VÕ CỔ TRUYỀN DÂN TỘC MỘT NGUỒN NỘI LỰC THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC DÂN SỐ VIỆT NAM 2001 - 2010

TS. Ngọc Quốc*   

 

Chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2001-2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã xác định một trong những nội dung quan trọng phải thực hiện trong giai đoạn này là chương trình nâng cao chất lượng dân số Việt Nam. Khái niệm “chất lượng dân số” đã xuất hiện từ thế kỷ 18 những có nhiều quan điểm khác nhau. Khoa học tư sản nghiên cứu chất lượng dân số một cách hạn hẹp chỉ dựa trên cơ sở gen. Điển hình là thuyết chủng tộc, xuất hiện từ cuối thế kỷ 19 và phát triển mạnh ở Anh, Pháp. Năm nội dung cơ bản của thuyết này là : 1) Có chủng tộc “Thượng đẳng” và chủng tộc “Hạ đẳng”. Điều này có cơ sở tự nhiên, mang tính di truyền và bất biến. Vì vậy, bất bình đẳng xã hội cũng có cơ sở tự nhiên và được giải quyết bằng việc hoàn thiện con người về mặt gen; 2) Đối với sự nghiệp phát triển văn hóa, tạo dựng văn minh, chủng tộc “Thượng đẳng” là đầu tàu, còn chủng tộc “Hạ đẳng” hoàn toàn không có khả năng hoặc chỉ có khả năng không đáng kể; 3) Văn minh nhân loại phụ thuộc vào việc giữ gìn “sự thuần chủng” và tăng qui mô của chủng tộc “Thượng đẳng”. 4) Tính chất “Thượng đẳng” và “Hạ đẳng” không chỉ tồn tại giữa các chủng tộc mà còn trong các chủng tộc; 5) Chủng tộc “Hạ đẳng” sinh đẻ nhiều, chủng tộc “Thượng đẳng” sinh đẻ ít sẽ làm xấu đi cơ cấu dân số về mặt chất lượng.

Khái niệm “Chất lượng dân số” đã được Ph.Ăng-ghen sử dụng. Ông cho rằng, đó là khả năng của con người thực hiện các hoạt động một cách hiệu quả nhất ( C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập. Tiếng Nga, xuất bản lần thứ 2, T.20, tr.175). Theo các nhà dân số học Nga, chất lượng dân số là “Khái niệm trung tâm của Hệ thống tri thức về dân số” và được phản ảnh bởi ba nhóm chỉ tiêu : 1) Trình độ giáo dục; 2) Cơ cấu nghề nghiệp, xã hội; 3) Tính năng động và tình trạng sức khoẻ. . . Chất lượng dân số hình thành nhờ quá trình chăm sóc, giáo dục và đào tạo cũng như các hoạt động cụ thể. Nó tương ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Như vậy bản chất và nội dung của khái niệm này được rút ra từ các quá trình và quan hệ xã hội.

Các cách tiếp cận sinh học hay xã hội về “chất lượng dân số” nói trên đều không đả động đến quy mô dân số và cơ cấu tự nhiên của nó. Có thể đặt ra câu hỏi sau: chất lượng dân số như thế nào nếu rơi vào ít nhất một trong các tình trạng :

(1)    Quy mô dân số lớn, mật độ cao và vẫn tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế? Hoặc ngược lại, quy mô dân số giảm?

(2)    Trong xã hội “ưa thích con trai” tình trạng mất cân đối giới tính đôi khi rất nghiêm trọng. Có nước, số nam đã lớn hơn số nữ tới hàng trăm triệu.

(3)    Tỷ lệ trẻ em (hoặc người già) quá cao, có nước gần tới 50%.

Khi dân số rơi vào tình trạng trên liệu có thể gọi là “chất lượng cao” dù các chỉ báo khác như giáo dục, sức khỏe, tay nghề ở mức lý tưởng? Vì vậy theo chúng tôi, chất lượng dân số thể hiện ở tính hợp lý của quy mô, tính cân đối của cơ cấu theo tuổi/giới tính và khả năng hoạt động có hiệu quả. Với cách hiểu như vậy, chất lượng dân số vừa thể hiện ở mức độ tổng thể (quy mô, cơ cấu), vừa thể hiện ở mức cá nhân (khả năng hoạt động hiệu quả), vừa thể hiện ở tính tự nhiên (cơ cấu theo tuổi/giới tính), vừa thể hiện ở tính xã hội nhưng con người hoàn toàn có thể tác động để nâng cao chất lượng dân số, thông qua việc hoàn thiện mọi yếu tố của nó.

“Chất lượng” theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, xuất bản 1995, là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nó với các sự vật khác. Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật. Chất lượng biểu hiện ra bên ngoài qua thuộc tính của nó. Đồng thời, chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính quy định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính quy định ấy. Mỗi sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất của chất lượng và số lượng. Từ khái niệm chung về “chất lượng” có thể hiểu về khái niệm “chất lượng dân số”. Tức là nói về những thuộc tính bản chất của dân số. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng ở đây là xác định những thuộc tính cụ thể nói lên bản chất của dân số là gì lại thường rất khó khăn và cũng khó thống nhất. Các thuộc tính biểu thị bản chất của dân số của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương có thể kể ra rất nhiều nhưng theo chúng tôi, có thể tóm tắt lại thành các nhóm biểu thị về mặt thể lực, trí lực, năng lực và tính năng động xã hội của dân số.

Chất lượng dân số: chất lượng dân số là một trong những khái niệm trọng tâm của hệ thống kiến thức về dân số. Nó thể hiện trạng thái nhất định của dân số với tư cách vừa là một khách thể vật chất đặc biệt vừa là chủ thể của các hoạt động kinh tế-xã hội và các quan hệ xã hội. Chất lượng dân số của mỗi nước cần và có thể nâng cao vượt trước trình độ phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật trong nước để sẵn sàng tiếp nhận tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ và hội nhập với trình độ phát triển của nhân loại. Một số nước phát triển ở châu á đã coi trọng và thực hiện nhiều biện pháp để phát triển nguồn nhân lực cũng là nâng cao chất lượng dân số nên họ đã phát triển thành công và nhanh chóng vượt qua khủng hoảng. Dân số luôn biến động, sự thay đổi về số lượng, quy mô dân số gọi là sự tăng trưởng, sự thay đổi cả về số lượng và chất lượng dân số (bao gồm những thay đổi tiến bộ của cơ cấu dân số về thể lực, trí lực, kỹ năng, thành phần xã hội...) gọi là sự phát triển của dân số. Thực chất của phát triển dân số là kết quả của việc duy trì và phát triển những mối tương quan tiến bộ của các yếu tố chủ thể và khách thể của lực lượng sản xuất. Như vậy qua những khái niệm, định nghĩa đã nêu trên, chúng ta thấy rằng chất lượng dân số là một khái niệm mở, đồng thời cũng còn tồn tại những quan điểm khác nhau. Trong thực tế Việt Nam hiện nay, qua xem xét, nghiên cứu chúng ta đã thống nhất sử dụng khái niệm về chất lượng dân số xuất phát từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, chất lượng dân số trước hết tập trung chính vào các mặt về thể lực, trí lực, năng lực xã hội.

Trong phạm vi bài này chúng tôi tập trung vào khía cạnh đầu tiên của chất lượng dân số đó là nâng cao thể lực. Nói đến phát triển thể lực thông thường người ta nghĩ ngay đến chế độ ăn uống và dinh dưỡng. Qua những nghiên cứu và thực tế ở một số nước cho thấy nếu không tuân thủ theo những hướng dẫn khoa học thì chế độ dinh dưỡng dù là rất cao, không những không đảm bảo có thể lực tốt mà còn gây mắc những biến chứng không có lợi cho sức khoẻ như các bệnh phát sinh do thừa dinh dưỡng. ở Đài Loan chiến lược chất lượng dân số đã xác định một trong những nội dung quan trọng là chương trình dinh dưỡng và trọng tâm là chống thừa dinh dưỡng. Chế độ dinh dưỡng phải kết hơp chặt chẽ với chế độ luyện tập. ở hầu hết các nước hiện nay chương trình thể dục thể thao được chú trọng đặc biệt nhằm đảm bảo sức khoẻ cho nhân dân. Mặc dù vậy để phát triển những cơ sở thể dục thể thao hiện đại, đúng điều kiện tiêu chuẩn qui định thì  cũng đòi hỏi sự đầu tư lớn về sân bãi, dụng cụ luyện tập, . . . Ở các nước phương đông một trong những nguồn nội lực quí đã có truyền thống từ hàng nghìn năm nay đó là võ cổ truyền dân tộc. Điều kiện để luyện tập cũng đơn giản và dễ dàng, đặc biệt dễ phát triển thành phong trào của đông đảo nhân dân thông qua truyền dạy lẫn cho nhau. ở châu á, Trung Quốc là quê hương võ thuật, thì Nhật Bản là đế quốc võ đạo, đó là theo cách nói của người Nhật Bản. Người ta đã đưa chương trình dạy võ Judo thành chương trình phổ thông trong các trường tiểu học. Các môn võ cổ truyền khác cũng được đưa vào các cấp học tuỳ theo đặc điểm phát triển thể lực của học sinh và theo truyền thống của từng vùng. Thông qua đào tạo võ thuật trong nhà trường, người Nhật đã tổng kết được rằng chương trình rất phù hợp với lứa tuổi hiếu động và đang phát triển của học sinh và cơ bản đã rèn luyện cho học sinh không những phát triển về thể lực mà còn giúp rèn luyện về trí lực, tinh thần kỷ luật, tính chiến đấu, bản lĩnh tự tin, . . . Ở Việt Nam, một nước á đông vốn có truyền thống thượng võ, chúng ta cần đặc biệt chú trọng sử dụng và phát huy truyền thống này. Trải qua nhiều hội nghị chuyên môn và thực tế tập huấn của Liên đoàn võ cổ truyền Việt Nam, nhiều võ sư đã cùng thảo luận và thống nhất được 10 bài võ truyền thống của Việt Nam là : Hùng kê quyền; Ngọc trản; Lão mai; Huỳnh long độc kiến; Siêu xung thiên; Tứ linh đao; Roi thái sơn; Bát quái côn; Độc lư thương; Lão hổ thượng sơn. Xây dựng luật thi đấu đối kháng, luật hội thi; đóng góp ý kiến giúp Ban chuyên môn biên soạn chương trình huấn luyện căn bản để làm cơ sở phát triển võ cổ truyền trong trường học. Như vậy chúng ta đã có những nền tảng cơ bản, nhưng cần nhanh chóng khôi phục và xây dựng chiến lược phát triển rộng rãi trong quần chúng nhân dân, tạo dựng phong trào rèn luyện thể lực cho cộng đồng, góp phần nâng cao chất lượng dân số Việt Nam. Mặc dù vậy cũng phải nhìn vào thực tế là nếu nhanh chóng triển khai ra toàn quốc chúng ta cũng sẽ có những khó khăn ngay cả về nhận thức của một số nhà quản lý và của đông đảo nhân dân, . . . Do vậy chúng ta cần hoạch định những kế hoạch cụ thể, lựa chọn những vấn đề ưu tiên để dần từng bước thực hiện một cách chắc chắn. Trong thực tế cũng đã xuất hiện những mô hình tốt và theo chúng tôi là đúng đắn. Một trong những mô hình đó là Võ đường Thanh Phong, được sự giúp đỡ của Công đoàn ngành Giáo dục, Ban chủ nhiệm CLB Giáo dục và Hội Võ thuật cổ truyền, dựa trên nền tảng của Thiếu lâm chân truyền, các môn võ thuật hiện đại và dân tộc, võ đườnh Thanh phong được thành lập từ năm 1985 với phương châm học võ đạo trước khi học võ thuật. Sáu điều tôn chỉ của võ đường là: 1) Tôn sư trọng đạo;  2) Nhân ái đoàn kết;  3) Giữ gìn kỷ luật;  4) Không khen mình chê người;  5) Không thắng kiêu bại nản ; 6) Không sinh tâm đạo tặc. Hiện nay những đối tượng chính của võ đường là học sinh và người cao tuổi. Đây cũng là hai nhóm cần được chú trọng ưu tiên trong chương trình chất lượng dân số. Một nhóm dành cho tương lai và một nhóm là những lớp người đã cống hiến cả cuộc đời cho đất nước và cần được sự quan tâm chăm sóc của xã hội để đạt được mục tiêu không chỉ tăng tuổi thọ tối đa mà còn tăng sức khoẻ tối đa, giúp cho người cao tuổi có một cuộc sống tốt; Ngoài việc tăng thêm nhiều tuổi cho cuộc đời, cần tăng thêm nhiều sức sống cho tuổi tác. Tiếp xúc với võ sư Hoàng Thanh Phong, người đã đạt danh hiệu trọng tài xuất sắc nhất, với tất cả tâm huyết và nhiệt tình của mình, võ sư tâm sự mong muốn võ cổ truyền Việt Nam được phát triển rộng rãi, và cần được ưu tiên cho học sinh những thế hệ cho tương lai sau này cống hiến cho đất nước và người cao tuổi để có những năm tháng tiếp tục sống khoẻ mạnh, một cuộc sống tốt đẹp sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ đối với xã hội nhưng cần tiếp tục có một môi trường sinh hoạt lành mạnh để khẳng định vị trí của mình trong xã hội. Với phương châm phát triển như vậy võ đường đã phát triển nhiều phân đường tại các địa đIểm như : Câu lạc bộ ngoài trời vườn hoa Hàng Đậu, Trung tâm thể thao Ba Đình, Trường TDTT 10-10, Trường PTDL Đinh Tiên Hoàng; THPT Việt - Đức, Trường tiểu học Chương Dương, Trường tiểu học Sơn Ca, Trường tiểu học Khương Thượng, Mẫu giáo Việt –Triều, Mầm non Tràng An, Mầm non Hoa Sữa, . . . góp phần phát triển phong trào võ thuật và rèn luyện thể lực cho người cao tuổi và học sinh mọi lứa tuổi.

 Để góp phần thực hiện tốt những nội dung của Chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2001-2010, trong điều kiện thực trạng ở Việt Nam vấn đề chất lượng dân số là một nhu cầu bức xúc của xã hội, trong giai đoạn vừa qua nguồn lực tập trung chủ yếu vào vấn đề giảm sinh và qui mô dân số, chúng ta chưa đề cập đến vấn đề này. Hiện nay đây là một nhu cầu bức xúc, ưu tiên đã được xác định trong chiến lược, đặc biệt trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế tri thức, phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá đất nước. Chương trình chất lượng dân số đã được nhiều nước quan tâm, giải quyết từ nhiều năm trước đây, như Đài Loan, Thái Lan, Hàn Quốc, đặc biệt là ngay ở cả Trung Quốc, đất nước có hơn một tỷ người. Chương trình chất lượng dân số cần được sớm triển khai thực hiện. Mặc dù vậy, trong giai đoạn đầu thực hiện chương trình này, điều kiện khả thi là cần có những nghiên cứu, thử nghiệm, thực nghiệm, lựa chọn những mô hình tốt để dần từng bước triển khai và nhân rộng phù hợp với từng giai đoạn. Mô hình phát triển đào tạo võ cổ truyền là một định hướng tốt góp phần thực hiện chương trình nâng cao chất lượng dân số Việt Nam. 

 

 

 

* Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em