Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam giai đoạn 2009-2014

27/06/2018 09:23 Số lượt xem: 148

 Ở Việt Nam, từ năm 2000 cho tới nay qua các số liệu thống kê cho thấy đã có xu hướng mất bằng giới tính khi sinh, điều này được thể hiện qua tỷ số giới tính khi sinh (SRB), đây là một chỉ số nhân khẩu học phản ánh cơ cấu giới tính của một quần thể dân số. SRB được xác định bằng số trẻ em trai được sinh ra trên một trăm trẻ em gái.

Tỷ số giới tính khi sinh tăng đều và liên tục qua các năm 2009 – 2014, SRB năm 2009: 110,5 bé trai/100 bé gái; năm 2012: 112,3bé trai/100 bé gái; năm 2013: 113,8 bé trai/ 100 bé gái; năm 2014: 112,2 bé trai/100 bé gái.[2]

Số liệu trên cho thấy mất cân bằng giới tính khi sinh tại nước ta xuất hiện muộn hơn so với một số nước khác trong khu vực nhưng tăng nhanh trong những năm gần đây. Xét về mặt sinh học, tỷ số giới tính khi sinh được coi là cân bằng ở mức 104 – 106 bé trai/ 100 bé gái và nhìn chung ổn định qua thời gian và không gian giữa các châu lục, quốc gia, khu vực và chủng tộc người[1].

Để hiểu rõ hơn thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam đang diễn ra như thế nào, bài viết dựa trên số liệu đã được tổng hợp và phân tích của các kết quả, báo cáo về nội dung tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam qua giai đoạn 2009 – 2014.

I.              Thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam giai đoạn 2009 - 2014

Mục tiêu tổng quát của chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 đã chỉ rõ: Nâng cao chất lượng dân số cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản, duy trì mức sinh thấp hợp lý, giải quyết tốt những vấn đề về cơ cấu dân số và phân bố dân số, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Một trong những mục tiêu cụ thể quan trọng đó là: “Kiểm soát tốc độ tăng nhanh tỷ số giới tính khi sinh, đặc biệt tập trung vào các địa phương có tình trạng mất cân bằng trầm trọng về tỷ số giới tính khi sinh. Chỉ tiêu: Tỷ số giới tính khi sinh không vượt quá 113 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ sơ sinh gái vào năm 2015 và 115/100 vào năm 2020”.

Việt Nam và nhiều quốc gia khác trên thế giới đã và đang đứng trước thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, nhiều nước đang ở “ngưỡng” đáng báo động. Qua phân tích số liệu về tỷ số giới tính khi sinh qua các năm, các vùng/ miền, độ tuổi và nhóm kinh tế - xã hội sẽ làm rõ hơn xu hướng mất cân bằng giới tính khi sinh cũng như sự khác biệt về tỷ số giới tính khi sinh ở nước ta giai đoạn 2009 – 2014.

1.     Tỷ số giới tính khi sinh ở nước ta diễn ra không đồng đều qua các năm

            Tỷ số giới tính khi sinh ở nước ta có xu hướng tăng qua các năm từ 2009 -2014, năm 2009 là 110,5 bé trai/100 bé gái; năm 2014 là 112,2 bé trai/100 bé gái. Trong giai đoạn này thì SRB tăng nhanh vào năm 2013 là 113,8 bé trai/ 100 bé gái.

            Tỷ số giới tính khi sinh ở nước ta có sự khác biệt và diễn ra không đồng đều qua các năm. Bảng sau thể hiện SBR qua các năm từ năm 1999 – 2014: (Xem bảng 1)

Bảng 1: Tỷ số giới tính khi sinh, thời kỳ 1999 – 2014

Đơn vị tính: Số bé trai/ 100 bé gái

Năm

Tỷ số giới tính khi sinh

Năm

Tỷ số giới tính khi sinh

1999

107,0

2007

111,6

2000

107,3

2008

112,1

2001

109,0

2009

110,5

2002

107,0

2010

111,2

2003

104,0

2011

111,9

2004

108,0

2012

112,3

2005

106,0

2013

113,8

2006

109,8

2014

112,3


[1]
Tổng Cục thống kê (2015) Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ thời điểm 1/4/2014, các kết quả chủ yếu

Số liệu trên cho thấy biến động tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam vẫn đang ở mức cao và có xu hướng tăng đều qua các năm, từ 110,5 bé trai/100 bé gái năm 2009, đỉnh điểm vào năm 2013 tăng lên 112,3 bé trái/ 100 bé gái.

            Nhận thấy SBR còn có sự khác biệt và diễn ra không đồng đều giữa khu vực thành thị và nông thôn. Vào thời điểm năm 2014 thì SRB ở khu vực thành thị là 109,9 bé trai/100 bé gái; còn ở khu vực nông thôn là 113,2 bé trai/100 bé gái. Các năm khác trong giai đoạn 2001 – 2011 cũng có sự chênh lệch và không đồng đều nhau về tỷ số giới tính khi sinh giữa khu vực nông thôn và thành thị. Sở dĩ ở khu vực nông thôn ngày càng có xu hướng mất cân bằng giới tính khi sinh bởi với mong muốn có con trai đã ăn vào tiềm thức của nhiều gia đình, sự ưa thích con trai được dựa trên nhiều yếu tố có tác động, trong đó yếu tố về hệ tư tưởng phong kiến “trọng nam khinh nữ” “nối dõi tông đường” đã và đang chi phối quan niệm và tư tưởng của nhiều người, để có được đứa con như ý muốn thì ngày nay nhờ vào sự can thiệp của khoa học kĩ thuật hiện đại thì nhiều gia đình đã lựa chọn giới tính thai nhi trước khi sinh.

1.     Tỷ số giới tính khi sinh ở nước ta diễn ra không đồng đều giữa các vùng

            Tỷ số SBR không những diễn ra không đồng đều qua các năm mà còn diễn ra không đồng đều giữa các vùng trong cả nước. Trên cơ sở tài liệu về tỷ số giới tính khi sinh ở ở khu vực thành thị và nông thôn ta thấy sự khác biệt về SRB ở hai vùng này: (Xem bảng 2)

Bảng 2: Tỷ số giới tính khi sinh chia theo thành thị/nông thôn, vùng kinh tế - xã hội, 2009 và 2014

Đơn vị tính: Số bé trai /100 bé gái

Nơi cư trú/ vùng kinh tế - xã hội

Tỷ số giới tính khi sinh (SRB)

1/4/2009

1/4/2014

Toàn quốc

110,5

112,2

Thành thị

110,6

109,9

Nông thôn

110,5

113,2

Vùng kinh tế - xã hội

 

 

Trung du và miền núi phía Bắc

108,5

116,1

Đồng bằng Sông Hồng

115,3

118,0

Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung

109,7

105,5

Tây Nguyên

105,6

108,0

Đông Nam Bộ

109,9

108,9

Đồng bằng sông Cửu Long

109,9

114,1

Nguồn: Tổng cục thống kê (2015), Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ thời điểm 1/4/2014: các kết quả chủ yếu, tr 66

Với SRB của khu vực thành thị thấp hơn khu vực nông thôn tương ứng là 109,9 và 113,2 bé trai/ 100 bé gái. Đối với các vùng kinh tế - xã hội thì tỷ số giới tính khi sinh cao nhất là Đồng bằng Sông Hồng (118,0 bé trai/100 bé gái), sau đó là Trung du và miền núi phía Bắc (116,1 bé trai/ 100 bé gái), còn vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung có tỷ số giới tính khi sinh thấp nhất (105,5 bé trai/100 bé gái).

Sở dĩ có sự khác nhau là do sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng, ở Đồng bằng Sông Hồng có điều kiện phát triển, mật độ dân số cao nên tỷ số giới tính khi sinh luôn ở mức cao. Nhiều gia đình đã nhờ sự can thiệp của các kĩ thuật y tế nhằm lựa chọn giới tính thai nhi theo mong muốn. Không chỉ có sự khác biệt giữa các vùng trong cả nước mà còn có sự khác biệt trong các tỉnh thành cả nước.

Tuy nhiên, so với năm 2009 thì đến năm 2014 tỷ lê SRB của hai khu vực có sự thay đổi đáng kể, ở khu vực nông thôn SRB là 113,2 bé trai/100 bé gái, trong khi đó khu vực thành thị là 109,9 bé trai/100 bé gái. Với tâm lý “Ưa thích con trai” khát vọng có con trai để nối dõi tông đường, trụ cột kinh tế trong gia đình, đây là những tâm lý đã ăn sâu vào trong tâm khảm của người Việt từ xa xưa bởi sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Nho giáo tới đời sống người dân, nhất là ở khu vực nông thôn.

Bảng số liệu sau cho thấy hầu hết các phụ nữa tuổi từ 15 – 49 tuổi biết giới tính trước khi sinh khi thai từ 12 đến 22 tuần: (Xem bảng 3)

Bảng 3: Phân bố phụ nữ 15 – 49 tuổi biết giới tính của lần sinh cuối chia theo số tuần mang thai khi biết giới tính, 1/4/2013

Đơn vị tính: Phần trăm

Nơi cư trú/ vùng kinh tế - xã hội

Dưới 12 tuần

Từ 12 đến

16 tuần

Từ 17 đến 22 tuần

Trên 22 tuần

Toàn quốc

0,8

42,5

43,5

13,1

Thành thị

0,7

41,5

44,7

13,1

Nông thôn

0,9

43,0

43,0

13,1

Vùng kinh tế -xã hội

 

 

 

 

Trung du và miền núi phía Bắc

0,9

51,4

36,2

11,6

Đồng bằng sông Hồng

1,6

66,1

27,9

4,5

Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung

0,9

43,1

41,7

14,3

Tây Nguyên

0,7

40,2

43,9

15,3

Đông Nam Bộ

0,2

24,1

56,6

19,1

Đồng bằng Sông Cửu Long

0,2

23,0

58,8

17,9

Nguồn: Tổng cục thống kê (2013), Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình thời điểm 1/4/2013: Các kết quả chủ yếu, tr 44

Hiện nay, sự phát triển của khoa học kỹ thuật ngày càng tiên tiến, việc biết trước giới tính thai nhi trở nên dễ dàng hơn, bảng số liệu trên cho thấy phần đông các bà mẹ biết giới tính thai nhi khi thai ở tuần từ 12 đến 22 tuần chiếm tỷ lệ 86,1%. Còn với vùng thì ở Đồng bằng Sông Hồng có tỷ lệ phụ nữ biết giới tính thai nhi từ 12 – 16 tuần cao nhất với 66,1%, thấp nhất là vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (23%). Nhìn chung, vẫn có sự khác biết nhau về tỷ lệ biết giới tính thai nhi của lần sinh cuối chia theo số tuần mang thai ở các vùng trong cả nước.

2.             Tỷ số giới tính khi sinh ở nước ta diễn ra không đồng đều giữa các độ tuổi

            Tỷ số giới tính khi sinh không chỉ có sự khác nhau giữa các năm, các vùng trong cả nước mà còn diễn ra không đồng đều giữa các độ tuổi với nhau. Qua tổng hợp số liệu ta thấy SBR giữa các độ tuổi có chênh lệch: (Xem bảng 4)

Bảng 4: Tỷ số giới tính theo nhóm tuổi

 

45-4940-4435-3930-3425-2920-2418-1915-1710-14

Nguồn: UNFPA, Những biến đổi gần đây về tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam:

Tổng quan các bằng chứng, Hà Nội 8/2009

Ta thấy tỷ số giới tính khi sinh đã và đang có xu hướng giảm dần theo độ tuổi, với nhóm tuổi từ 0 – 15 tuổi thì SBR vào khoảng 105 bé trai/ 100 bé gái, nhóm tuổi 34 – 49 thì SBR dao động vào khoảng 85 – 95 bé trai/ 100 bé gái. Tỷ số giới tính khi sinh gia tăng trong thời gian qua nên tỷ số giới tính dân số dưới 15 tuổi cũng khá cao là 106,9. Trong khi đó, tỷ số giới tính của dân số trong độ tuổi lao động (15 – 59 tuổi) đang ở mức khá cân bằng là 99,0 %. Ngoài ra, dường như đã có sự thiếu hụt không bình thường về nam giới trong các nhóm tuổi 20 – 24 và 25 – 29 và ở mức độ nhỏ hơn là các nhóm tuổi 15 – 19 và 25 – 29 trong số liệu của năm 2009[1].

Hiện nay, nhiều phụ nữ đã biết được giới tính thai nhi, số liệu ở bảng sau cho thấy: (Xem bảng 5)

Bảng 5: Tỷ lệ phụ nữ 15 – 49 tuổi có biết giới tính thai nhi chia theo nhóm tuổi, thời kỳ 2007 – 2013

Đơn vị tính: Phần trăm

Nơi cư trú / nhóm tuổi/trình độ học vấn

2007

2010

2011

2012

2013

Nhóm tuổi

 

15 – 19

61,7

62,1

65,7

67,2

70,3

20 – 24

68,9

73,6

75,9

81,0

82,1

25 – 29

74,3

78,9

78,9

83,3

85,0

30 – 34

75,7

79,6

78,5

82,9

84,0

35 – 39

74,5

77,8

77,7

81,0

83,7

40 – 44

68,3

74,4

71,5

76,4

80,2

45 – 49

57,9

72,7

65,7

71,0

66,4

Nguồn: Tổng Cục thống kê (2013), Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình thời điểm 1/4/2013: Các kết quả chủ yếu, tr 43

Trong cả nước thì tỷ lệ phụ nữ biết trước giới tính thai nhi tăng dần từ nhóm tuổi 15 – 19 tuổi, cao nhất ở nhóm tuổi 25 – 29 tuổi và tỷ lệ này giảm dần ở nhóm tuổi từ 45 – 49 tuổi. Như vậy, ngày càng có nhiều phụ nữ biết được giới tính thai nhi trước khi sinh. Số liệu năm 2013 cho thấy, phần đông phụ nữ mang thai (83%) đều biết giới tính thai nhi.

3.             Tỷ số giới tính khi sinh ở nước ta diễn ra không đồng đều giữa các nhóm kinh tế - xã hội

            Tỷ số giới tính khi ở nước ta có sự khác nhau giữa các nhóm kinh tế - xã hội: Nghèo nhất, nghèo, trung bình, giàu, giàu nhất. Qua kết quả của Tổng Điều tra dân số năm 2009 thì ta thấy có sự chênh lệch nhau về tỷ số giới tính khi sinh theo năm nhóm kinh tế - xã hội, xem biểu đồ sau:

Biểu đồ 1: Tỷ số giới tính khi sinh theo năm nhóm kinh tế - xã hội của hộ gia đình

Đơn vị: Số bé trai/100 bé gái

Nguồn: UNFPA, Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam: Bằng chứng từ Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2009, (08/2010), tr 21

 

            Kết quả biểu đồ trên cho thấy với các nhóm kinh tế - xã hội: Trung bình, giàu, giàu nhất thì có tỷ số giới tính cao theo thứ tự lần lượt là 112,8 bé trai/ bé gái; 111,7 bé trai/ bé gái; 112,9 bé trai/ bé gái. Có thể nói đối với những nhóm kinh tế khác nhau thì có sự chênh lệch khác nhau giữa các hộ gia đình. Đối với những gia đình có điều kiện về kinh tế thì việc lựa chọn giới tính khi sinh chiếm tỷ lệ cao. Sở dĩ có điều này bởi với những gia đình có kinh tế khá giả thì việc tiếp cận với các phương tiện lựa chọn giới tính càng dễ dàng hơn.

            Như vậy, với những kết quả đã tổng hợp được có thể thấy xu hướng mất cân bằng giới tính khi sinh ở nước ta đã và đang diễn ra, biểu hiện qua sư chênh lệch SBR giữa các năm, giữa các vùng, độ tuổi và nhóm kinh tế. Mặc dù, xu hướng này vẫn chưa được thể hiện một cách rõ rệt song có thể nói mất cân bằng giới tính khi sinh là một vấn đề quan trọng cần được quan tâm và có những giải pháp định hướng nhằm cân bằng lại giới tính khi sinh.

Với những chính sách pháp luật về dân số nhằm giảm quy mô dân số đã và đang gây áp lực cho nhiều gia đình mong muốn có con trai. Vì vậy, nhiều cặp vợ chồng đã tìm đến dịch vụ lựa chọn giới tính thai nhi. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn tới mất cân bằng giới tính khi sinh ở nước ta trong giai đoạn này.

Năm 2003, tại khoản 2, Điều 7 Pháp lệnh Dân số đã quy định rõ “Nghiêm cấm các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức (tư vấn, chuẩn đoán giới tính thai nhi, phá thai…”. Tháng 10/2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định 114/2006/ND – CP quy định xử phạt hành chính về dân số và trẻ em. Tại Điều 1 của Nghị định qui định rõ: “Lựa chọn giới tính thai nhi là hành vi vi phạm pháp luật về dân số và trẻ em và sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo qui định tại Nghị định này”.

Như vậy, với mong muốn có con trai đã ăn vào tiềm thức của nhiều gia đình, sự ưa thích con trai được dựa trên nhiều yếu tố có tác động, trong đó yếu tố về hệ tư tưởng phong kiến “trọng nam khinh nữ” “nối dõi tông đường” đã chi phối quan niệm và tư tưởng của nhiều người, để có được đứa con như ý muốn thì ngày nay nhờ vào sự can thiệp của các biện pháp khoa học kĩ thuật hiện đại nhiều gia đình đã lựa chọn giới tính thai nhi, hoặc nạo phá thai…vv, mặc dù việc sử dụng những công nghệ xác định giới tính và lựa chọn giới tính đã bị cấm ở nước ta từ năm 2003 song hiện tại vẫn còn nhiều gia đình vẫn lựa chọn giới tính cho con cái của mình, điều này không chỉ làm ảnh hưởng tới tỷ số giới tính khi sinh mà còn làm đẩy nhanh tới xu hướng mất cân bằng giới tính ở nước ta trong những năm tới.

Kết luận và khuyến nghị

Với những kết quả từ phân tích tài liệu trên một phần đã cho ta thấy được thực trạng của hiện tượng mất cân bằng giới tính khi sinh ở nước ta giai đoạn từ năm 2009 - 2014. Từ những kết quả nghiên cứu trên có thể đưa ra một số kết luận như sau:

Trong giai đoạn 2009 – 2014 xu hướng mất cân bằng giới tính khi sinh đang manh nha, tuy nhiên về mức độ và bản chất xu hướng này vẫn chưa thực sự rõ ràng qua phân tích diễn biến tỷ số giới tính khi sinh qua các năm, các vùng, các nhóm kinh tế - xã hội, độ tuổi và thứ tự các lần sinh. Tuy nhiên, qua phân tích các số liệu tỷ số giới tính khi sinh giai đoạn 2009 – 2014 ta thấy SRB tăng nhanh, tỷ trọng bé trai sinh ra cao hơn rất nhiều so với bé nữ.

Tỷ số giới tính khi sinh có sự khác biệt rõ rệt qua các năm, vùng, khu vực, nhóm kinh tế - xã hội, độ tuổi, thứ tự các lần sinh. Tỷ số giới tính tăng nhanh từ khu vực thành thị có tỷ số giới tính khi sinh cao hơn so với khu vực nông thôn, cụ thể ở Đồng bằng Sông Hồng có tỷ số giới tính khi sinh cao so với các vùng khác trong cả nước. Mặt khác, ở lần sinh thứ ba có tỷ số lựa chọn giới tính khi sinh chiếm tỷ trọng cao, điều này cho thấy có sự lựa chọn giới tính khi sinh ở lần sinh thứ ba.

Xu hướng mất cân bằng giới tính khi sinh những năm trở lại trở nên phổ biến hơn, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong nghiên cứu này đã chỉ ra một số nguyên nhân chính như: Do công nghệ mới, việc lựa chọn giới tính thai nhi ngày càng trở nên phổ biến hơn, do chính sách pháp luật/nhà nước, đặc biệt nền văn hóa nước ta mang nặng khuôn mẫu Nho giáo cho nên chú trọng biểu tượng kinh tế con trai nên nhiều gia đình đã lựa chọn sinh con trai.

Với những phân tích như trên về tỷ số giới tính khi sinh ở nước ta giai đoạn năm 2001 – 2011 cho ta thấy thực trạng ở nước ta đã và đang tồn tại xu hướng mất cân bằng giới tính khi sinh, xu hướng này đã manh nha từ lâu song những năm trở lại đây xu hướng này ngày càng trở nên rõ rệt hơn, bởi sự can thiệp ngày càng sâu của các phương tiện khoa học kĩ thuật về việc lựa chọn giới tính thai nhi. Đây là một vấn đề cần sự quan tâm của xã hội. Tuy nhiên trong phạm vi của báo cáo này tôi mạnh dạn đưa ra một số khuyến nghị như sau: 

Với tư tưởng ưa thích con trai đã tồn tại lâu đời trong nhiều gia đình, điều này rất khó thay đổi trong thời gian ngắn được, cho nên mỗi gia đình cần thay đổi được nhận thức về giới tính của con cái.

Vợ chồng cần thường xuyên tham gia các buổi họp, tập huấn, các buổi học tìm hiểu về kiến thức sức khỏe sinh sản, bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức của vợ chồng về con cái.

Đặc biệt, trong công tác truyền thông, tuyên truyền vận động trực tiếp thông qua đội ngũ cộng tác viên, tuyên truyền theo phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng”, phương châm này một phần nào đó sẽ tạo ra sự chuyển biến về nhận thức và thay đổi được hành vi của các cặp vợ chồng muốn sinh con trai.

Để sinh con theo ý muốn nhiều cặp vợ chồng đã tìm đến khoa học và công nghệ để xác định giới tính thai nhi, nạo phá thai…Để tránh tình trạng này vợ chồng cần thay đổi nhận thức về giá trị của con cái nhằm tránh tình trạng lựa chọn giới tính cho con.

Tài liệu tham khảo

1.             Cấu trúc tuổi – giới tính và tình trạng hôn nhân của dân số Việt Nam” Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009,(2011), tr 53 – 54

2.             Tổng cục Thống kê (2015), Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ thời điểm 1/4/2014: Các kết quả chủ yếu

3.             Tổng cục thống kê (2013), Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình thời điểm 1/4/2013: Các kết quả chủ yếu

4.             UNFPA, Những biến đổi gần đây về tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam: Tổngquan các bằng chứng, Hà Nội 8/2009

5.             UNFPA, Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam: Bằng chứng từ Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2009, (08/2010), tr 21

 



[1]“Cấu trúc tuổi – giới tính và tình trạng hôn nhân của dân số Việt Nam” Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009,(2011), tr 53 – 54.