CÁC CAN THIỆP VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN

CHO NGƯỜI DI CƯ TẠI VIỆT NAM, 2000 – 2008

THS.PHƯƠNG HƯƠNG*

GIỚI THIỆU

Di cư trong nước có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Đó là lý do ngày càng có nhiều cơ quan, tổ chức quan tâm tới vấn đề di cư, đặc biệt vấn đề chăm sóc SKSS của người di cư, nhất là của những người di cư từ nông thôn ra thành thị hoặc những khu công nghiệp (KCN) lớn, một nhóm đối tượng rất lớn. Tuy nhiên, chương trình quốc gia về chăm sóc sức khoẻ sinh sản (SKSS) chưa đáp ứng được nhu cầu về thông tin và dịch vụ ngày càng gia tăng của người di cư. Việc rà soát lại những can thiệp SKSS hỗ trợ người di cư là rất cần thiết  để cung cấp một bức tranh về sự hỗ trợ người di cư giúp các nhà quản lý thiết kế các chương trình, hoạt động can thiệp đáp ứng được nhu cầu và thực hiện quyền của người di cư.

Để tổng hợp các bài học kinh nghiệm và các can thiệp về chăm sóc chăm sóc sức khoẻ, Quỹ Dân số LHQ (UNFPA) đã hỗ trợ Viện Phát triển và Sức khoẻ Cộng đồng Ánh sáng (LIGHT) trong khuôn khổ dự án Bộ Y tế thực hiện rà soát các dự án can thiệp dành cho người di cư giai đoạn 2000-2008 và đề xuất các kiến nghị góp phần cải thiện sức khoẻ nói chung và SKSS nói riêng của người di cư. Rà soát này được thực hiện với sự phối hợp của Tổng cục DS-KHHGĐ, Đại học kinh tế Quốc dân và Nhà xuất  bản Thế giới. Mục tiêu chính là tập trung phân tích các mô hình can thiệp trong lĩnh vực chăm sóc SKSS cho đối tượng là người di cư, trong giai đoạn 2000 - 2008  nhằm đề xuất can thiệp về chăm sóc SKSS phù hợp, đáp ứng nhu cầu và quyền được chăm sóc SKSS cho người di cư trong chương trình quốc gia chăm sóc SKSS.

KẾT QUẢ RÀ SOÁT

1.         Đối tượng hưởng lợi và địa bàn thực hiện các dự án can thiệp

Kết quả rà soát hoạt động của 24 dự án can thiệp hỗ trợ cho người di cư cho thấy có thể phân làm 4 nhóm đối tượng hưởng lợi chính gồm: Trẻ em di cư (7 dự án), công nhân di cư tại các khu công nghiệp (4 dự án), lao động di cư tự do (7 dự án), và người di cư có nguy cơ cao (6 dự án).

Có thể thấy hầu hết các dự án can thiệp đều tập trung vào 2 thành phố lớn nhất nước là Hà Nội và TP. HCM – nơi thu hút một số lượng lớn người di cư từ các tỉnh khác, trong đó có trẻ em. Điều này cho thấy các nhà tài trợ quan tâm nhiều đến trẻ em lang thang tại hai trung tâm đô thị lớn nhất, vẫn còn nhiều trẻ em lang thang tại các thành phố khác chưa được thụ hưởng các hỗ trợ. Ngoài ra, Huế và Đà Nẵng cũng là hai thành phố lớn nhận được các hỗ trợ can thiệp. Về can thiệp tại nơi đi, có 3 dự án can thiệp tại hai địa phương là Thanh Hóa và Hưng Yên được hỗ trợ, chủ yếu giúp trẻ em hồi gia. Đây cũng là 2 tỉnh có số lượng trẻ em di cư nhiều nhất. Các can thiệp tại nơi đi ít hơn nhiều so với nơi đến. Điều này cho thấy các can thiệp chưa hướng nhiều đến trẻ em nghèo ở các vùng quê có nguy cơ lang thang ra thành phố kiếm sống, đặc biệt là một số tỉnh phía nam, hiện chưa có một can thiệp nào cho đối tượng này.

Nhóm 1: Người di cư làm việc tại các khu công nghiệp (KCN)

Tại Việt Nam, hai thập kỷ gần đây chứng kiến sự phát triển nhanh của các khu công nghiệp (KCN) và chế xuất thu hút một số lượng lớn công nhân từ khắp các địa phương trong cả nước. Các KCN này chủ yếu nằm tại các tỉnh như Bình Dương, Hải Phòng, Hà Nội, Hà Tây, Vĩnh Phúc,... Phần lớn những công nhân di cư này đều còn trẻ từ 18-25 tuổi, chưa lập gia đình, và công nhân nữ nhiều hơn công nhân nam. Đây là lực lượng lao động trẻ, hầu hết đã tốt nghiệp phổ thông, được đào tạo một ngành nghề...

Có 4 dự án hỗ trợ những người lao động nhập cư đến làm việc tại các KCN. Cả 4 dự án này đều được triển khai tại tỉnh Bình Dương - địa phương có nhiều KCN lớn nhất nước. Hải Phòng là địa phương thứ 2 nhận được các can thiệp dành cho nhóm đối tượng này. Đà Nẵng và Nam Định cũng có một dự án can thiệp.

Một đặc điểm nổi bật ở các KCN là có số lượng công nhân rất lớn và họ sống tập trung trong cùng một khu vực/tập thể, nhà trọ nên việc tiếp cận họ khá thuận tiện. Các KCN đều có các tổ chức công đoàn và y tế. Tuy nhiên với số lượng rất lớn công nhân, việc chăm sóc y tế, đặc biệt là SKSS còn rất hạn chế. Thời gian làm việc của các công nhân di cư tại các KCN khá cố định, họ có thời gian rỗi để tham gia các hoạt động khác. Điều kiện nhà ở tại nhiều KCN chưa đáp ứng được yêu cầu sinh hoạt của công nhân và ít được tiếp cận các phương tiện truyền thông đại chúng. Có thể nhận thấy rằng các hoạt động trợ giúp cho người di cư làm việc tại KCN còn rất ít, mặc dù số lượng các KCN và công nhân nhập cư hiện nay đang ngày một gia tăng. Do hầu hết đều còn trẻ và chưa lập gia đình, công nhân tại các KCN có nhu cầu rất lớn về thông tin và dịch vụ SKSS, và các hoạt động văn hoá, thể thao, tinh thần...

Nhóm 2: Người di cư lao động tự do

7 dự án can thiệp hỗ trợ cho đối tượng này chủ yếu nhằm vào phụ nữ di cư từ nông thôn ra thành thị kiếm việc làm trong lúc nông nhàn. Trong đó hầu hết tập trung tại nơi đến là Hà Nội với 6 dự án và TP Hồ Chí Minh với 1 dự án. Chỉ có 2 dự án can thiệp do Quỹ Châu Á thực hiện tại nơi đi là các tỉnh: Tây Ninh, Hậu Giang, Nghệ An, Thanh Hoá, An Giang, Cần Thơ và Quảng Ninh. Có một dự án hỗ trợ chăm sóc SKSS cho người di cư trong độ tuổi sinh sản chỉ được triển khai ở hai địa bàn hẹp là Quận Ba Đình Hà Nội và quận Gò Vấp thành phố Hồ Chí Minh.

Do trình độ học vấn thấp và không có chuyên môn nghiệp vụ nên những người di cư lao động tự do này thường làm các công việc giản đơn. Thời gian ở thành phố của họ không lâu, thường vài tháng rồi lại trở về quê, sau đó lại lên thành phố tiếp tục làm việc. Người di cư lao động tự do tại các đô thị thường thuê trọ tại các nhà dân ở các khu dân cư gần các bến xe, chợ. Các nhà trọ giá rẻ cho người di cư lao động tự do chỉ đảm bảo các điều kiện ở tối thiểu và ít đảm bảo vệ sinh. Với điều kiện làm việc vất vả và sinh hoạt tạm bợ, những người di cư lao động tự do phải đối mặt với nhiều nguy cơ rủi ro. Những đặc điểm của người dân di cư lao động tự do có liên quan rất mật thiết tới hiểu biết và hành vi chăm sóc sức khoẻ nói chung và SKSS nói riêng của họ. Một điều đáng chú ý là, nhóm đối tượng này phần lớn làm trong khu vực phi kết cấu nên rất khó được chủ lao động đảm bảo các quyền lao động. Tuy nhiên, lại chưa có can thiệp nào cung cấp thông tin về luật lao động, quyền và nghĩa vụ của người lao động, cũng như về vệ sinh an toàn lao động cho nhóm đối tượng này. Việc đào tạo nghề cho những người di cư cũng là một can thiệp cần phải cân nhắc để giúp họ có được một công cụ cải thiện cuộc sống (chỉ có 1 dự án liên quan đến học nghề).

Nhóm 3: Người di cư có nguy cơ cao

Lái xe đường dài: Có 1 dự án can thiệp cho lái xe đường dài được thực hiện tại 3 tỉnh/thành phố là Quảng Ninh, Hà Nội và TP Hồ Chí Minh do FHI triển khai từ năm 2008. Các lái xe đường dài đều là nam giới, trẻ và có sức khoẻ, thường xuyên lái xe qua nhiều tỉnh trong nhiều ngày. Cuộc sống của các lái xe đường dài trong những ngày xa nhà là trên ô tô và tại các quán trọ. Các nghiên cứu cho thấy nguy cơ đối với SKSS, nhất là lây nhiễm HIV và các bệnh LTQĐTD ở nhóm đối tượng này là rất cao. Hành vi QHTD không an toàn ở nhóm này dẫn đến nguy cơ nhiễm HIV và các bệnh LTQĐTD ở những người vợ và bạn tình của họ.

Gái mại dâm: Hoạt động trợ giúp cho đối tượng này được thực hiện tại các tỉnh: Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Nghệ An, Khánh Hòa, TP. HCM, Cần Thơ, An Giang và Lào Cai do PEPFAR tài trợ. Gái mại dâm là nhóm đối tượng có nguy cơ rất lớn đối với vấn đề SKSS, HIV và các bệnh LTQĐTD nếu quan hệ tình dục không an toàn. Hoạt động mại dâm tập trung nhiều tại các thành phố lớn, điểm du lịch, một số tỉnh vùng biên. Gái mại dâm thường xuyên di chuyển và có nhiều khách làng chơi

Những người di cư vùng biên giới: Bao gồm những người bị buôn bán tại các tỉnh/TP như  Hà Nội, Hà Giang, Phú Thọ, Quảng Ninh, Thái Bình, Nghệ An, TP HCM, Cần Thơ, Tây Ninh, Hậu Giang, Thanh Hóa và một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.

2.       Thời gian thực hiện dự án

Trong tổng số 24 dự án có tới 10 dự án (hơn 1/3) được thực hiện từ dưới 1 năm đến 2 năm, có 10 dự án từ 3-5 năm, và 4 dự án có độ dài trên 5 năm.

Đặc biệt, trong 10 dự án can thiệp cho người di cư có thời gian ngắn (từ dưới 1 năm đến 2 năm) thì có tới 5 dự án tập trung vào nhóm 3 – nhóm di cư tự do là nhóm người có nhiều biến động nhất. Điều này tạo ra một thách thức lớn đối với việc nâng cao tác động của các can thiệp.

3.           Lĩnh vực can thiệp: Các can thiệp hỗ trợ người di cư có thể phân thành 6 nhóm sau:

-          SKSS (chăm sóc trước sinh, làm mẹ an toàn, SKTD, STDs, quyền sinh sản);

-          Phòng tránh HIV;

-          Giới, bất bình đẳng giới, chống bạo lực gia đình;

-          Chống buôn bán người, trẻ em, chống xâm hại tình dục, di cư an toàn, tái hòa nhập cộng đồng;

-          Bảo vệ, chăm sóc trẻ em, quyền trẻ em, giáo dục, học nghề, phòng tránh nguy cơ gặp phải ;

-          Cải thiện cuộc sống (kỹ năng sống, an toàn vệ sinh lao động, luật lao động).

      Trong 24 dự án can thiệp, có 8 dự án đề cập đến lĩnh vực SKSS, 5 dự án can thiệp về lĩnh vực HIV/AIDS (có những can thiệp đồng thời cả SKSS và HIV), 4 dự án hỗ trợ bảo vệ, chăm sóc trẻ em, 4 dự án liên quan đến cải thiện cuộc sống, 2 dự án về chống buôn bán người, trẻ em, chống xâm hại tình dục, di cư an toàn, và chỉ có 1 dự án về giới, bất bình đẳng giới, chống bạo lực gia đình.

      Có thể nhận thấy SKSS, HIV/AIDS, phòng chống buôn bán người, chăm sóc trẻ em, là những lĩnh vực ưu tiên trong hầu hết các dự án can thiệp cho cả bốn nhóm đối tượng trẻ em, người di cư làm việc trong các doanh nghiệp, KCN, người di cư tự do và nhóm nguy cơ cao. Ngoài các nội dung này, một số dự án hỗ trợ cải thiện cuộc sống thông qua tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội, đào tạo nghề, an toàn lao động, giáo dục và việc làm...

4.       Cách tiếp cận

            4.1. Đào tạo, nâng cao năng lực

-          Đào tạo nâng cao năng lực cho mạng lưới tình nguyên viên, đồng đẳng viên

-          Nâng cao kiến thức và kỹ năng sống cho đối tượng hưởng lợi

-          Tham vấn cho gia đình, cộng đồng và lãnh đạo địa phương

-          Đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý dự án, chương trình

      4.2. Thông tin giáo dục truyền thông, truyền thông chuyển đổi hành vi

Hình thức truyền thông:

- Hầu hết các dự án sử dụng kênh truyền thông trực tiếp thông qua các loại hình:

+    Truyền thông trực tiếp nhóm nhỏ

+    Nói chuyện chuyên đề 

+    Lồng ghép với các hoạt động can thiệp khác 

+    Tổ chức giao lưu văn hóa, văn nghệ, các cuộc thi

+    Tổ chức diễn đàn đối thoại

- Truyền thông gián tiếp: Cung cấp báo, tạp chí, tờ rơi, tin, bài viết...  

Các hoạt động truyền thông trên đều huy động được sự phối hợp của chính quyền, đoàn thanh niên, y tế, cán bộ dân số địa phương.

      Nội dung truyền thông:

-            Cung cấp thông tin, giáo dục về sức khoẻ, SKSS, SKTD: Đây là những lĩnh vực được quan tâm nhất của đa số các dự án. Trong đó, SKSS và tình dục an toàn là những nội dung được tuyên truyền phổ biến nhiều cho nhóm di cư lao động  tự do, công nhân trong các KCN, đặc biệt là nhóm có nguy cơ cao (lái xe đường dài và gái mại dâm). 

-            Quyền/nghĩa vụ của người lao động: Thực hiện vệ sinh an toàn lao động, quyền của trẻ em, các nguy cơ, rủi ro có thể gặp phải đối với trẻ lang thang.

        4.3. Cung cấp dịch vụ : Các dịch vụ được cung cấp trong các dự án can thiệp bao gồm: Tư vấn về sức khoẻ, SKSS, khám SK tổng thể/SKSS, khám và điều trị các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục, cấp BCS, viên uống tránh thai, xét nghiệm HIV tự nguyện cho nhóm đối tượng có nguy cơ cao...

4.4. Vận động lãnh đạo: Có 5 dự án đã phối hợp và huy động được sự tham gia của lãnh đạo địa phương vào thực hiện can thiệp. Tuy nhiên chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương với dự án trong suốt quá trình triển khai các hoạt động. Dự án Nhà sinh hoạt cộng đồng của LIGHT đã thu hút các lãnh đạo địa phương trong việc chủ động lồng ghép các nội dung ưu tiên truyền thông cho người di cư trong các hoạt động thường kỳ, huy động được công an tham gia hướng dẫn và phổ biến về Luật cư trú cho người di cư lao động tự do. Dự án can thiệp cho nhóm trẻ em lang thang đã kết hợp với chính quyền địa phương có biện pháp chế tài tích cực để ngăn chặn trẻ lang thang trở lại. Dự án của Tổng cục DS-KHHGĐ cũng đã bước đầu tổ chức được một số hoạt động lôi kéo sự tham gia của lãnh đạo địa phương (Hội thảo định hướng, họp rút kinh nghiệm…).

KHUYẾN NGHỊ

      1. Các dự án can thiệp cho người di cư cần thu hút được nhiều người tham gia; một dự án nên triển khai tại các địa điểm khác nhau; nên có sự liên kết giữa các dự án này với nhau để việc cung cấp thông tin, dịch vụ chăm sóc SKSS cho người di cư được liên tục; cần tính đến việc cung cấp thông tin SKSS cho người di cư tại những địa phương có có đông người di cư lên thành phố làm việc trước khi di cư để có sự liên kết giữa dự án ở nơi đến và nơi đi.

2.  Thời gian của các dự án nên ít nhất là 4 năm để đảm bảo có khoảng 2-3 năm tác động tới đối tượng thụ hưởng thì hiệu quả tác động rõ ràng hơn và tính bền vững cao hơn, đặc biệt đạt được sự cam kết của lãnh đạo cộng đồng và bền vững về nhân lực.

3. Cần tăng số lượng các dự án tập trung hỗ trợ chăm sóc SKSS cho người di cư, đồng thời lồng ghép nội dung SKSS nhiều hơn vào các dự án hỗ trợ người di cư khác, đặc biệt là các dự án cho trẻ vị thành niên di cư.

      4. Dự án cần có kế hoạch đào tạo bổ sung đội ngũ tuyên truyền viên đồng đẳng để đảm bảo luôn đủ số lượng đồng đẳng viên. Cần tổ chức các khóa đào tạo lại để cập nhật kiến thức, kỹ năng và tổ chức hoạt động giám sát hỗ trợ kỹ thuật thường xuyên. 

-            Nội dung đào tạo cần đơn giản, cụ thể, rõ ràng về những hành vi SKSS tích cực mà những người di cư cần và có thể thực hiện.

-            Thời gian đào tạo kỹ năng truyền thông cho tuyên truyền viên đồng đẳng cần dài hơn.

-            Cần có các chính sách động viên khen thưởng phù hợp cho tình nguyện viên và đồng đằng viên lồng ghép trong các dự án.

-            Cần cung cấp đủ tài liệu tuyên truyền để tình nguyện viên và đồng đẳng viên tham khảo và phát cho đối tượng. Đồng thời mở đường dây nóng để tư vấn cho người di cư.

-            Các chương trình đào tạo kỹ năng này cho người di cư nên có ít nhất tổng thời gian đào tạo kỹ năng là 20 giờ.

-            Các lớp tập huấn cho người di cư cần tập trung vào các nội dung cần thiết cho người di cư như phòng ngừa các nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh LTQĐTD, HIV/AIDS, bình đẳng giới, phòng ngừa lạm dụng tình dục, bạo hành gia đình, tập trung vào các kỹ năng sống giúp người di cư ứng phó hiệu quả với những khó khăn trong môi trường sống tại thành phố, họ cũng cần được cung cấp thông tin đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của người di cư, về việc họ cần tìm đến đâu để được nhận sự hỗ trợ cần thiết mỗi khi họ có nhu cầu.

6. Cần đa dạng hóa các hình thức cung cấp dịch vụ SKSS cho người di cư. Phương thức cung cấp dịch vụ phải linh hoạt để đảm bảo phù hợp với đặc điểm sinh sống và làm việc của người di cư. Việc cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS cho người di cư cần huy động sự tham gia của y tế cơ sở, y tế tư nhân, lồng ghép các can thiệp trong chương trình quốc gia, xem xét chính sách BHYT đối với người di cư và có cơ chế phù hợp với những người di cư đã mua BHYT.

7. Cần có chương trình tuyên truyền vận động cho lãnh đạo địa phương, cộng đồng, chủ nhà trọ và chủ doanh nghiệp trong các hoạt động hỗ trợ SKSS cho người di cư để có sự cam kết hỗ trợ không chỉ trong thời gian triển khai dự án mà còn có thể duy trì các hoạt động can thiệp sau khi dự án kết thúc.

   8. Các hoạt động vận động lãnh đạo địa phương là một nột dung của dự án hỗ trợ chăm sóc SKSS cho người di cư. Kế hoạch, chương trình hỗ trợ thông tin và dịch vụ chăm sóc SKSS cho người di cư cần được lồng ghép ngay trong khi xây dựng trong kế hoạch y tế, giáo dục và phát triển của xã/phường, quận/huyện, thành phố và doanh nghiệp.

 


* Tổng cục DS-KHHGĐ