MẠI DÂM VÀ PHÒNG TRÁNH HIV/AIDS: KẾT QUẢ KHẢO SÁT VỀ QUAN NIỆM VÀ HÀNH VI CỦA MỘT SỐ NHÓM NAM GIỚI TẠI HÀ NỘI

Vũ Thu Hương, TS.Nguyễn Minh Thắng 
 

1. Giới thiệu

Việt Nam, kể từ trường hợp đầu tiên được phát hiện ở TP.Hồ Chí Minh tháng 12/1990 đến nay, nhiễm HIV/AIDS đã có ở toàn bộ 61/61 tỉnh thành trong cả nước. Theo báo cáo chính thức của Uỷ ban quốc gia phòng chống AIDS đến ngày 09/2/2001 đã có 29.421 người nhiễm HIV, trong đó 85,8% là nam giới. 4.835 người đã chuyển thành AIDS và 2.549 người chết vì AIDS. (Uỷ ban quốc gia phòng chống AIDS, 2001). Trên thực tế  ước tính số người nhiễm HIV có thể còn cao hơn nhiều (Thanh Nhàn 1/12/2001).

Nhiễm HIV không chỉ còn xảy ra trong nhóm nghiện chích ma túy và mua bán dâm, mà ngày càng nhiều dấu hiện chứng tỏ HIV/AIDS đã lan ra cộng đồng dân cư bình thường.  Các đánh giá cũng cho biết ở Việt Nam, nhiễm HIV tập trung ở nhóm tuổi 20-29. Tình hình tiêm chích ma tuý khá phổ biến ở hầu hết các địa phương trong cả nước, đa số người nhiễm HIV là người nghiện chích – 63,8%. Theo thống kê sơ bộ, ngay tại Hà Nội, hiện đã có hơn 8.700 người nghiện ma túy (TTXVN, 9/1/2002).

Quan hệ tình dục không an toàn cũng được xem là một trong những nguyên nhân chính làm cho HIV lan nhanh. Đáng chú ý là hoạt động mại dâm hiện nay là bất hợp pháp, vì vậy gái mại dâm không được quản lý. Sức khoẻ và tình trạng nhiễm HIV của những người này cũng không được quản lý. Trong khi đó tình trạng gái bán dâm nghiện ma túy và nhiễm HIV lại đang gia tăng. Tại Trung tâm Bảo trợ xã hội II (Hà Nội), cuối tháng 10 năm 2001, có tới 30% đối tượng bán dâm là nghiện ma túy, trong đó một nửa nhiễm HIV (Thanh Niên 18/12/2001). Quản lý những vấn đề có liên quan đến HIV/AIDS vì vậy không thể tách rời với vấn đề mại dâm.

Chính vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện với mong muốn để trả lời những câu hỏi như vậy. Do điều kiện kinh phí và khả năng hạn chế, trong giai đoạn đầu tiên của nghiên cứu, chúng tôi tập trung trình bày những vấn đề đã nêu tại Hà Nội. Các tác giả hy vọng những mối quan hệ giữa nhận thức, thái độ và hành vi của nam giới ở địa bàn nghiên cứu sẽ giúp bước đầu xác định các yếu tố cơ bản của các loại hình quan hệ tình dục không an toàn, góp phần làm căn cứ xây dựng chính sách và chương trình hạn chế các tệ nạn xã hội nói trên để giữ được truyền thống văn hoá gia đình Việt Nam và phòng chống HIV/AIDS.

 

2. Phương pháp nghiên cứu và thu thập thông tin

  Nghiên cứu được thực hiện kết hợp phương pháp định lượng và định tính. Điều tra định lượng được thực hiện thông qua bảng hỏi gồm 83 câu hỏi, bao gồm các câu hỏi về thông tin cá nhân như tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, tôn giáo v.v… Một số thông tin cá nhân khác như thu nhập cũng được thu thập để giúp cho việc xem xét quan hệ giữa mức thu chi của người được hỏi với hành vi tình dục của họ. Kiến thức, hiểu biết và các quan niệm của người được phỏng vấn liên quan tới HIV được đánh giá qua 24 câu hỏi. Các biến phụ thuộc được thu thập qua các câu hỏi liên quan tới thực tế quan hệ tình dục của người được hỏi, bao gồm như quan hệ tình dục lần đầu, quan hệ với gái mại dâm, đồng tính, và với những người khác…

Đối tượng nghiên cứu được mời gồm nam giới từ 18 đến 55 tuổi thuộc 5 nhóm: (1) Sinh viên đang học tại các trường đại học, (2) Công nhân đang làm việc tại các nhà máy,  (3) Công chức đang làm việc tại các cơ quan nhà nước, (4) Những người làm tại các công ty kinh doanh và cung cấp dịch vụ, (5) Các loại lao động phổ thông.

Điều tra chọn mẫu đựơc tiến hành trên mẫu ngẫu nhiên với cỡ mẫu là 493 người đại diện cho 5 nhóm nam giới ở Hà Nội. Một phần ba số đối tượng được phỏng vấn ở độ tuổi từ 25 đến 34, 83,9%  có trình độ văn hoá từ tốt nghiệp lớp 12 trở lên. Gần một nửa số đối tượng được phỏng vấn chưa lập gia đình. 53,5% đối tượng được phỏng vấn sinh ra từ nông thôn và 63,3% không theo tôn giáo nào.

Cùng với phỏng vấn trực tiếp qua phiếu, 5 phỏng vấn sâu đã  được tiến hành ở tất cả các nhóm đối  tượng để bổ sung chi tiết cho những đánh giá về đời sống tình dục, các điều kiện của quan hệ tình dục, và các kiến thức liên quan đến HIV/AIDS … thu được từ điều tra.

 

3. Kết quả nghiên cứu  

Bảng 1 cho biết tỷ lệ phần trăm đối tượng đã có quan hệ tình dục với gái mại dâm trong số những người đã có quan hệ tình dục với phụ nữ. Cột 1 trình bày tỷ lệ phần trăm những người đã từng có quan hệ tình dục với gái mại dâm. Trong số đó có những người lần đầu tiên bắt đầu quan hệ tình dục cũng chính là lần  quan hệ tình dục với gái mại dâm. Số liệu này được trình bày trong cột 2 và trong nghiên cứu này gọi là quan hệ tình dục lần đầu với gái mại dâm. Sinh viên là nhóm có tỷ lệ quan hệ tình dục với gái mại dâm cao nhất – gần 50%. Tiếp đến là các nhóm doanh nhân, lao động tự do và cán bộ nhà nước. Lần lượt là 39,7%, 38,6%, và 29,8%. Công nhân là nhóm có tỷ lệ thấp nhất – 23,2%.

Đáng chú ý là ở các nhóm càng trẻ thì tỷ lệ quan hệ tình dục với gái mại dâm càng tăng. Hơn thế, sinh viên cũng như thanh niên dưới 24 tuổi là những đối tượng có tỷ lệ quan hệ tình dục lần đầu với gái mại dâm cao đáng lo ngại: 23-24%.

Điều cần quan tâm là những người có trình độ văn hoá trên lớp 12 có tỷ lệ quan hệ tình dục với gái mại dâm cao hơn so với những người có trình độ văn hoá chưa tốt nghiệp phổ thông.

Những người xuất thân từ nông thôn nay ra thành phố có tỷ lệ quan hệ tình dục với gái mại dâm cao hơn so với nhóm được sinh ra và lớn lên ở thành phố – 37,9% so với 27,6%.

 

Bảng 1. Tỷ lệ đối tượng đã có quan hệ tình dục với gái mại dâm

Đơn vị %

 

Đã có quan hệ tình dục với gái mại dâm

 

Đã có quan hệ tình dục với gái mại dâm

 

%

Trong đó lần đầu quan hệ tình dục

 

%

Trong đó lần đầu quan hệ tình dục

Nhóm

 

 

Tình trạng hôn nhân

 

 

Sinh viên

49,0

24,5

Chưa kết hôn

45,4

18,5

Công nhân

23,2

2,6

Đang chung sống

25,6

2,0

Cán bộ

29,8

3,5

Li thân li hôn

53,8

0,0

Doanh nhân

39,7

5,9

 

 

 

Lao động tự do

38,6

6,8

 

 

 

Tuổi

 

 

Tuổi bắt đầu chung sống

 

 

   20-24 tuổi

42,9

23,2

   Dưới 19

100,0

0,0

   25-34 tuổi

37,1

8,3

   20-24

24,4

4,4

   35-44 tuổi

29,3

0,9

   25-34

27,2

1,4

   45 trở lên

20,3

0,0

   Trên 34  tuổi

28,6

0,0

Trình độ học vấn

 

 

Thu nhập hàng tháng

 

 

    Dưới lớp 12

29,7

6,3

Dưới 500 ngàn

25,0

9,7

   Tốt nghiệp 12 trở lên

33,1

6,8

   500-1 triệu

30,4

5,3

 

 

 

   Trên 1 triệu

45,9

8,1

Nơi sinh

 

 

Chi cho vui chơi hàng tháng

 

 

Thành thị

27,6

3,1

Dưới 100 ngàn

26,7

6,2

Nông thôn

37,9

10,7

   100-300 ngàn

34,8

6,4

 

 

 

   Trªn 300 ngàn

42,6

8,8

Số năm sống ở Hà Nội

 

 

Tôn giáo

 

 

   Dưới 5 năm

45,8

20,5

Không tôn giáo

33,2

7,5

   6-10 năm

36,7

2,0

Có theo tôn giáo

31,3

5,4

   Trên 10 năm

27,1

2,9

 

 

 

 

 

 

Vợ chồng hạnh phúc

 

 

 

 

 

Không

42,9

7,1

 

 

 

23,2

0,9

 

 

 

Chung

32,4

6,7

 

 

 

N

373

373

 

Các yếu tố thu nhập và chi tiêu dường như có quan hệ đáng kể tới tỷ lệ quan hệ tình dục với gái mại dâm. Những người có thu nhập càng cao thì tỷ lệ quan hệ tình dục với gái mại dâm càng tăng. Người có thu nhập trên 1 triệu đồng 1 tháng, có tỷ lệ quan hệ tình dục với gái mại dâm cao gần gấp hai lần so với người có thu nhập dưới 500 ngàn đồng 1 tháng.

Ít có sự khác biệt theo tôn giáo, mặc dù dường như những người không theo tôn giáo có tỷ lệ quan hệ tình dục với gái mại dâm cao hơn một chút.

Biến số “Vợ chồng sống hạnh phúc” chỉ được định nghĩa cho những người đang chung sống. Trong số 250 đối tượng thuộc loại này chỉ có 28 trong số này nói rằng họ không sống hạnh phúc. Đáng lưu ý là trong số 222 người cho rằng gia đình sống hạnh phúc vẫn có tới 23,2% quan hệ với gái mại dâm.

Phân tích hành vi của những người đã quan hệ tình dục với gái mại dâm cũng cho nhiều thông tin đáng chú ý. Thứ nhất, tuổi lần đầu có quan hệ tình dục với gái mại dâm tương đối sớm. Có 6,8% có quan hệ tình dục với gái mại dâm khi chưa đầy 20 tuổi. Đến tuổi 24 đã có thêm 40,7% nữa. Như vậy có gần 50% số người quan hệ tình dục với gái mại dâm lần đầu tiên khi dưới 24 tuổi. Trong số những người đã có quan hệ với gái mại dâm thì quan hệ lần đầu với gái mại dâm khi ngoài 34 tuổi là 19,5%.

Phân tích 121 đối tượng là người đã từng quan hệ hệ tình dục với gái mại dâm, sinh viên là nhóm có quan hệ tình dục với gái mại dâm sớm nhất, sau đó những người kinh doanh buôn bán và cán bộ nhà nước. Công nhân và người lao động tự do quan hệ tình dục với gái mại dâm muộn hơn, bắt đầu sau 25 tuổi.

Thứ hai, số lần quan hệ tình dục với gái mại dâm cũng khá lớn. Trên 45% quan hệ với gái mại dâm từ 5 lần trở lên. Đáng ngạc nhiên là tỷ lệ cán bộ nhà nước có quan hệ với gái mại dâm từ 5 lần trở lên là 80%, sau đó là người kinh doanh buôn bán – 55,6%. Sinh viên tuy là nhóm có tỷ lệ quan hệ với gái mại dâm cao nhưng không nhiều lần.

Thứ ba, những người có quan hệ với gái mại dâm không phải khi nào cũng đến địa điểm cũ. Trong khi 52,9% tìm gái mại dâm ở địa điểm cũ thì có 31,4% tìm gái mại dâm ở những địa diểm mới. Số liệu này có thể vừa thể hiện sự phát triển của mại dâm vừa thể hiện tính cách ưa tìm kiếm cái mới của khách làng chơi. Mặc dù một phần ba cán bộ nhà nước không trả lời câu hỏi này, song tỷ lệ đến địa điểm cũ của họ là thấp nhất.

Đặc điểm thứ tư, những người đến với gái mại dâm thường không đi một mình, 78% đi cùng với người khác, trong đó chủ yếu là bạn thân hoặc bạn bè quen biết. Trong khi trung bình có 14,9% người đi một mình đến với gái mại dâm, thì nhóm cán bộ nhà nước chỉ có 5,9%. Điều này củng cố giả thiết những người này thường được rủ rê “chiêu đãi” của người chịu phụ thuộc.

Bảng 2. Quan hệ tình dục với gái mại dâm trong 6 tháng qua theo một số đặc trưng hành vi của những người đã từng quan hệ với gái mại dâm (N=121)

Đơn vị %

 

Nhóm đối tượng phỏng vấn

 

Nhóm 1

Nhóm 2

Nhóm 3

Nhóm 4

Nhóm 5

Chung

QHTD với gái mại dâm

 

 

 

 

 

 

41,7

52,8

41,2

40,7

47,1

45,5

Không

58,3

47,2

58,8

59,3

52,9

54,5

Nơi QHTD gần đây nhất

 

 

 

 

 

 

Karaoke massage

29,2

38,9

11,8

18,5

64,7

32,2

Quán cắt tóc gội đầu

 0,0

5,6

 0,0

 0,0

 0,0

1,7

Nhà hàng

4,2

13,9

 0,0

14,8

 0,0

8,3

Quán rượu sàn nhảy

8,3

 0,0

 0,0

3,7

 0,0

2,5

Khách sạn nhà nghỉ

45,8

22,2

35,3

51,9

17,6

34,7

Ngoài đường

 0,0

13,9

 0,0

 0,0

17,6

6,6

Khác

12,5

 0,0

11,8

 0,0

 0,0

4,1

Không trả lời

 0,0

5,6

41,2

11,1

 0,0

9,9

Thời gian quan hệ

 

 

 

 

 

 

Một lúc

58,3

61,1

35,3

55,6

82,4

58,7

Qua đêm

41,7

27,8

23,5

37,0

17,6

30,6

Không trả lời

 0,0

11,1

41,2

7,4

 0,0

10,7

Gặp lại cùng một mại dâm

 

 

 

 

 

 

4,2

13,9

 0,0

22,2

11,8

11,6

Không

87,5

75,0

88,2

74,1

70,6

78,5

Không nhớ

8,3

11,1

11,8

3,7

17,6

9,9

Với mấy gái mại dâm

 

 

 

 

 

 

1 người

50,0

39,3

23,1

29,4

41,7

37,2

2 người

6,3

21,4

15,4

23,5

16,7

17,4

3 người trở lên

12,5

17,9

46,2

11,8

8,3

18,6

Giá trả gái mại dâm 1 lần

 

 

 

 

 

 

Dưới 50 ngàn

16,7

30,6

  

3,7

35,3

18,6

50 - 100 ngàn

75,0

66,7

78,6

85,2

64,7

73,7

Trên 100 ngàn

8,3

2,8

21,4

11,1

 0,0

7,6

 

Đó là những hành vi đến với gái mại dâm nói chung. Nghiên cứu cũng đề cập tới tình hình quan hệ với gái mại dâm trong 6 tháng trước thời điểm phỏng vấn (gọi tắt là 6 tháng qua).

Trong số 121 người đã có quan hệ với gái mại dâm, 45,5% tiếp tục có quan hệ trong 6 tháng qua. Tỷ lệ này không khác nhau đáng kể giữa 5 nhóm được hỏi. Phát hiện đáng lưu ý phù hợp với dư luận xã hội là 32,2% cho biết họ quan hệ với gái mại dâm lần gần đây nhất là tại quán karaoke và “mát-xa”, 34,7% khách sạn nhà nghỉ. Quan hệ với gái mại dâm ở nhà hàng là 8.3% và ở ngoài đường là 6,6%. Đối tượng đến quán karaoke và “mát-xa” nhiều nhất công nhân và người lao động tự do. Cán bộ nhà nước và người kinh doanh buôn bán thì phần đông đến khách sạn nhà nghỉ (bảng 2).

Gần 60% quan hệ với gái mại dâm diễn ra trong thời gian ngắn. Đáng chú ý là hơn 30% diễn ra qua đêm. Trong 6 tháng qua thông thường khách không gặp lại cùng một cô gái, chỉ có 11,6% gặp lại cùng một cô gái mà thôi. Như vậy ngay cả khi hơn một nửa tìm đến gái mại dâm ở nơi cũ, thì phần đông không quan hệ lại với cùng một cô gái. Nhóm cán bộ không có ai trả lời là quan hệ cùng với 1 cô trong 6 tháng qua, trong khi đó tỷ lệ có quan hệ với trên ba người là 46,2% - cao gấp 4 lần so với lớn thứ hai tiếp theo. Thú vị là những người kinh doanh buôn bán thì dường như hay gặp lại cùng một cô gái mại dâm nhất.  

Giá tiền phải trả cho mỗi lần quan hệ với gái mại dâm thường là từ 50-100 ngàn đồng – chiếm 73,7%.  Số người phải trả trên 100 ngàn chỉ chiếm 7,6%. Đặc biệt là tỷ lệ trả trên 100 ngàn nhiều nhất lại là nhóm cán bộ nhà nước – 21,5%, sau đó là người kinh doanh buôn bán – 11,1%.

Khác với nghiên cứu ở Thái Lan, dường như việc uống bia rượu không phải là nguyên nhân dẫn tới việc tìm gái mại dâm. 15% toàn bộ những người được hỏi không bao giờ nói chuyện về tình dục khi uống bia rượu. 28% cho biết hiếm khi nói chuyện về tình dục khi uống bia rượu. Số người thỉnh thoảng nói chuyện tình dục khi uống với bạn bè chỉ có 5,1%. Còn lại chỉ là thỉnh thoảng. Sau khi ăn uống, 52% cho biết không bao giờ rủ nhau tìm gái mại dâm. Số còn lại hiếm khi hoặc thỉnh thoảng mới rủ nhau tìm gái mại dâm.

Những người đã có quan hệ với gái mại dâm cho biết nếu có người bàn lui, thì số người cố gắng thuyết phục bạn mình nên đi cùng khi mọi người đã quyết định đến với gái mại dâm không nhiều – chỉ 7,3%. Còn hầu hết là mặc kệ bạn hoặc lần sau không rủ nữa. Cũng tương tự, các cá nhân được hỏi cho rằng họ không có bổn phận phải tham gia cùng với mọi người đi đến với gái mại dâm nếu không thấy thích. Như vậy việc đến với gái mại dâm vẫn là vấn đề tế nhị và mọi người dường như không cố gắng an thiệp tới sở thích của người khác. Chỉ có 11,7% cho rằng dù không muốn vẫn phải đi cùng vì sợ ảnh hưởng đến quan hệ bàn bè, công tác.

Nghiên cứu cũng đi sâu phân tích việc sử dụng bao cao su của những người đã có quan hệ với gái mại dâm. 93% đã từng dùng bao cao su. Tuy nhiên vẫn có tới 5,8% không dùng bao cao su khi quan hệ với gái mại dâm trong 6 tháng qua. 13,2% thỉnh thoảng dùng. Chỉ có 36,4% thường xuyên dùng. Tỷ lệ sử dụng bao cao su tăng lên khi hỏi về lần quan hệ với gái mại dâm gần nhất – 79,3% có dùng, trong khi vẫn còn 12,4% không dùng và 8,3% không nhó có dùng hay không.

 

Bảng 3. Sử dụng bao cao su của những người đã có quan hệ với gái mại dâm

 Đơn vị %

 

Nhóm đối tượng phỏng vấn

 

Nhóm 1

Nhóm 2

Nhóm 3

Nhóm 4

Nhóm 5

Chung

Dùng bao cao su khi QHTD

 

 

 

 

 

 

Đã dùng

100,0

91,7

94,1

96,3

82,4

93,4

Chưa bao giờ dùng

 0,0

8,3

5,9

3,7

17,6

6,6

Dùng BCS khi QHTD với gái mại dâm

 

 

 

 

 

 

Không bao giờ dùng

 0,0

11,1

 0,0

 0,0

17,6

5,8

Đôi khi dùng

4,2

8,3

17,6

25,9

11,8

13,2

Hầu hết có dùng

 0,0

25,0

11,8

25,9

17,6

17,4

Luôn luôn dùng

70,8

27,8

29,4

22,2

35,3

36,4

Không biết

25,0

27,8

41,2

25,9

17,6

27,3

Lần QHTD trả tiền gần nhất sử dụng BCS

 

 

 

 

 

 

91,7

77,8

76,5

81,5

64,7

79,3

Không

4,2

16,7

5,9

14,8

17,6

12,4

Không nhớ

4,2

5,6

17,6

3,7

17,6

8,3

Quan điểm trong nhóm về sử dụng BCS khi đi với gái mại dâm

 

 

 

 

 

 

Dứt khoát không dùng

 0,0

 0,0

 0,0

 0,0

5,9

0,8

Thích thì dùng

8,3

36,1

41,2

29,6

41,2

30,6

Dứt khoát phải dùng

91,7

50,0

52,9

63,0

29,4

58,7

Không biết

 0,0

13,9

5,9

7,4

23,5

9,9

Thái độ của bạn khi có người đề xuất dùng BCS

 

 

 

 

 

 

Tuyệt đối nghe

83,3

44,4

58,8

59,3

41,2

57,0

Thấy cần thiết thì dùng

16,7

38,9

35,3

29,6

11,8

28,1

Không quan tâm nhiều

 0,0

16,7

5,9

11,1

47,1

14,9

 

Phân tích trên có thể thấy rõ hơn khi xem xét quan niệm của nhóm bạn bè và tùng cá nhân đối với việc dùng bao cao su. Khi cả nhóm đến với gái mại dâm thì 58,7% cho rằng dứt khoát phải dùng bao cao su. Song vẫn còn số đông – 30,6% cho rằng thích thì dùng mà không thích thì thôi. Ngay cả nếu như có người nhắc nên dùng bao cao su, thì người ta cũng cho rằng không nhất thiết phải nghe theo –28%, thậm chí không quan tâm tới lời khuyên – 14,9%. Dường như nếu có rủ nhau đi đến với gái mại dâm cho vui thì vẫn còn nhiều người không quan tâm tới sự an toàn của bản thân và bạn mình để bắt buộc người cùng đi phải dùng bao cao su.

 

4. Kết luận

  Tình hình mại dâm thực sự không chỉ là báo động vì những tin thường xuyên về nơi này nơi khác các hoạt động mại dâm bị bắt. Nghiên cứu này cho thấy tình trạng mại dâm có lẽ còn cao hơn mức báo động mà nhà nước đang quan tâm và các báo chí thường đưa tin – có tới 1/3 số người được hỏi đã từng quan hệ với gái mại dâm. Tỷ lệ quan hệ tình dục lần đầu lại là quan hệ với gái mại dâm cũng không nhỏ. Tình hình rất nhức nhối khi thanh niên sinh viên là những nhóm có quan hệ tình dục với gái mại dâm cao hơn cả. Những người lắm của nhiều tiền cũng là những người thường xuyên đến với gái mại dâm. Song người nghèo và công nhân lao động cũng tìm đến gái mại dâm không ít. Trình độ văn hoá dường như không quyết định gì đến việc một người có tìm đến với gái mại dâm hay không. Nhiều gia đình hạnh phúc mà chồng vẫn tìm đến với gái mại dâm. Các yếu tố xã hội có đóng góp tới việc hạn chế tình trạng mại dâm song chưa lớn, trong khi yếu tố kinh tế dường như tạo điều kiện thuận lợi cho mại dâm phát triển.

Tuổi bắt đầu quan hệ với gái mại dâm cũng rất trẻ, số lần quan hệ với gái mại dâm không phải chỉ một lần mà thường xuyên, và quan hệ với nhiều người. Khách đến với gái mại dâm thường đi với bạn bè và không phải lúc nào cũng đến cùng một địa điểm. Họ thường tìm đến những nơi khác nhau và những gái mại dâm khác nhau. Quán karaoke, mat-xa, nhà nghỉ là những nơi phổ biến của hoạt động mại dâm. Song số đứng đường cũng không ít, tập trung vào nhóm công nhân và người lao động tự do. Đáng chú ý là khoảng 1/3 số lần mại dâm gần đây nhất được thực hiện “qua đêm”.

Trong khi tình hình mại dâm phổ biến như vậy thì việc sử dụng bao cao su lại chưa được “khách” quan tâm. Vẫn còn nhiều người cho rằng không nhất thiết phải dùng bao cao su, thậm chí ngay cả khi có người khuyên. Tuy rủ nhau đi với gái mại dâm song những người trong nhóm không thấy trách nhiệm phải khuyên người khác phải dùng bao cao su – muốn thì dùng, không muốn thì thôi. Nhiều người cho rằng quan hệ với gái mại dâm còn trẻ, gái mại dâm cao cấp và gái mại dâm ở vùng quê an toàn hơn nên không cần dùng bao cao su.