ƯỚC TÍNH VÀ DỰ BÁO NHIỄM HIV/AIDS TẠI VIỆT NAM 2007-2012

1. Vào năm 2007, có 220.000 người nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam. Vào năm 2010, sẽ có 254.000 người nhiễm HIV/AIDS và con số này sẽ đạt 280.000 người vào năm 2012.

2. Tỷ lệ hiện nhiễm trong quần thể người Việt Nam vào năm 2010 là 0,29% và sẽ đạt tới 0,3% vào năm 2012. Tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm có độ tuổi từ 15 - 49 được ước tính sẽ vào khoảng 0,44% vào năm 2010 và 0,47% vào năm 2012. Tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm nam giới (15 - 49 tuổi) sẽ đạt tới 0,66% vào năm 2012, tỷ lệ này trong nhóm nữ giới cùng độ tuổi sẽ khoảng 0,27%.

3. Tỷ lệ mới nhiễm HIV ở quần thể người trưởng thành (15-49 tuổi) đạt mức cao nhất vào năm 2000 với 67 ca trên 100.000 dân. Tỷ lệ mới nhiễm sẽ giảm xuống 39 ca trên 100.000 dân vào năm 2007, có thể là một bằng chứng cho thấy hiệu quả các chương trình can thiệp đã và đang được triển khai.

4. Sẽ có khoảng 65.000 người nhiễm HIV/AIDS (trên 15 tuổi) cần được chăm sóc và điều trị toàn diện vào năm 2010.

5. Các chương trình chăm sóc điều trị đang được triển khai tại Việt Nam đang có những tác động tích cực. Nếu các chương trình này tiếp tục được mở rộng, và nếu 75% những người nhiễm HIV/AIDS có nhu cầu sẽ nhận được các dịch vụ chăm sóc và điều trị bằng thuốc kháng vi rút vào năm 2012, số lượng bệnh nhân tử vong hàng năm do AIDS sẽ giảm xuống xấp xỉ khoảng 10.600 người vào năm 2012.

6. Tuy nhiên, do điều trị HIV/AIDS là một quá trình điều trị lâu dài, với số lượng người nhiễm HIV cần chăm sóc tăng cao, nhu cầu về nguồn nhân lực và kinh phí dành cho điều trị HIV/AIDS sẽ tăng rất cao tại Việt Nam trong vòng 5 năm tới.

7. Tỷ xuất giữa nam giới và nữ giới nhiễm HIV tiếp tục giảm, ở mức 2,5 vào năm 2012, cho thấy có sự lan truyền HIV từ nhóm nghiện chích ma tuý (NCMT) và nhóm nam giới có quan hệ tình dục với phụ nữ mại dâm (PNMD) nhiễm HIV sang vợ hoặc bạn tình của họ. Nam giới vẫn tiếp tục chiếm tỷ lệ cao trong số các trường hợp đã nhiễm HIV cũng như trong các trường hợp nhiễm HIV mới.

8. Có khoảng 4.800 phụ nữ mang thai nhiễm HIV vào năm 2012, trong đó có 4.100 phụ nữ cần được điều trị dự phòng lây truyền từ mẹ sang con.

9. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm NCMT vẫn cao nhất trong các nhóm quần thể có nguy cơ cao. Nhìn chung, tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm này sẽ có xu hướng ổn định, tuy nhiên vẫn duy trì ở mức cao với khoảng 30% người NCMT nhiễm HIV trong thời gian tới. Tuy nhiên, tại một số tỉnh, thành phố và khu vực, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm NCMT vẫn có xu hướng tăng.

10. Có khoảng từ 9% tới 9,3% PNMD nhiễm HIV từ năm 2007 tới năm 2012. Dịch HIV trong nhóm PNMD có xu hướng chung ổn định, nhưng sự gia tăng HIV vẫn tiếp tục diễn ra trong nhóm PNMD tại một số tỉnh, thành phố, đặc biệt là ở các tỉnh, thành nơi hành vi tiêm chích ma túy phổ biến trong nhóm này. Hành vi tiêm chích ma túy của PNMD là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc lây truyền HIV tại những tỉnh thành phố có tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm PNMD cao.

11. Khoảng 2% nam giới có quan hệ tình dục với nam (MSM) nhiễm HIV trong giai đoạn 2007- 2017. Mặc dù tỷ lệ hiện nhiễm thấp, nhưng với kích cỡ quần thể lớn, nhóm quần thể này sẽ đóng vai trò quan trọng trong hình thái dịch HIV tại Việt Nam. Điều cần lưu ý là nguồn số liệu được sử dụng cho các ước tính ở nhóm này không phong phú bằng các nhóm khác, cùng với đó là chiều hướng tăng lên nhanh chóng của dịch HIV trong nhóm MSM ở các tỉnh, thành khác có thể đang xuất hiện ở Việt Nam.

12. Mặc dù chiều hướng dịch HIV tại nhiều nhóm quần thể nguy cơ cao trên toàn quốc có xu hướng ổn định, tuy nhiên số lượng người nhiễm HIV vẫn tiếp tục gia tăng cho thấy vẫn tiếp tục có các trường hợp nhiễm mới, trong đó lây truyền từ nhóm nam giới có nguy cơ cao sang vợ hoặc bạn tình thường xuyên của họ sẽ đóng một vai trò quan trọng.

13. Tại khu vực Tây Bắc, mặc dù nguồn số liệu chưa đầy đủ, có thể thấy dịch HIV đang gia tăng một cách nhanh chóng trong tất cả các nhóm quần thể, khởi phát từ dịch HIV trong những người NCMT.

14. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới sự khác biệt trong kết quả ước tính dự báo HIV/AIDS giữa năm 2003 và năm 2007. Trong đó có sự tác động của các chương trình can thiệp rộng rãi, khác biệt trong ước lượng kích cỡ quần thể cũng như từ nguồn số liệu đầy đủ, phong phú hơn, cùng các cải tiến/nâng cấp trong các phần mềm ước tính và dự báo.

 

Nguồn: Bộ Y tế, Cục phồng chống HIV/AIDS. Ước tính và dự báo nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam, 2007-2012.