TỔNG QUAN TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2002

  

A.     Tình hình kinh tế

1.                  Tổng sản phẩm trong nước năm 2002 tăng 7,04% so với năm 2001, trong đó nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4,06%, công nghiệp và xây dựng tăng 9,44%; dịch vụ tăng 6,54%. Tuy mức tăng mới đạt mức thấp nhất của mục tiêu kế hoạch (7%-7,3%) nhưng so với các nước trong khu vực và các nền kinh tế đang phát triển khác thì mức tăng 7,04% năm nay vẫn ở mức tương đối cao, chỉ sau mức tăng 7,7% của Trung Quốc. Trong 7,04% tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước, công nghiệp và xây dựng đóng góp 3,45%; dịch vụ 2,68%; nông lâm nghiệp và thuỷ sản 0,91%. Trong 4 năm liền, mức đóng góp vào tăng trưởng kinh tế các năm 2000-2002 của công nghiệp tương đối cao và ổn định, dịch vụ tăng dần, còn nông, lâm nghiệp và thuỷ sản mức không ổn định.  

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp và thuỷ sản giảm từ 25,43% năm 1999 xuống còn 22,99% năm 2002; các con số tương ứng của công nghiệp và xây dựng là 34,49% và 38,55%; dịch vụ là 40,08% và 38,46%.

2. Tổng thu ngân sách năm 2002 ước tính đạt 106,5% dự toán cả năm và tăng 7,8% so với năm 2001. Các khoản thu lớn đều tăng cao so với dự toán cả năm và so với thực hiện năm 2001. Tổng chi ngân sách cả năm đạt 105,4% dự toán và tăng 7,6% so với năm trước, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 103,3% và tăng 0,2%; chi thường xuyên đạt 105,8% và tăng 6,3%. Những khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên đã đạt tỷ lệ tương đối cao so với dự toán cả năm và đều tăng so với năm 2001. Đến nay, điều hành chi ngân sách Nhà nước đã chủ động dành 3550 tỷ đồng để gối đầu cho năm 2003 để thực hiện một bước điều chỉnh tiền lương.

3. Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2002 dự kiến đạt 121 nghìn tỷ đồng, tăng 5,2% so với 2001. Trong năm có sự chuyển đổi lớn về cơ cấu mùa vụ và cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng kinh tế hàng hoá. Sản lượng lúa đạt 34,1 triệu tấn, tăng gần 2 triệu tấn so với năm 2001, do năng suất lúa tăng. Tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm đạt 36,4 triệu tấn, tăng 2,1 triệu tấn (+6,1%).

Do tăng diện tích gieo trồng và đẩy mạnh thâm canh nên sản lượng của nhiều cây công nghiệp hàng năm như bông, đỗ tương, lạc, mía và cây công nghiệp lâu năm như cao su, hồ tiêu, điều đều cao hơn so với năm 2001. Riêng sản lượng cà phê giảm 19,1% do năng suất giảm (ảnh hưởng của nắng hạn và rớt giá cà phê từ năm trước nên đầu tư và chăm sóc kém).

Chăn nuôi phát triển tốt do nhu cầu thực phẩm tăng nhanh và triển khai có hiệu quả các chương trình khuyến khích nuôi bò lai sind và bò sữa. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, tính đến 1/10/2002, đàn trâu tăng 6,6 nghìn con so cùng kỳ; đàn bò tăng 164 nghìn con; đàn lợn tăng 1369 nghìn con; đàn gia cầm tăng 15,2 triệu con.

4. Sản xuất lâm nghiệp năm 2002 tăng chậm, ước tính giá trị sản xuất lâm nghiệp chỉ tăng 0,2% so với năm 2001. Diện tích trồng rừng tập trung ước tính chỉ bằng 99,1% năm 2001; Sản lượng gỗ khai thác tăng 1,3%. Công tác quản lý rừng chưa được tốt, tình trạng chặt phá rừng vẫn tái diễn và đặc biệt xảy ra cháy rừng trên phạm vi rộng.

5. Giá trị sản xuất thuỷ sản ước đạt 27,4 nghìn tỷ đồng, tăng 7,3% so với năm 2001. Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng và khai thác tăng 5,9% (cá tăng 4,9%; tôm tăng 8,3%). Ngành thuỷ sản đạt tốc độ tăng trưởng cao do thời tiết trong năm thuận lợi; đánh bắt xa bờ tăng lên; và diện tích nuôi trồng thuỷ sản tăng.

6. Sản xuất công nghiệp năm 2002 ổn định với nhịp độ tăng trưởng cao. Dự tính giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 tăng 14,5% so với năm 2001, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 11,7%; khu vực ngoài quốc doanh tăng 19,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,5%. Một số sản phẩm công nghiệp quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong ngành công nghiệp tăng cao và ổn định trong năm đã quyết định tốc độ tăng cao của toàn ngành. Riêng ngành khai thác dầu khí, sau nhiều tháng trong năm liên tục giảm đã có dấu hiệu phục hồi tăng trưởng. Sản lượng dầu thô khai thác đã tăng trở lại vào các tháng cuối năm.

Ngành công nghiệp có tốc độ tăng cao trong năm 2002 là do:

(1) Định hướng, chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước nhằm thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và luật doanh nghiệp được đổi mới và hoàn thiện đã tạo thuận lợi cho ngành công nghiệp phát triển mạnh và ổn định trong những năm gần đây. (2) Nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng, công trình dân dụng; sức mua của dân cư tăng lên đã làm tăng tiêu thụ sản phẩm công nghiệp trên thị trường trong nước. (3) Tăng xuất khẩu một số sản phẩm công nghiệp vốn là những mặt hàng xuất khẩu chủ lực và truyền thống như hàng dệt may, thuỷ sản chế biến, hàng thủ công mỹ nghệ, dầu thô, than.

Tuy nhiên, vẫn còn có những sản phẩm tăng chậm hoặc giảm sút so với cùng kỳ năm trước như: bia, đường mật, quần áo dệt kim, thuốc trừ sâu, thuốc viên chữa bệnh… Riêng ô tô, xe máy lắp ráp tháng 12 giảm mạnh (ô tô chỉ đạt 84,4%, xe máy chỉ đạt 61,3%) so với cùng kỳ năm trước do chủ trương hạn chế nhập khẩu linh kiện lắp ráp xe máy.

7. Thực hiện vốn đầu tư phát triển năm 2002 ước đạt 180,4 nghìn tỷ đồng, bằng 104% kế hoạch năm và tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung đạt 24,2 nghìn tỷ đồng, bằng 105,1% kế hoạch năm và chỉ bằng 93,1% năm 2001 (vốn trung ương quản lý đạt 107,1% kế hoạch năm, địa phương quản lý đạt 102,1% kế hoạch năm).

Trong ngành điện, đã đưa vào vận hành các nhà máy thuỷ điện Hàm Thuận, thuỷ điện Đa Mi, nhiệt điện Bà Rịa, nhiệt điện Phú Mỹ I và tổ máy I nhiệt điện Phả Lại với tổng công suất là 1113 MW; 4701 km đường dây điện và 5693 KVA dung lượng trạm biến thế.

    Về giao thông, làm mới, nâng cấp, sửa chữa 2690 km đường bộ, 19547 m cầu; sửa chữa, nâng cấp 209 km đường sắt, 2000m cầu đường sắt, 450 m cầu cảng và nạo vét 350 nghìn m3 luồng lạch đường sông. Hầu hết các công trình trọng điểm giao thông đều hoàn thành theo kế hoạch.

    Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến 20/12/2002 đã có 669 dự án đầu tư được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 1333,2 triệu USD; so với cùng kỳ năm trước tăng 32,4% về số dự án, nhưng giảm 41,1% về vốn đăng ký. Do vậy quy mô vốn đăng ký bình quân một dự án được cấp giấy phép năm nay chỉ còn khoảng 2 triệu USD, thấp xa so với quy mô 4,5 triệu USD của năm 2001. Ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 81,8% về số dự án và 80,8% về vốn đăng ký.

    8. Vận tải: Vận chuyển hành khách năm 2002 ước tính đạt 850,1 triệu lượt hành khách và gần 31,4 tỷ lượt hành khách.km. So với cùng kỳ năm trước tăng 3,7% về khối lượng vận chuyển và tăng 7,3% về khối lượng luân chuyển. Tương tự, vận chuyển hàng hoá đạt gần 162 triệu tấn và 50,4 tỷ tấn.km, tăng 5,5% về khối lượng vận chuyển và 6,2% về khối lượng luân chuyển.

    9. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội năm 2002 ước tính đạt 272,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,8% so với năm trước, trong đó kinh tế Nhà nước chiếm 17,2% và tăng 9,8%; kinh tế cá thể chiếm 65,6% và tăng 12,6%; kinh tế tập thể, tư nhân, hỗn hợp và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 17,2% và tăng 16,8%.

10. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 năm 2002 so với tháng 12 năm 2001 tăng 4%, trong đó lương thực, thực phẩm tăng 5,7% (lương thực tăng 2,6%, thực phẩm tăng 7,9%); nhà ở và vật liêu xây dựng tăng 7,1%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,6%; phương tiện đi lại, bưu điện tăng 1,7%; các nhóm khác tăng từ 0,8% đến 1,2%. Riêng nhóm văn hoá, thể thao, giải trí giảm 1%. Chỉ số giá vàng tháng 12 năm 2002 so với tháng 12 năm 2001 tăng 19,4% và chỉ số giá đô la Mỹ tăng 2,1%.

11. Kim ngạch xuất khẩu năm 2002 uớc tính đạt 16,53 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2001, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 6,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,3%. Ba trong bốn mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch khoảng 1,5 tỷ USD trở lên có mức tăng cao là dệt, may tăng 37,2%; thuỷ sản tăng 13,9%; giày dép tăng 17,2%; riêng dầu thô tăng 3,2%, trong đó lượng xuất khẩu chỉ tăng 0,7%. Xuất khẩu gạo năm 2002 chỉ bằng 86,9% lượng gạo xuất khẩu năm 2001 nhưng do giá xuất khẩu gạo tăng, nên kim ngạch xuất khẩu tăng 16,2% so với năm trước. Tính chung 5 mặt hàng trên (dầu thô, dệt may, thuỷ sản, giầy dép và gạo) chiếm khoảng 60% kim ngạch xuất khẩu và đóng góp 9,66 điểm phần trăm trong 10% tăng trưởng xuất khẩu năm 2002. Các mặt hàng xuất khẩu truyền thống và nông sản khác tuy kim ngạch không lớn nhưng đạt tăng trưởng cao cả về lượng và kim ngạch. Xuất khẩu năm 2002 tăng khá hơn 2001 và đạt được mục tiêu đề ra là do: (1) Mở rộng thị trường xuất khẩu, nhất là xuất khẩu sang thị trường Mỹ. Tính đến cuối tháng 10 hàng xuất khẩu của nước ta đã có mặt trên 200 nước và khu vực lãnh thổ; (2) Giá một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu đã dần phục hồi, giá gạo và dầu thô tăng đáng kể; (3) Trong những tháng cuối năm cơ chế, chính sách có liên quan đến xuất khẩu tiếp tục được cải thiện như giảm tỷ lệ khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng nông, lâm và thuỷ sản; ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp cung ứng nguyên liệu làm hàng xuất khẩu…

Tuy nhiên vẫn còn một vài mặt hàng kim ngạch giảm nhiều so với năm trước như: hàng điện tử, máy tính giảm 15,2%; cà phê giảm 19,1%; rau quả giảm 39,4%.

    12. Kim ngạch nhập khẩu cả năm ước tính đạt 19,3 tỷ USD, tăng 19,4% so với năm 2001, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 13,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 32,1%. Kim ngạch nhập khẩu năm nay tăng nhiều chủ yếu do tăng nhập nguyên vật liệu, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất trong nước và xuất khẩu. So với năm 2001, kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu như máy móc thiết bị, dụng cụ và phụ tùng, sắt thép, chất dẻo, sợi dệt, vải, sản phẩm hoá chất, thuốc trừ sâu đều có tốc độ tăng cao. Nhập siêu năm nay khoảng 2,8 tỷ USD, bằng 16,8% kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong ước nhập siêu 3,95 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu gần 1,18 USD.

13. Khách quốc tế đến Việt Nam năm nay ước tính đạt 2628,2 nghìn lượt người, tăng 12,8% so với năm trước, trong đó khách du lịch tăng 19,6%; vì công việc tăng 11,2%; thăm thân nhân tăng 9%.

B. Các vấn đề xã hội

14. Dân số trung bình năm 2002 của cả nước khoảng 79,7 triệu người, tăng1,31% so với năm 2001, trong đó dân số thành thị (chiếm khoảng 25% số dân) tăng 2,3% và dân số nông thôn tăng 0,98%. Dân số nam chiếm 49,2% và nữ chiếm 50,8%.

15.  Kết quả sơ bộ cuộc điều tra lao động và việc làm 1/7/2002 cho thấy tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi khu vực thành thị là 6,01% (giảm 0,27% so với năm 2001) và tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng của lao động trong độ tuổi khu vực nông thôn là 75,3%.

16. Thu nhập bình quân một tháng năm 2002 của một lao động trong khu vực Nhà nước ước đạt 999,3 nghìn đồng (năm 2001 là 889,6 nghìn đồng), trong đó lao động thuộc trung ương quản lý đạt 1297,2 nghìn đồng và lao động địa phương quản lý đạt 787,4 nghìn đồng. Nhiều doanh nghiệp tiếp tục đổi mới, chuyển đổi, thực hiện cổ phần hoá và đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập cho người lao động; trong khu vực hành chính sự nghiệp một số đơn vị đã tiến hành tinh giảm biên chế, khoán chi và thực hành tiết kiệm nên đời sống cũng có phần được cải thiện hơn. ở nông thôn, sản xuất nông nghiệp ổn định, giá nông sản, thực phẩm tăng nên đời sống nông dân nhìn chung cũng đã được cải thiện.

17. Tình trạng thiếu đói giảm so với năm 2001: giảm 10% số hộ và giảm 12% số nhân khẩu thiếu đói. Các cấp, các ngành và các địa phương đã hỗ trợ 13,6 nghìn tấn lương thực và 36,7 tỷ đồng cho các hộ thiếu đói. Số hộ nghèo năm 2002 đã giảm 30 vạn hộ, đưa tỷ  lệ hộ nghèo trong cả nước xuống còn 14,3%.

18. Công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc các đối tượng chính sách được thực hiện rộng khắp từ trung ương đến địa phương: Năm 2002 đã có thêm 1000 xã, phường được công nhận là đơn vị thực hiện tốt công tác thương binh, liệt sỹ và người có công với cách mạng; đã xây mới và sửa chữa hơn 10 nghìn nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 80 tỷ đồng; huy động quỹ đền ơn, đáp nghĩa 185 tỷ đồng; tặng 13,7 nghìn sổ tiết kiệm trị giá 7,6 tỷ đồng; 22 nghìn dụng cụ chỉnh hình, 1 nghìn xe lăn với trị giá gần 10 tỷ đồng…

19. Công tác chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tiếp tục được duy trì: hơn 70% số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được giúp đỡ, hỗ trợ bằng nhiều hình thức như trợ cấp, cứu trợ xã hội, nuôi dưỡng tập trung tại các cơ sở bảo trợ xã hội, hỗ trợ chỉnh hình, phục hồi chức năng, học nghề, giúp trở về với gia đình, hàng triệu trẻ em được hỗ trợ về y tế và giáo dục.

20. Công tác văn hoá thông tin năm 2002 tập trung vào hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn và tuyên truyền bầu cử Quốc hội khoá XI, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh hoạt động văn hoá, thông tin cơ sở. Công tác giáo dục chính trị, văn hoá và tuyên truyền phổ biến pháp luật đã được tăng cường. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” tiếp tục được đẩy mạnh.

Năm 2002 đã xuất bản được 9154 đầu sách với 186,2 triệu bản sách, đạt 130% kế hoạch về số đầu sách và 164% về số bản sách. So với năm 2001, số đầu sách tuy chỉ bằng 97% nhưng số bản sách tăng 5%.

Công tác thanh tra văn hoá và phòng chống tệ nạn xã hội được triển khai tích cực và tiến hành thường xuyên; lập hồ sơ quản lý các đối tượng tệ nạn xã hội; chữa trị và giáo dục cho 5 nghìn gái mại dâm; dạy nghề; cai nghiện phục hồi cho đối tượng nghiện hút ma tuý.

21. Hoạt động thể dục thể thao diễn ra sôi động và rộng khắp trên phạm vi cả nước, đồng thời thực hiện tốt giai đoạn 2 cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Năm 2002 ngành Thể dục Thể thao đã tổ chức thành công Đại hội Thể dục Thể thao toàn quốc lần thứ IV. Công tác chuẩn bị cho SEA GAMES 22 được tiến hành khẩn trương; tích cực hoàn thiện các công trình thể thao và các dự án trực tiếp phục vụ cho SEA GAMES 22. Dự kiến đến tháng 8/2003, tất cả các công trình phục vụ cho SEA GAMES 22 sẽ được hoàn thành.

22. Giáo dục và đào tạo

Khai giảng năm học 2002-2003: Số trẻ em đến các lớp mầm non tăng 2,4% so với năm học trước; học sinh tiểu học giảm 5%; trung học cơ sở tăng 3,9% và trung học phổ thông tăng 5,4%. Số giáo viên tiểu học tăng 1,4%; giáo viên trung học cơ sở tăng 8% và giáo viên trung học phổ thông tăng 9,6%. So với định mức chuẩn, giáo viên trung học cơ sở và trung học phổ thông vẫn còn thiếu. Riêng giáo viên tiểu học tuy đảm bảo định mức chuẩn nhưng thiếu ở các vùng khó khăn; đặc biệt thiếu giáo viên các môn chuyên biệt để đảm bảo giáo dục toàn diện. Phòng học ở các cấp phổ thông đều tăng so với năm học trước; số phòng học 3 ca năm học này đã giảm 48%.

Năm 2002 cả nước có 77 trường đại học, 114 trường cao đẳng và 252 trường trung học chuyên nghiệp. So với năm học trước số sinh viên đại học tăng 7%; cao đẳng tăng 12,9%; học sinh trung học chuyên nghiệp tăng 6%; Số giảng viên đang giảng dạy tại các trường đại học tăng 4%; giảng viên cao đẳng tăng 32,5% và giáo viên trung học chuyên nghiệp giảm 8%.

23. Tình hình dịch bệnh

Trong năm 2002 các dịch bệnh lớn không xảy ra. Các bệnh sốt rét, sốt xuất huyết, tiêu chảy và một số bệnh dịch khác giảm cả về số người mắc và số người bị chết. Về ngộ độc thực phẩm, tính đến 17/12/2002, trong cả nước đã xảy ra 194 vụ với 4,7 nghìn người bị ngộ độc làm chết 69 người, trong đó đáng lo ngại là đã xảy ra nhiều vụ có nhiều người bị ngộ độc. Tình hình nhiễm HIV/AIDS tiếp tục gia tăng. Năm 2002 đã phát hiện thêm 15,1 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước đến 18/12/2002 lên 58,5 nghìn người, trong đó số bệnh nhân AIDS là 8,7 nghìn người và số người chết do AIDS là 4,8 nghìn người.

24. Tai nạn giao thông

Tính từ đầu năm đến hết tháng11/2002, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 26,2 nghìn vụ, làm chết 11,6 nghìn người và làm bị thương 29,3 nghìn người; So với cùng kỳ năm 2001, số vụ tăng 8,2%; số người chết tăng 21,7% và số người bị thương tăng 8,6%. Bình quân một ngày trong 11 tháng năm 2002 đã xảy ra 78 vụ tai nạn giao thông, làm chết 35 người và làm bị thương 87 người; so với bình quân 11 tháng năm 2001 tăng cả về số vụ, số người chết và số người bị thương.

25. Thiệt hại do thiên tai, Trong năm 2002, mưa lớn, bão lũ, lốc đã xảy ra ở một số địa phương, đặc biệt là các tỉnh miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai đã làm 395 người chết, 291 người bị thương; 247 km đe, kề bị sạt lở cuốn trôi; 1250 công trình phai, đập, cống bị phá huỷ; 58 nghìn ha lúa bị ngập, hư hại, trong đó mất trắng 13,5 nghìn ha; 5,2 nghìn ha diện tích nuôi trồng thuỷ sản bị thiệt hại; 10 nghìn ngôi nhà và 620 phòng học bị sập đổ, cuốn trôi….Ước tính tổng giá trị thiệt hại trên 1,6 nghìn tỷ đồng.

    Kết luận, năm 2002 nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá, hầu hết các chỉ tiêu kinh tế-xã hội năm 2002 đều đạt và vượt mục tiêu kế hoạch đề ra đầu năm và tăng cao so với năm 2001. Tổng sản phẩm trong nước tăng 7,04%; giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 5,4%; giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14,5%. Sản lượng một số sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp quan trọng phục vụ sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu đều bằng hoặc vượt mức sản xuất của các năm trước: Sản lượng lúa đạt 34,1 triệu tấn, không những bảo đảm đủ tiêu dùng trong nước mà còn xuất khẩu được khoảng 3,2 triệu tấn gạo; sản lượng điện tăng 16%; thép cán tăng 27,7%; xi măng tăng 25,8%; thuỷ sản chế biến tăng 25,2%, quần áo may sẵn tăng 26,1%, vải lụa tăng 10,4%. Đầu tư phát triển toàn xã hội tăng 10,3%. Thu nhập của dân cư tăng, sức mua tăng khá, giá cả ổn định. Kim ngạch xuất khẩu cả năm đạt 16,5 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2001. Nhập khẩu tăng mạnh, chủ yếu do tăng nhập thiết bị máy móc và nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất và xuất khẩu. Du lịch tăng trưởng tốt. Nhiều lĩnh vực xã hội cũng thu được kết quả tích cực: Thiếu đói giáp hạt và dịch bệnh đều giảm so với năm 2001; hoạt động văn hoá, giáo dục được tăng cường; an ninh xã hội được giữ vững.

Bên cạnh những kết quả tích cực, nền kinh tế nước ta còn phải vượt qua những khó khăn và thách thức đặt ra cho thực hiện những mục tiêu kế hoạch năm 2003 mà Quốc hội vừa thông qua:

Với tăng trưởng 7,04%, nền kinh tế đã đạt mức tăng thấp của mục tiêu tăng trưởng 7-7,3% của năm 2002, nhưng mới chỉ hơn mức tăng trưởng 6,89% của năm 2001 là 0,15%. Theo đánh giá tháng 11 năm 2002 của Ngân hàng thế giới một số nước trong khu vực (trừ Nhật Bản vẫn tăng trưởng ở mức âm) năm 2002 đều có mức tăng trưởng cao hơn nhiều so với năm 2001: Malaysia năm 2002 tăng 3,8% so với 0,4% của năm 2001; các số liệu tương ứng của Singapore là 3,8% so với –2%; Thái Lan là 3,8% so với 1,8%; Đài Loan là 3,3% so với –2,2%; Hàn Quốc là 6,1% so với 3%; Hồng Kông là 1,6% so với 0,6%.

Kim ngạch xuất khẩu tăng 10% so với năm 2001, chậm hơn nhập khẩu tăng 19,4% đã làm cho nhập siêu tăng lên, đạt mức 2,8 tỷ (bằng 16,8% kim ngạch xuất khẩu); trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu gần 4 tỷ USD. Sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước chưa cao là một thách thức lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là vào năm 2003 khi Việt Nam tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN, hàng hoá của ta không những phải cạnh tranh quyết liệt hơn ở thị trường nước ngoài mà phải cạnh tranh ngay cả trên thị trường trong nước.Mặt khác, hội nhập đi liền với giảm thuế suất nhập khẩu nhiều mặt hàng sẽ làm giảm nguồn thu của ngân sách Nhà nước, do vậy phải có giải pháp để tăng nguồn thu đảm bảo cân đối các khoản chi ngân sách nhà nước.

Theo đánh giá của các Tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế, kinh tế thế giới năm 2003 vẫn trong tình trạng khó khăn và diễn biến phức tạp, là nhân tố ảnh hưởng không thuận tới sự phát triển của kinh tế trong nước do nhu cầu nhập khẩu của nước ngoài sẽ không cao và đầu tư nước ngoài vào nước ta đang giảm sẽ khó khăn hơn.

(Nguồn: Tổng cục Thống kê)