Dân số – Yếu tốt quan trọng hàng đầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

22/01/2019 10:53 Số lượt xem: 80

 Một khi đã xác định rõ vai trò của công tác dân số trong tình hình mới của đời sống xã hội, Đảng ta đã và đang thường xuyên quan tâm đến công tác dân số, coi công tác dân số là một trong những bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển toàn diện đất nước;

              Là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu; là yếu tố cơ bản để góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người và toàn xã hội.Trên thực tế, dân số ổn định, thì phát triển kinh tế xã hội bền vững, đảm bảo chất lượng cuộc sống tốt cho cộng đồng.Dân số và phát triển tác động qua lại chặt chẽ với nhau. Bước tiến của lĩnh vực này thúc đẩy, tạo thuận lợi cho lĩnh vực kia. Giải quyết tốt dân số nhưng kinh tế xã hội không phát triển thì chất lượng cuộc sống cũng không được đảm bảo.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đặt ra yêu cầu: “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách dân số… Thực hiện tốt Chiến lược dân số…, đầu tư nâng cao chất lượng dân số, chỉ số phát triển con người, bảo đảm tổng tỷ suất sinh thay thế, giảm dần sự mất cân bằng tỷ lệ giới tính khi sinh và đảm bảo quyền trẻ em”[1]. Nhờ có những chủ trương đúng đắn của Đảng, dân số nước ta đã đạt được  bước phát triển đáng ghi nhận.

Đánh giá kết quả đạt được sau 25 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành Trung ương khóa VII và các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác dân số và phát triển (DS&PT), Hội nghị Trung ương lần thứ 6 khóa XII nhận định: Công tác DS&PTđã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của nước nhà.

Trong đó, việckhống chế thành công tốc độ gia tăng dân số, đạt mức sinh thay thế sớm hơn 10 năm so với mục tiêu Nghị quyết đề ra và tiếp tục duy trì cho đến nay; cơ cấu dân số chuyển dịch tích cực,dân số trong độ tuổi lao động tăng mạnh. Từ năm 2007, nước ta bước vào thời kỳ dân số vàng với nhiều mặt chất lượng được cải thiện,làmcho tầm vóc, thể lực người Việt Nam dần được tăng lên, tuổi thọ trung bình tăng nhanh, năm 2016đạt 73,4 tuổi, cao hơn nhiều nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người. Phân bố dân số đã có sự hợp lý hơn, gắn với quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh…

Tuy nhiên, đánh giá khách quan, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Khóa 12 cũng đã chỉ rõ: Công tác DS&PTvẫn còn nhiều hạn chế ảnh hưởng đến chất lượng dân số. Mức sinh giữa các vùng còn chênh lệch đáng kể. Mất cân bằng giới tính khi sinh tăng nhanh, đã và đang ở mức nghiêm trọng. Chưa có giải pháp đồng bộ phát huy lợi thế của thời kỳ dân số vàng và thích ứng với già hóa dân số. Chỉ số phát triển con người Việt Nam (HDI) còn thấp;tỷ lệ suy dinh dưỡng, tử vong bà mẹ, trẻ em còn cao;tầm vóc, thể lực của người Việt Nam chậm được cải thiện. Tuổi thọ bình quân tăng nhưng số năm sống khỏe mạnh thấp so với nhiều nước.Phân bố dân số, quản lý nhập cư, di dân còn nhiều bất cập.Việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người di cư và ở nhiều đô thị, khu công nghiệp còn nhiều hạn chế.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nêu trên là do công tác truyền thông, giáo dục về dân số ở một số khu vực, nhóm đối tượng đíchchưa đem lại hiệu quả thiết thực.Trong đó, nội dung truyền thông, cung cấp dịch vụ chưa toàn diện, làm cho một số cấp ủy, chính quyềnchưa nhận thức đúng và đầy đủ về tính chất lâu dài, khó khăn, phức tạp, tầm quan trọng và ý nghĩa của công tác DS&PT.Do đó,việc lãnh đạo, chỉ đạo thiếu quyết liệt, kém hiệu quả. Đội ngũ cán bộ làm công tác dân số còn nặng về kế hoạch hóa gia đình, chưa chú trọng các mặt cơ cấu, phân bố, chất lượng dân số và tác động qua lại với phát triển.Vai trò nhà trường với công tác DSchưa thực sự được phát huy.Bên cạnh đó, là một số cơ chế, chính sách về dân số chậm đổi mới, tổ chức bộ máy thiếu ổn định, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ làm công tác DS&PTở cấp cơ sở còn thấp;chức năng, nhiệm vụ chưa được điều chỉnh phù hợp với diễn biến tình hình dân số;các nội dung về dân số trong phát triển kinh tế - xã hội còn chưa được chú trọng đúng mức. Nguồn lực đầu tư cho DS&PT còn thấp, chưa tương xứng với yêu cầu.

Xuất phát từ thực trạng trên, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Khóa 12 xác định rõ hơn quan điểm chỉ đạo: Dân số là yếu tố quan trọng hàng đầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác dân số và phát triển là nhiệm vụ chiến lược, vừa cấp thiết vừa lâu dài; là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân.

Điểm mới trong quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết lần này được thể hiện ở một số nội dung: Tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ KHHGĐ sang “dân số và phát triển”. Theo đó, công tác dân số chú trọng toàn diện hơn các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt là chất lượng dân số đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững. Chính sách dân số phải bảo đảm cân bằng, hài hòa giữa quyền và nghĩa vụ của mọi người dân; giữa việc tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi với thực thi nghiêm kỷ cương pháp luật; giữa việc mở rộng, ứng dụng các kỹ thuật mới với việc nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân.Đầu tư cho công tác dân số là đầu tư cho phát triển.Nhà nước ưu tiên bố trí ngân sách, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa; tranh thủ sự hỗ trợ của quốc tế để bảo đảm nguồn lực cho công tác dân số. Tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với trọng tâm công tác dân số trong từng thời kỳ, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của cấp ủy, chính quyền các cấp và sự quản lý chuyên môn, nghiệp vụ.

Với những quan điểm nêu trên, Trung ương đã đề ra mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể trong công tác dân số đến năm 2030[2]. Trong đó nhấn mạnh: Giải quyết toàn diện, đồng bộ các vấn đề về quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội. Duy trì vững chắc mức sinh thay thế; đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên; tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng, thích ứng với già hóa dân số; phân bố dân số hợp lý; nâng cao chất lượng dân số, góp phần phát triển đất nước nhanh, bền vững. Để thực hiện tốt các mục tiêu đề ra, Trung ương đã đưa ra những giải pháp và nhiệm vụ cơ bản mang tính khả thi cao, đó là:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấpvề công tác dân số, tạo nên sự thống nhất trong nhận thức của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân về tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách từ tập trung vào KHHGĐ sang giải quyết toàn diện các vấn đề quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng dân số trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.Công tác dân số, đặc biệt là nâng cao chất lượng dân số phải được coi là một nội dung trọng tâm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp.Thực hiện lồng ghép có hiệu quả các yếu tố dân số trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của cả nước, của từng ngành, từng địa phương. Phát huy tối đa lợi thế dân số vàng, thích ứng với già hóa dân số… Đề cao tính tiên phong, gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện chủ trương, chính sách về công tác dân số.

Hai là, tăng cường đổi mới nội dung, nâng cao hiệu quả tuyên truyền, giáo dục,vận động về công tác dân số, chú trọng tuyên truyền, giáo dục chính sách dân số và phát triển. Tiếp tục thực hiện cuộc vận động mỗi cặp vợ chồng nên có 2 con, bảo đảm quyền và trách nhiệm trong việc sinh con và nuôi dạy con tốt; duy trì kết quả ở những nơi đã đạt mức sinh thay thế; sinh đủ 2 con ở những nơi có mức sinh thấp; đẩy mạnh truyền thông giáo dục chuyển đổi hành vi nhằm giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh. Tạo chuyển biến rõ nét ở những vùng có tỷ số giới tính khi sinh cao.Đẩy mạnh công tác  truyền thông các hoạt động văn - thể - mỹ, nâng cao sức khỏe, tầm vóc, thể lực người Việt Nam. Nâng cao nhận thức, thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về cư trú, về cấm tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống.Đổi mới toàn diện nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản trong và ngoài nhà trường.Hình thành kiến thức và kỹ năng về dân số, sức khỏe sinh sản đúng đắn, có hệ thống ở thế hệ trẻ.

Ba là, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về dân số gắn với xây dựng gia đình hạnh phúc. Rà soát, điều chỉnh hoặc bãi bỏ một số quy định về xử lý vi phạm trong công tác dân số; đồng thời đề cao tính gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện chính sách dân số, xây dựng hương ước và quy ước trong các gia đình và là tiêu chi để xét các gia đình văn hóa, hạnh phúc. Nâng cao hiệu lực pháp lý trong quản lý và tổ chức thực hiện, bảo đảm đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người dân, triển khai toàn diện các nội dung của công tác dân số. Rà soát, bổ sung các quy định của pháp luật về nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi. Ngăn ngừa có hiệu quả việc lạm dụng khoa học - công nghệ để lựa chọn giới tính thai nhi… Ban hành Chiến lược dân số trong tình hình mới. Phát huy tối đa lợi thế cơ cấu dân số vàng, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển đất nước nhanh, bền vững và thích ứng với già hóa dân số.Rà soát, nâng cao chất lượng quy hoạch các đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, chủ động chuẩn bị các điều kiện để dân cư được phân bố tương ứng, phù hợp với sự phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng của từng vùng và trong chiến lược tổng thể xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Có chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho người di cư được tiếp cận đầy đủ và công bằng với các dịch vụ xã hội cơ bản; hỗ trợ thỏa đáng để thu hút, tạo điều kiện cho người dân sinh sống ổn định, lâu dài ở các khu vực khó khăn, trọng yếu về an ninh, quốc phòng. Thực hiện có hiệu quả chính sách bảo vệ và phát triển các dân tộc thiểu số, đặc biệt là các dân tộc thiểu số rất ít người.

Bốn là, phát triển mạng lưới và nâng cao chất lượng dịch vụ về dân số (toàn diện về quy mô, cơ cấu, chất lượng và phân bố dân số).Tiếp tục củng cố mạng lưới dịch vụ KHHGĐ.Phát triển mạng lưới cung cấp các dịch vụ tầm soát, chẩn đoán sớm bệnh tật trước sinh, sơ sinh, hỗ trợ sinh sản, tư vấn kiểm tra sức khỏe sinh sản trước hôn nhân. Tăng cường kết nối, hợp tác với các cơ sở cung cấp dịch vụ ngoài công lập. Đổi mới phương thức cung cấp, đưa dịch vụ tới tận người sử dụng; thúc đẩy cung cấp dịch vụ qua mạng.Sắp xếp lại hệ thống các cơ sở bảo trợ xã hội công lập theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa, tạo lập môi trường thân thiện, hòa nhập giữa các nhóm đối tượng và với xã hội…

Ưu tiên đầu tư nguồn lực nhà nước, đồng thời huy động nguồn lực xã hội phát triển các cơ sở cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản bảo đảm các nhóm dân số đặc thù như trẻ em, người khuyết tật, người bị di chứng chiến tranh, người cao tuổi, đồng bào dân tộc ít người, người di cư… đều thực sự bình đẳng về cơ hội tham gia, thụ hưởng thành quả phát triển.Đẩy mạnh nghiên cứu về dân số và phát triển, nhất là các vấn đề mới, trọng tâm về cơ cấu, chất lượng, phân bố dân số và lồng ghép yếu tố dân số vào kế hoạch phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực. Tăng cường hợp tác giữa các cơ sở nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước, phát triển mạng lưới nghiên cứu về dân số và phát triển.

Năm là, bảo đảm nguồn lực cho công tác dân số đáp ứng yêu cầu triển khai toàn diện công tác dân số. Ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước cho công tác dân số, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe, giáo dục, đào tạo, văn hóa, thể thao... nhằm nâng cao chất lượng dân số, đời sống mọi mặt của nhân dân, nhất là đối tượng chính sách, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo.Đẩy mạnh xã hội hóa, có chính sách khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất, phân phối, cung cấp các phương tiện, dịch vụ trong lĩnh vực dân số.Phát triển thị trường, đa dạng hóa các gói bảo hiểm, bao gồm bảo hiểm nhà nước, bảo hiểm thương mại với nhiều mệnh giá tương ứng các gói dịch vụ khác nhau để các nhóm dân số đặc thù đều bình đẳng trong việc tham gia và thụ hưởng các dịch vụ phúc lợi, an sinh xã hội.

Sáu là, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ dân số theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, hiệu quả; bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, đồng thời thực hiện quản lý chuyên môn thống nhất. Có chính sách đãi ngộ thỏa đáng, nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ cộng tác viên ở thôn, bản, tổ dân phố...Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, thực hiện chuẩn hóa đội ngũ cán bộ dân số các cấp, các ngành đáp ứng yêu cầu chuyển hướng sang chính sách dân số và phát triển. Đưa nội dung dân số và phát triển vào chương trình đào tạo, tập huấn, nghiên cứu khoa học.Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành nhằm tăng cường chỉ đạo, điều phối hoạt động của các ngành, cơ quan có chức năng quản lý các lĩnh vực liên quan tới dân số và phát triển.Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, cung cấp dịch vụ, tạo thuận lợi cho người dân...

Bảy là,tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dân số.Tích cực tham gia các tổ chức, diễn đàn đa phương, song phương về dân số và phát triển.Tranh thủ sự đồng thuận, hỗ trợ về tài chính, tri thức, kinh nghiệm và kỹ thuật của các nước, các tổ chức quốc tế.Tập trung nguồn lực để thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc về dân số.

Để thực hiện tốt các giải pháp, nhiệm vụ Nghị quyết 21/NQ-TW của Ban Chấp hành TW ký ngày 25/10/2017 đề ra, cùng với sự nỗ lực của ngành dân số, cần có sự tham gia tích cực của toàn hệ thống chính trị và của toàn dân, trong đó vai trò của các cấp ủy, các tổ chức đoàn thể và sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên là hết sức quan trọng. Các tỉnh ủy, thành ủy, các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương đã và đang triển khai quán triệt nội dung Nghị quyết, xây dựng kế hoạch với các nhiệm vụ, giải pháp, lộ trình cụ thể, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, vùng miền, tạo thành phong trào rộng lớn trong nhân dân, mới có thể đưa Nghị quyết vào cuốc sống có hiệu quả./.

BS. MAI XUÂN PHƯƠNG



[1]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, H, 2016, tr. 138

[2]Đến năm 2030,duy trì vững chắc mức sinh thay thế (bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 2,1 con), quy mô dân số 104 triệu người.Giảm 50% chênh lệch mức sinh giữa vác vùng miền;…tỷ số giới tính khi sinh dưới 109 bé trai/100 bé gái sinh ra sống; trẻ em dưới 15 tuổi đạt khoảng 22%; người từ 65 tuổi trở lên đạt khoảng 11%; tỷ lệ phụ thuộc chung đạt khoảng 49%; … 70% phụ nữ mang thai được tầm soát ít nhất 4 loại bệnh tật bẩm sinh phổ biến nhất; 90% trẻ sơ sinh được tầm soát ít nhất 5 bệnh bẩm sinh phổ biến nhất. Tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi; 100% người cao tuổi có thẻ bảo hiểm y tế;... chỉ số Phát triển con người (HDI) nằm trong nhóm 4 nước hàng đầu khu vực Đông Nam Á… 100% dân số được đăng ký, quản lý trong hệ thống cơ sở dữ liệu dân cư thống nhất trên quy mô toànquốc.