BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ CHƯƠNG TRÌNH DÂN SỐ

VÀ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH TỈNH PHÚC KIẾN – TRUNG QUỐC

                                                        TS.DƯƠNG QUỐC  TRỌNG, TS.NGUYỄN QUỐC ANH

Trong thực hiện công tác DS-KHHGĐ, việc kế thừa, học tập những bài học kinh nghiệm của cả trong và ngoài nước là rất quan trọng, giúp chúng ta rút ngắn được thời gian thực hiện công tác này. Công tác DS-KHHGĐ là một lĩnh vực xã hội đa ngành, chịu ảnh hưởng mạnh bởi các yếu tố xã hội, văn hóa truyền thống, phong tục tập quán. Trong phạm vi bài này chúng tôi xin giới thiệu một số bài học kinh nghiệm thành công của công tác DS-KHHGĐ tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc) là tỉnh có nhiều phong tục tập quán, văn hóa truyền thống rất giống với các phong tục tập quán ở Việt Nam.       

Phúc Kiến là tỉnh nghèo trước đây. Trước 1990 công tác dân số Phúc Kiến xếp thứ 33/33 tỉnh, thành phố của Trung Quốc. Dân số Phúc Kiến là 35,8 triệu người, gồm 55 nhóm dân tộc. Diện tích 121.400 km2 chủ yếu là núi, theo đặc điểm “Bát sơn, nhất thuỷ, nhất phần điền”. Từ năm 1995 công tác DS-KHHGĐ đã có tiến bộ và thuộc vào loại khá. Đặc biệt 10 năm trở lại đây Phúc Kiến đó phát triển rất nhanh và thuộc vào loại trung bình khá và từ tỉnh nghèo tiến lên đứng hàng đầu trong các tỉnh ven biển của Trung Quốc. Tỉnh Phúc Kiến có 88 huyện, thị; 5 huyện có trên 1 triệu dân và một số thành phố trực thuộc. Tỉnh đã xác định tầm quan trọng của mối quan hệ chặt chẽ giữa phát triển kinh tế và dân số do vậy đó quyết tâm thực hiện tốt công tác KHHGĐ, theo phương châm "Khống chế dân số; Nâng cao chất lượng; Tối ưu hoá cơ cấu; Sức khoẻ sinh sản". Bí thư tỉnh uỷ trực tiếp chịu trách nhiệm chỉ đạo thực hiện công tác DS-KHHGĐ. Ở các cấp các bí thư hoặc phó bí thư đảng uỷ đều trực tiếp chỉ đạo công tác DS-KHHGĐ. Nếu ở đơn vị nào không thực hiện tốt công tác DS-KHHGĐ Bí thư đảng uỷ phải chịu trách nhiệm trực tiếp. Kinh phí đầu tư cho sinh đẻ kế hoạch (SĐKH): Từ 2001, đầu tư tăng cho công tác DS-KHHGĐ và đã đạt mức gần 10 NDT/người (tương đương khoảng 1,5 USD/người). Tăng lớn 11,5 NDT/người do chính quyền khu cấp; đưa vào kế hoạch hàng năm của khu. Các cán bộ làm công tác DS-KHHGĐ ở các cấp đều được hưởng chế độ là cán bộ công chức nhà nước. Đối với thôn khó khăn, có kinh phí hỗ trợ của xã, khu giúp đỡ cho cộng tác viên DS. Huy động các ngành như nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp giúp đỡ. Giúp nhau làm kinh tế gia đình. Cho vay vốn phát triển sản xuất. Theo số liệu công bố năm 2009, Dân số của tỉnh Phúc Kiến là 35,8 triệu người. Tỷ lệ sinh 5,92 phần ngàn; Tỷ lệ chết dưới 5 phần ngàn; Tổng tỷ suất sinh là 1,5 con; Tuổi thọ bình quân 72,55 tuổi, trong đó nam là 70,3 và nữ là 75,07 tuổi. Tỷ lệ giới tính khi sinh năm 2005 là 120,0.

Thực hiện chính sách DS-KHHGĐ     

1. Công tác Truyền thông - Giáo dục DS -KHHGĐ

Điều hành phối hợp thực hiện công tác DS-KHHGĐ, các ngành trong tỉnh đều tham gia công tác DS-KHHGĐ (11 ngành thành viên); Xây dựng phong trào nếp sống mới và thực hiện tốt KHHGĐ. Tổ chức học luật KHHGĐ (sinh đẻ có kế hoạch). Hội đồng nhân dân ban hành điều lệ hướng dẫn thực hiện, trong đó có các qui định khen thưởng, xử phạt. Ban hành 7 điều cấm, trong thôn có trường hợp vi phạm thì bí thư phải chịu trách nhiệm. Luật nuôi dưỡng, bảo trợ người cao tuổi do UBND xã chỉ đạo, người dân cam kết thực hiện. Tổ chức lồng ghép giữa tuyên truyền và dịch vụ. Kiểm tra gen di truyền, khám thai miễn phí. Các chính sách sinh 1 con có ưu đãi khuyến khích về nhà ở, khám chữa bệnh, học tập, vay vốn phát triển kinh tế, ưu tiên việc làm, v. v… Các Hiệp hội SĐKH có tổ chức đến tận thôn xã. Công tác Truyền thông-Giáo dục đã tạo sự chuyển biến đến hành động về sinh đẻ kế hoạch của toàn dân.

Thực hiện công tác có Vụ Truyền thông-Giáo dục thực hiện nhiệm vụ quản lý và tạp chí là đơn vị sự nghiệp sản xuất với nhiệm vụ: Nghiên cứu lý luận dân số; tuyên truyền trên các phương tiện thông tin; giáo dục pháp luật và kiến thức khoa học; sản xuất các sản phẩm truyền thông. Vụ và Tạp chí có quan hệ hỗ trợ nhau về nghiệp vụ. Ưu tiên tập trung tuyên truyền cho ngư dân, tôn giáo, có các chính sách như khuyến khích ngư dân định cư trên bờ, những người dân sống trên mặt biển giao cho đội lưu động. Đánh giá hàng năm về sử dụng sản phẩm truyền thông, lấy ý kiến nhân dân. Tổ chức điều tra chọn mẫu để đánh giá hiệu quả sử dụng các sản phẩm truyền thông. Có sản xuất sản phẩm truyền thông bằng tiếng dân tộc. Qua đánh giá cho thấy, nhân dân dễ chấp nhận nhất là truyền thông qua các tiết mục văn nghệ. Tivi phát chuyên đề tháng/2 kỳ/15 phút/chương trình (Cấp tỉnh tuần phát/2 lần; TW tuần/lần).

2. Dịch vụ KHHGĐ

Mạng lưới tổ chức đến tận thôn. Chức năng: Quản lý các công việc như: Cấp giấy phép hành nghề về sinh đẻ kế hoạch; cấp chứng nhận chuyên môn, cấp bằng đào tạo; quản lý trang thiết bị về SĐKH; xây dựng các quy chế, tiêu chuẩn dịch vụ SĐKH; giám định các tai biến, phản ứng phụ do sử dụng biện pháp tránh thai (BPTT); giám định dị tật bẩm sinh, khuyết tật; quản lý thuốc và BPTT; lập kế hoạch nghiên cứu  cho Uỷ ban và các ngành liên quan; đào tạo cán bộ SĐKH. Nội dung hoạt động: Dịnh vụ SĐKH (lâm sàng); tư vấn về SĐKH; kiểm tra các bệnh phụ khoa và chữa bệnh; tuyên truyền phòng tránh khuyết tật bẩm sinh; quản lý và phân phát BPTT; đào tạo. Mọi dịch vụ đều miễn phí, nguồn do ngân sách Nhà nước đảm bảo. Cán bộ thuộc khối sự nghiệp có kinh phí ngân sách Nhà nước cấp, đào tạo xây dựng quy hoạch đào tạo và mở lớp theo các hợp đồng với các cơ quan chuyên môn (các trường, viện). Trường bồi dưỡng cán bộ SĐKH.

Kinh nghiệm: Chỉ đạo chặt chẽ theo luật pháp đã ban hành. Đánh giá, thẩm định chặt chẽ. Tận tình phục vụ các đối tượng. Thí dụ lựa chọn BPTT phải cụ thể và phù hợp với đối tượng. Phải có bằng cấp mới được hành nghề. Theo dõi, khám định kỳ. Trách nhiệm chung phối hợp giữa UBDS và Bộ y tế. Xây dựng Trung tâm dịch vụ ở các xã không có bệnh viện. Chính sách khuyến khích: Đình sản-thưởng 500 tệ; tiền bồi dưỡng thực hiện dịch vụ; nghỉ phép, có phụ cấp, chia đất xây nhà, đất canh tác. Trường đào tạo cán bộ SĐKH: Xây dựng từ 1985, nhà 6 tầng, có quan hệ về nghiệp vụ với Trung tâm đào tạo ở TW, phân cấp đào tạo theo chức danh cán bộ. Đào tạo cán bộ, kinh phí do Nhà nước cấp.

3. Công tác Thông tin và Tin học hoá

Thông tin quản lý: Trang bị máy tính cho toàn bộ cơ sở, sử dụng phần mềm, có cán bộ chuyên trách máy tính, tiến hành đào tạo sử dụng; hàng tháng có báo cáo về số cấp phát BPTT, số phụ nữ bị thất bại KHHGĐ, số phụ nữ sắp sinh, số phụ nữ đăng ký đẻ 1 con, danh sách phụ nữ đặt vòng dưới 1 năm. Cấp thôn có cán bộ thôn làm SĐKH; cán bộ Đảng tham gia, hưởng lương theo chế độ cán bộ xã, thị trấn; thôn do thôn trả phụ cấp. Thôn theo chế độ tự quản, bầu và tự đóng góp kinh phí.

Tin học hoá: Từ 2004, Trung quốc triển khai hệ thống đăng ký dân số trên toàn quốc. Kiểm tra gen di truyền vô sinh, quản lý hồ sơ trên máy tính và cấp thẻ cá nhân để có thể cập nhật và nhận lại hồ sơ, thông tin cá nhân. 80% hồ sơ công việc quản lý trên máy vi tính. 80% thôn, xã có máy vi tính. Quản lý dân số và BPTT quản lý trên máy tính và nối mạng toàn tỉnh, kết nối với TW.

 4. Cải cách nhân sự ngành DS-KHHGĐ ở tỉnh Phúc Kiến.

Cơ chế: Tuyển chọn cán bộ (tỷ lệ chọn 1/11); Hàng năm tổ chức kiểm tra, sát hạch để đánh giá phân loại cán bộ, chia bốn loại: Ưu tú, đạt, cơ bản đạt, không đạt yêu cầu.

Chế độ: Ưu tú 2 năm liền được nâng lương; Đạt được thưởng lương tháng thứ 13; Cơ bản đạt-phải khắc phục các mặt yếu sau một năm và nếu tiếp tục thì chuyển xuống mức không đạt và xem xét cho thôi việc. Không đạt yêu cầu- cho lưu lại một năm để đánh giá lại, nếu không tiến bộ cho thôi việc. Các cán bộ lãnh đạo 5 năm/nhiệm kỳ. Có quyền ứng cử các vị trí lãnh đạo khác. Cán bộ lãnh đạo-5 năm đào tạo lại 1 lần. Thủ trưởng được toàn quyền chọn nhân viên. Khi sát hạch lại nếu không đạt yêu cầu chuyển sang dạng chờ công tác khác.

Về  tổ chức: Trong xu hướng cải cách, tinh giảm biên chế nhưng ngành DS-KHHGĐ có bộ máy 5 cấp đến tận thôn, hiện nay không có ngành nào có bộ máy 5 cấp như ngành dân số.

Chức năng, nhiệm vụ: Tổ chức thực hiện quản lý ngang giữa các vụ; tuyển dụng, tổ chức thi tuyển, cử cán bộ cho các vụ; khảo sát, đánh giá kết quả công tác; tiền lương, phúc lợi, bảo hiểm;  xây dựng quy hoạch đào tạo cán bộ; chế độ cho cán bộ nghỉ hưu; quy hoạch cán bộ cho cấp huyện, thị, hướng dẫn thực hiện; kinh phí đào tạo do Nhà nước cấp.

Đánh giá cán bộ hàng năm theo 5 tiêu chí: Đức, năng, cần, liêm, tính. Trước đây do thủ trưởng đánh giá, nay tổ chức bỏ phiếu kín. 4 bậc: ưu tú, đạt yêu cầu, cơ bản đạt, kém. Ưu tú: 15% (phải báo cáo thành tích cá nhân), các loại khác không quy định tỷ lệ. Bỏ phiếu nội bộ phòng (ít nhất phải đạt quá 1/3 số phiếu). Tăng lương theo đề bạt, tăng lương theo định kỳ 2 năm/lần/đạt yêu cầu. Đang có chương trình tăng lương hàng năm (sử dụng nguồn chống lãng phí nhưng chưa thực hiện được trên toàn quốc). Tuyển dụng biên chế quản lý hành chính tổ chức khác sự nghiệp biên chế hành chính, đăng báo công khai. Biên chế sự nghiệp có thể ± 30%. Thu thuế thu nhập từ 1000 tệ trở lên. Đào tạo dân số và cấp bằng theo loại cán bộ. Đào tạo cán bộ quản lý DS-SĐKH.

5. Nghiên cứu khoa học và đào tạo 

Chức năng: Lập kế hoạch; nghiên cứu khoa học DS-SĐKH; đào tạo.

Nội dung:

1. Thí nghiệm nghiên cứu DS-SĐKH trên động vật giống người. Chủ yếu thí nghiệm trên khỉ. Thử nghiệm các loại thuốc trước khi sử dụng trên người.

2. Trung tâm dịch vụ và kế toán. Các biện pháp tránh thai và bệnh phụ khoa. Tư vấn chọn lựa BPTT. Chăm sóc SKSS, phòng tránh các bệnh lây lan qua đường tình dục. Ưu sinh: Chất lượng dân số tránh khuyết tật ngăn ngừa trước khi sinh; chương trình muối iốt, thuốc CSSKBMTE; nâng cao thể chất của bà mẹ; nghiên cứu sinh đẻ; nghiên cứu sinh học và gen di truyền. Giám định gen di truyền chuyển từ Bộ Tư Pháp sang ngành dân số (trở thành chức trách và có chức năng pháp lý).

3. Đào tạo: Hướng dẫn các biện pháp TT mới (thí dụ, thuốc tránh thai khẩn cấp có tác dụng trong vòng 49 ngày, liều 3 viên/3 ngày sau đó đến khám lại, do Trung Quốc sản xuất). Thuốc cấy tránh thai tác dụng 3 tháng; đặt vòng; đào tạo chuẩn đoán vô sinh theo phương pháp của WHO; nghiên cứu tránh ung thư tử cung, chẩn đoán, phát hiện sớm; hình thức đào tạo phối hợp trường đào tạo cán bộ quản lý của tỉnh; giảng viên của đơn vị và các viện ở các trường đại học. Những BPTT được nghiên cứu và do Cục giám sát dược phẩm quốc gia thẩm định trước khi cho phép sử dụng. Nghiên cứu các BPTT, thử nghiệm lâm sàng do Viện nghiên cứu tiến hành theo các nhiệm vụ của Nhà nước giao.

Trung Quốc tiến hành chương trình CLDS và chức năng chính là thuộc Bộ Y Tế, UB là cơ quan phối hợp. Tổ chức điều tra trẻ em thiểu năng trí tuệ và thiểu năng tuyến giáp trạng.

6. Chương trình nâng cao chất lượng dân số

Chương trình cộng đồng: Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, trong thời gian có thai; chương trình muối iốt; chương trình huyết hồng tố áp dụng trong dầu ăn hàng ngày (huyết hồng tố chiết xuất từ máu động vật). Các chương trình phối hợp Bộ Y tế. Chương trình nghiên cứu để tránh và điều trị các dị tật cho trẻ em ở lứa tuổi trước khi trưởng thành. Các kết quả nghiên cứu giới thiệu ở các tạp chí nghiên cứu khoa học chung, không xuất bản tạp chí riêng.

Trung tâm điều tra các trẻ sơ sinh khuyết tật, phân tích kết quả và hoạch định hướng điều trị. Viện khoa học chỉ hướng dẫn, đào tạo về tư vấn cho cán bộ các cấp. Chức năng đánh giá thuộc cơ quan cấp trên chủ yếu là cơ quan TW, ở các tỉnh thực hiện theo kế hoạch chung của TW.

7. Mất cân bằng giới tính khi sinh

Do đặc điểm phong tục tập quán dân số sống thuộc miền núi và ven biển làm nghề đánh cá, tuy đã thực hiện tốt chỉ tiêu giảm sinh nhưng tình hình mất cân bằng giới tính còn cao hơn trung bình của cả nước.

Thực trạng tỷ số mất cân bằng giới tính khi sinh

Năm

Phúc kiến

Trung Quốc

1981

108,64

108,48

1987

110,81

110,95

1989

110,63

111,92

2000

117,93

116,86

2005

122,00

120,40

 

Những nguyên nhân chính.

1. Nguyên nhân cơ bản.

- Phong tục tập quán  Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”;

- Con trai mới là người nối dõi dòng họ, mới được vào nơi thờ tự.

- Những người sinh con một bề là con gái không được vào nơi thờ tự, không có địa vị trong xã hội.

2. Nguyên nhân phụ trợ

- Quan niệm chỉ con trai mới chăm sóc cha mẹ khi về già.

- Chưa có chính sách ưu tiên cụ thể đối với nữ giới.

- Mức sinh thấp kéo dài, gia đình ít con.

- Nhiều ngành nghề ở địa phương đòi hỏi lao động là nam giới.

3. Nguyên nhân trực tiếp

- Chuẩn đoán giới tính thai nhi bất hợp pháp, đặc biệt là siêu âm chuẩn đoán giới tính thai nhi.

- Loại bỏ thai nhi vì lý do giới tính.

- Ngược đãi, ruồng bỏ trẻ sơ sinh gái.

Năm giải pháp hạn chế mất cân bằng giới tính khi sinh

- Giải pháp về lãnh đạo và tổ chức

- Giải pháp về tuyên truyền giáo dục

- Giải pháp cung cấp dịch vụ chu đáo và tổng hợp.

- Chính sách quan tâm tới những gia đình chỉ có 1-2 con gái.

+ Làm giàu: Ưu tiên vay vốn, phát triển kinh tế, ưu tiên mua các sản phẩm làm ra.

+ An cư : Ưu tiên vay tiền mua nhà, xây nhà, khi giải phóng mặt bằng được cộng thêm một suất đền bù; xây nhà cho những hộ chỉ có 1 hoặc 2 con gái.

    + Khuyến học, thành tài: Khi thi vào cấp III thì được cộng điểm ưu tiên, vào đại học thì được miễn học phí.

    + Đảm bảo an sinh: Được hưởng chế độ bảo hiểm y tế ưu đãi; cha mẹ sinh con gái được trợ cấp mỗi tháng 80 tệ/ người.

    + Bảo trợ, tình thương: Cán bộ công chức của địa phương từ cấp phó phòng trở lên phải có trách nhiệm giúp đỡ những gia đình chỉ có con gái ở vùng nông thôn bằng cách nhận các cháu đó làm con nuôi và trợ giúp cho các cháu.

     - Chính sách xử lý các hành vi vi phạm

     + Nếu siêu âm xác định giới tính thai nhi sẽ bị phạt tiền (khoảng 3000 tệ, tịch thu phương tiện, rút giấy phép hành nghề; nếu là viên chức nhà nước sẽ bị cắt chức, khai trừ. Vi phạm quá 3 lần sẽ bị khởi tố  hình sự.

+ Nạo thai vì các lý do giới tính, khi bị phát hiện thì người phụ nữ (ở nông thôn được sinh 2 con) bị phạt 5 năm sau mới được sinh con thứ hai.

+ Người thầy thuốc chỉ được thực hiện nạo thai với hai lý do, thứ nhất là lý do y tế liên quan đến sức khoẻ bà mẹ và thai nhi; thứ hai do vi phạm chính sách DS-KHHGĐ (có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền và chỉ được nạo thai dưới 14 tuần).      

+ Bốn cơ quan chịu trách nhiệm kiểm tra giám sát thực hiện là Dân số, Y Tế, Công An và Tổng cục dược và an toàn vệ sinh thực phẩm.

8. Một số mô hình dịch vụ KHHGĐ

a. Mô hình hướng dẫn chính sách SĐKH. Mô hình toàn thôn đẻ 1 con, điều kiện kinh tế tốt chăm sóc con cái người thực hiện tốt được ưu đãi giáo dục. Được hưởng trợ cấp gấp 1,8 lần so với người không chấp hành.

b. Mô hình quản lý nhân khẩu biến động. Khai báo, đăng ký, cam kết SĐKH với nơi ở; tổ chức tập huấn, hướng dẫn SĐKH cho dân lưu động; xây dựng trạm cung cấp dịch vụ KHHGĐ.

c. Phát huy vai trò của Chi bộ gương mẫu phát huy vai trò tuyên truyền, giám sát thực hiện vận động được nhiều người và phát huy được mạng lưới các cộng tác viên.

d. Giúp đỡ, kết hợp cùng nhau thực hiện SĐKH. Tiến hành ở vùng nghèo, mô hình một người có hoàn cảnh tốt giúp một người khó khăn  (một hộ giàu giúp một hộ nghèo).

e. Mô hình tự phục vụ. Cho các người lao động tự do, lưu động; nâng cao chất lượng dịch vụ; tư vấn hiểu biết cho đối tượng, nâng cao hiểu biết về chính sách, BVSK, SKSS, ít nhất phải biết 3 BPTT.

f. Mô hình dịch vụ tốt nhất cho SĐKH, BVSK. BVSK tiền hồn nhân, mở các lớp học trước khi sinh, giáo dục trong thời gian mang thai. Tuổi mang thai tốt nhất; tiến hành can thiệp tránh sinh trẻ khuyết tật (trước và trong thời gian mang thai), phối hợp với ngành y tế khám thai định kỳ; chăm sóc trong thời kỳ cho con bú; khám sức khoẻ trong vòng 42 ngày sau đẻ. Phục vụ chăm sóc sức khoẻ tiền mãn kinh; đưa dịch vụ y tế xuống nông thôn (kết hợp ngành y tế); phổ cập khám thai (đạt 80%) phát hiện 4650 ca có bệnh và đã tiến hành điều trị; đặt máy bán BPTT tự động (193 điểm); thực hiện toàn diện dịch vụ CSSK; đối với phụ nữ nghèo miền núi thực hiện SĐKH được cấp 15 NDT tiền ăn/ ngày; thúc đẩy các dịch vụ tuyên truyền về SĐKH.