo hôn.

 

THẢO VÂN