TỔNG QUAN TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2003

 


Năm 2003 là năm thứ ba và là năm bản lề thực hiện kế hoạch 5 năm 2001 - 2005. Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế xã hội năm 2003, Chính phủ đã chỉ đạo, các ngành và các địa phương đã tích cực triển khai nhiều giải pháp cụ thể, tạo được sự tăng trưởng ổn định và phát triển ngay từ đầu năm, giữ được xu thế tăng liên tục qua các quí, đặc biệt là trong lĩnhvực sản xuất công nghiệp và xuất khẩu hàng hoá. Tình hình kinh tế - xã hội năm 2003 đã diễn biến theo chiều hướng tích cực. Hầu hết các ngành, các lĩnh vực kinh tế - xã hội then chốt đều thu được những kết quả vượt trội so với năm 2002. Tổng cục Thống kê đánh giá khái quát tình hình kinh tế - xã hội năm 2003 như sau:

A. Tình hình kinh tế

1. Tổng sản phẩm trong nước cả năm 2003 ước tăng 7,24% so với năm 2002, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,2%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,34%; khu vực dịch vụ tăng 6,57%.

Trong 7,24% tăng trưởng GDP năm 2003, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 3,86%; khu vực dịch vụ đóng góp 2,68%; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,07%. Quan sát trong 4 năm liền, mức đóng góp vào tăng trưởng kinh tế các năm 2000 - 2003 của khu vực công nghiệp tương đối cao và ổn định, của dịch vụ tăng dần, còn của khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản thấp và không ổn định.

Cơ cấu các ngành kinh tế vẫn tiếp tục chuyển theo hướng tích cực: giảm mạnh tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, giảm nhẹ khu vực dịch vụ và tăng mạnh khu vực công nghiệp và xây dựng.

2. Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2003 ước tăng 4,1%, do tiếp tục có sự chuyển đổi tích cực cơ cấu mùa vụ và cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng kinh tế hàng hoá. Diện tích gieo trồng lúa cả năm tuy giảm so với năm 2002 nhưng năng suất lúa ước tính tăng 0,4 tạ/ha nên sản lượng tăng 71,4 nghìn tấn. Đảm bảo được nhu cầu lương thực trong nước và tăng khối lượng gạo xuất khẩu 17,9% so với 2002.

Sản lượng cây công nghiệp hàng năm nhìn chung đạt thấp hơn so với năm 2002, do thời tiết diễn biến trong năm không thuận (sản lượng bông, đay, mía, lạc đều giảm). Sản lượng thu hoạch một số cây lâu năm như cao su, hồ tiêu, điều tăng, do giá có xu hướng tăng đã kích thích nông dân đầu tư mở rộng diện tích và thâm canh tăng năng suất. Kết quả sản xuất các loại cây ăn quả cũng tăng so với năm trước.

Chăn nuôi phát triển do nhu cầu thực phẩm tăng nhanh, nhiều chương trình hỗ trợ giống, kỹ thuật và vốn được thực hiện. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương năm 2003, đàn trâu, đàn bò, đàn lợn, đàn gia cầm và sản lượng thịt các loại đều tăng so với năm trước.

3. Giá trị sản xuất lâm nghiệp ước tăng 1,1% so với năm trước. Do thời tiết khô hạn kéo dài và một số tỉnh vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Bắc Trung bộ có kế hoạch giao thấp hơn năm trước nên diện tích rừng trồng tập trung, diện tích rừng được chăm sóc, diện tích khoanh nuôi tái sinh đều tăng nhẹ, số cây trồng phân tán xấp xỉ số cây năm 2002. Sản lượng gỗ khai thác không tăng so với năm trước, do nhà máy giấy Bãi Bằng ngừng sản xuất để nâng cấp dây chuyền nên sản lượng khai thác gỗ của vùng Đông Bắc giảm.

Công tác bảo vệ và phòng chống cháy rừng được các cấp, các ngành quan tâm hơn nên tình trạng cháy và phá rừng trong năm đã có chiều hướng giảm đi rõ rệt. Diện tích rừng bị cháy và bị phá chỉ bằng 42,1% năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy bằng 39,9%; diện tích rừng bị phá bằng 47,4%.

4. Giá trị sản xuất thuỷ sản năm 2003 tăng 9,5%, tăng cả đánh bắt và nuôi trồng do thời tiết thuận và diện tích nuôi trồng thuỷ sản tăng. Sản lương thủy sản cả năm ước tính đạt 2794,6 nghìn tấn, tăng 5,6% so với năm trước, trong đó cá tăng 5,3%; tôm tăng 15,3%. Sản lượng thuỷ sản khai thác tăng nhẹ so với năm 2002. Sản lượng khai thác xa bờ tăng lên đã bù cho khai thác nội địa giảm bởi nguồn cá ngày càng ít và các quy định về bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản nghiêm ngặt hơn. Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng cả năm tăng 14,4% so với năm 2002, do diện tích nuôi trồng thuỷ sản tăng 7,6% so với năm trước (trong đó diện tích nuôi tôm tăng 12,5%).

5. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2003 ước tính tăng 16% so với 2002, là mức tăng cao nhất trong 3 năm trở lại đây, trong đó các loại hình kinh tế đều tăng từ trên 12% trở lên. Một số sản phẩm công nghiệp quan trọng đối với nền kinh tế đều có mức độ tăng cao và ổn định so với năm 2002 như than sạch, thuỷ sản chế biến, đường mật, quần áo dệt kim, quần áo may sẵn, xi măng, động cơ diesel, động cơ điện, quạt điện dân dụng, ti vi lắp ráp, ô tô lắp ráp và điện phát ra. Riêng sản lượng dầu thô khai thác tăng 4,9% so với năm 2002, giấy bìa tăng 10,9%.

Sản xuất công nghiệp tăng cao trong năm 2003 là do: (1) Định hướng, chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước nhằm thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã khuyến khích phát triển sản xuất ở cả 3 khu vực Nhà nước, ngoài quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. (2) Nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; xây dựng các công trình phục vụ SEA Games; công trình dân dụng và sức mua của dân cư tăng lên đã làm tăng nhu cầu tiêu dùng hàng công nghiệp trên thị trường trong nước và (3) Tăng mạnh xuất khẩu do mở rộng được thị trường và tăng cầu của nước ngoài đối với những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu như thuỷ sản chế biến, dệt may, dầu thô, hàng điện tử... và tăng thêm các mặt hàng xuất khẩu mới như các sản phẩm gỗ, dây điện, cáp điện, sản phẩm nhựa...

6. Vốn đầu tư phát triển năm 2003 ước tính thực hiện 100,9% kế hoạch năm và tăng 18,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn Nhà nước chiếm 56,5% và vốn ngoài quốc doanh chiếm 26,7%, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ chiếm 16,8% (năm 2002 chiếm 18,5).

7. Thực hiện vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung năm 2003 ước tính bằng 119,6% kế hoạch năm và tăng 12,4% so với năm 2002. Vốn trung ương quản lý đạt 122,5% kế hoạch năm, trong đó hầu hết các Bộ đều đạt và vượt kế hoạch. Riêng Bộ Xây dựng mới đạt 64,6% kế hoạch vốn đầu tư do phải ngừng thi công dự án nhà Quốc hội ngay sau khi phát hiện ra di tích thành cổ Hà Nội. Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý thực hiện đạt 116,4% kế hoạch năm.

8. Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến 16/12/2003 thấp hơn so với năm 2002 cả về số dự án và vốn đăng ký. Quy mô vốn đăng ký bình quân một dự án được cấp giấy phép tuy đã tăng từ 2,1 triệu USD năm 2002 lên 2,5 triệu USD năm 2003, song vẫn thấp so với mức 4,8 triệu USD của năm 2001. Các dự án thuộc ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 69,6% về số dự án và 67,9% về vốn đăng ký.

9. Vận chuyển hành khách năm 2003 ước tính 4,6% về số hành khách và tăng 4,3% về hành khách * km so với 2002. Trong đó vận tải bằng đường sắt, đường bộ, đường biển, đường sông đều tăng cả 2 chỉ số, riêng vận tải bằng hàng không chỉ tăng 1,8% về số khách và giảm 3,2% về hành khách*km, do ảnh hưởng bởi dịch viêm đường hô hấp cấp (SARS).

Vận chuyển hàng hoá tăng 7,1% về tấn và 4,7% về tấn*km, trong đó vận chuyển ra nước ngoài, đặc biệt là bằng đường biển đều tăng chậm hơn mức chung cả về tấn và tấn*km, do vận tải trên tuyến Trung đông giảm.

10. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội năm 2003 ước tính tăng 12,1% so với năm trước, trong đó ngành thương nghiệp (chiếm tới 81,3% tổng mức) tăng 12,8%; khách sạn, nhà hàng tăng 14,4%; dịch vụ chỉ tăng 0,4%; đặc biệt là ngành du lịch giảm tới 13,9% do ảnh hưởng của dịch SARS từ những tháng cuối quý I và đầu quý II.

11. Giá tiêu dùng tháng 12 so với tháng 12 năm 2002 tăng 3%, thấp hơn mức tăng 4% của năm 2002, trong đó giá các nhóm đều tăng từ khoảng 2- 4%, các biệt nhóm dược phẩm, y tế biến động mạnh nhất, tăng tới 20,9% và nhóm phương tiện đi lại, bưu điện và nhóm văn hoá, thể thao, giải trí giảm.

Giá vàng tháng 12 năm 2003 tăng 26,6% so với tháng 12 năm 2002. Giá vàng các tháng trong năm liên tục tăng cao so với cùng kỳ năm trước và tăng mạnh trong các tháng cuối năm chủ yếu do giá vàng trên thị trường thế giới tăng giá. Giá USD tăng nhẹ so mức tăng giá vàng, thậm chí tăng thấp hơn cả mức tăng giá tiêu dùng và không có đột biến suốt các tháng trong năm, giá USD tháng 12 tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 2,2% so với tháng 12 năm trước.

12. Kim ngạch xuất khẩu năm 2003 ước tính đạt 19,9 tỷ USD, tăng 19% so với năm 2002, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 9,9 tỷ USD, tăng 11,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 27,2%. Kim ngạch xuất khẩu của hầu hết các mặt hàng chủ yếu tăng cao. Các mặt hàng dầu thô, cà phê và cao su là những mặt hàng được lợi nhiều về giá trong khi giá gạo giảm so với 2002. Xuất khẩu rau quả giảm mạnh và chè giảm khoảng 28%, chủ yếu do không xuất được vào thị trường I Rắc.

Xuất khẩu 2003 tăng khá cao so với mức tăng 10% của 2002 và cao hơn mục tiêu kế hoạch đề ra do: (1) Nhu cầu thị trường thế giới tăng nên giá một số mặt hàng tăng, đáng kể là giá dầu, cà phê và cao su. Việc thực hiện Hiệp định thương mại Việt - Mỹ giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam tăng xuất khẩu vào thị trường này, nhất là các mặt hàng dệt máy (tăng cao nhờ tăng được hạn ngạch) và thuỷ sản. (2) Sản xuất trong nước tăng cao và ổn định tạo tiền đề cho tăng lượng hàng xuất khẩu. (3) Nhà nước đã tập trung chỉ đạo và điều hành hoạt động xuất nhập khẩu một cách có hiệu quả ngay từ những tháng đầu năm.

13. Kim ngạch nhập khẩu cả năm ước tính đạt xấp xỉ 25 tỷ USD, tăng 26,7% so với năm 2002, trong đó khu vực kinh tế trong nước (chiếm 65,1% kim ngạch) tăng 24,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 30,1%. Kim ngạch nhập khẩu 2003 tăng cao, chủ yếu do tăng nhập nguyên vật liệu, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất trong nước và sản xuất hàng xuất khẩu. Mặt khác, nhiều mặt hàng tăng mạnh do tăng giá như xăng dầu, sắt thép, phân bón, chất dẻo, bông xơ... Riêng thuốc trừ sâu kim ngạch giảm 5,9%; xe máy và linh kiện đồng bộ giảm 28,6%.

14. Nhập siêu năm nay khoảng 5,12 tỷ USD, bằng 25,7% trị giá xuất khẩu và đây là tỷ lệ cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây. Nhập siêu của khu vực trong nước tới 6,4 tỷ USD trong khi khu vực vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 1,29 tỷ USD; nếu không kể dầu thô thì khu vực này nhập siêu 2,49 tỷ USD.

15. Lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 12 năm nay tăng 10% so với tháng trước (do Việt Nam tổ chức SEA Games vào tháng 12), nên ước tính cả năm lượng khách quốc tế vào nước ta chỉ giảm 7,2% so với năm trước, trong đó khách vào du lịch giảm 13,4%; thăm thân nhân 11,7%.

B. Một số vấn đề xã hội

16. Dân số trung bình năm 2003 của cả nước ước tính khoảng 80,7 triệu người, tăng 1,18% so với 2002, trong đó dân số nữ chiếm 50,8%. Dân số thành thị 20,5 triệu, chiếm khoảng 25,4% số dân và tăng 2,41%; tốc độ đô thị hoá qua các năm tương đối chậm nên tỷ lệ dân thành thị biến đổi không đáng kể qua các năm 2001 - 2003.

17. Lao động - việc làm: Đến giữa năm 2003, cả nước có 40,5 triệu lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế, trong đó lao động nữ chiếm 48,8%. Lao động năm 2003 tăng chủ yếu ở một số ngành, như: nuôi trồng thuỷ sản, công nghiệp chế biến, xây dựng, du lịch, phục vụ cá nhân và công cộng. Tuy nhiên, sự chuyển dịch lao động từ các ngành nông, lâm nghiệp sang các ngành kinh tế khác diễn ra tương đối chậm.

18. Tỷ lệ thất nghiệp của khu vực thành thị là 5,8%, vẫn còn cao so với tỷ lệ phổ biến của các nền kinh tế trên thế giới.

19. Tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn vẫn còn ở mức 22% và cũng là tình trạng của tất cả các vùng kinh tế trong cả nước. Tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn là do tỷ lệ lao động được đào tạo về chuyên môn, kỹ thuật ở khu vực này thấp; thiếu lao động có kỹ thuật và thợ bậc cao, gây nhiều khó khăn cho người lao động trong tìm việc làm.

20. Số người ở khu vực thành thị cả nước đã được giải quyết việc làm trong năm 2003 là 531,6 nghìn người, giảm 3,7% so với năm 2002, trong đó tỷ lệ công việc có tính chất ổn định cũng giảm so với năm 2002.

21. Đời sống dân cư năm 2003 nhìn chung ổn định và được cải thiện do thực hiện Nghị định Chính phủ số 03/2003/NĐCP ngày 15/1/2003 về điều chỉnh lương, trợ cấp xã hội và do sản xuất tăng. Đời sống người lao động khu vực ngoài Nhà nước, dân cư thành thị và dân cư nông thôn ổn định và được cải thiện nhờ hưởng lợi từ các chính sách phát triển kinh tế, tăng sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, giá cả một số nông sản và thực phẩm tăng. Tuy tình hình thiếu đói đã giảm so với năm trước nhưng vẫn còn xảy ra.

22. Giáo dục, đào tạo:

Năm học 2002 - 2003 cả nước có 1,8 triệu học sinh tốt nghiệp tiểu học, 1,3 triệu tốt nghiệp trung học cơ sở và 688 nghìn tốt nghiệp trung học phổ thông. Kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2003 đã diễn ra trong trật tự, an toàn, đúng quy chế ở tất cả các khâu chuẩn bị, ra đề, tổ chức thi và tuyển sinh, góp phần từng bước lập lại trật tự, kỷ cương, công bằng và xử lý các hành vi tiêu cực trong thi cử. Vấn đề được dư luận xã hội quan tâm nhiều sau kỳ thi là số thí sinh đạt điểm trung bình ở cả 3 môn chỉ đạt khoảng 13% tổng số thí sinh dự thi. Khai giảng năm học 2003 - 2004: số trẻ em đến nhà trẻ, mẫu giáo, học sinh trung học đều tăng so với năm học trước, riêng học sinh tiểu học giảm 5,3%. Số giáo viên các cấp năm học 2003 - 2004 đã tăng so với các năm học trước, nhưng so với định mức chuẩn thì cả nước vẫn còn thiếu 25,5 nghìn giáo viên trung học cơ sở và thiếu 21,1 nghìn giáo viên trung học phổ thông. Riêng giáo viên tiểu học cả nước tuy không thiếu nhưng lại không đều giữa các vùng, trong đó Tây Nguyên còn thiếu khoảng 2 nghìn giáo viên so với quy định. Đến nay đã có 17 tỉnh, thành phố đã đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở.

23. Hoạt động văn hoá thông tin có những bước chuyển biến tích cực, phục vụ tốt các nhiệm vụ chính trị, đáp ứng đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế. Công tác thanh tra, kiểm tra văn hoá và phòng, chống tệ nạn xã hội được tiến hành thường xuyên. Bộ Văn hoá - Thông tin đã tập trung chỉ đạo toàn ngành tăng cường các biện pháp ngăn chặn tiêu cực trong lĩnh vực hoạt động và dịch vụ văn hoá; tăng cường truy quét văn hoá độc hại và hiện tượng in lậu, xuất bản lậu.

24. Hoạt động thể dục thể thao.

Năm 2003 là năm ngành Thể dục Thể thao triển khai tính cực thực hiện Chỉ thị số 17 CT - TW về phát triển Thể dục Thể thao đến năm 2010, trong đó nổi bật là tổ chức thành công Đại hội Thể dục Thể thao Đông Nam Á lần thứ 22 (SEA Games 22) và Đại hội Thể thao Người khuyết tật Đông Nam Á lần thứ 2 (ASEAN Paragames 2), được nhân dân cả nước, các quốc gia trong khu vực và bạn bè quốc tế đánh giá cao. Tại SEA Games đã có 26 kỷ lục được thiết lập: 1.440 huy chương đã được trao cho các vận động viên của các đoàn thể thao tham dự. Đoàn thể thao Việt Nam tham dự cả 32 môn thi đấu và đã đạt được vị trí dẫn đầu Đại hội với 346 huy chương các loại, trong đó có 158 huy chương vàng, 97 huy chương bạc và 91 huy chương đồng. Tại ASEAN Paragames 2 Đoàn Việt Nam xếp thứ 2, sau Đoàn Thái Lan, với 81 huy chương vàng, 61 HC bạc và 31 HC đồng. SEA Gaames 22 và ASEAN Paragames 2 đã tạo ấn tượng sâu sắc về Việt Nam trong lòng bạn bè quốc tế.

25. Tình hình dịch bệnh: Trong năm 2003 có 133,8 nghìn lượt người bị sốt rét, trong đó 42 người đã chết; 35,1 nghìn người bị sốt xuất huyết, trong đó 58 người chết và trên 5,3 nghìn lượt người bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 31 người đã tử vong. Tình hình HIV/AIDS tiếp tục gia tăng. Trong năm 2003 đã phát hiện thêm gần 16 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng số trường hợp bị nhiễm HIV trong cả nước đến 19/12/2003 lên 75,2 nghìn người, trong đó có 11,5 nghìn bệnh nhân AIDS và đã có gần 6,5 nghìn người chết do AIDS.

Cũng trong năm 2003 đã xảy ra dịch viêm đường hô hấp cấp (SARS), làm 63 trường hợp bị lây nhiễm, trong đó 5 người đã tử vong. Việt Nam đã có các biện pháp kịp thời và khống chế thành công SARS từ tháng 4/2003 và được Tổ chức Y tế Thế giới công nhận là quốc gia đầu tiên khống chế được dịch SARS. Hiện nay công tác phòng chống SARS vẫn tiếp tục được tăng cường và giám sát chặt chẽ, nhằm đối phó ngăn chặn nguy cơ bùng phát trở lại của SARS.

26. Tai nạn giao thông: Tình hình trật tự an toàn giao thông năm 2003, nhất là từ khi thực hiện Nghị quyết 13/2002/NQCP của Chính phủ về các giải pháp kiềm chế gia tăng và tiến tới giảm dần tai nạn và ùn tắc giao thông đến nay, đã có những chuyển biến đáng kể. Ý thức chấp hành luật giao thông của người dân tốt hơn; tình trạng đua xe đã được ngăn chặn; ùn tắc giao thông tại các thành phố lớn đã giảm và nhất là tai nạn giao thông đã giảm đáng kể so với 2002, tuy nhiên, tai nạn giao thông xảy ra vẫn còn cao: bình quân 1 ngày trong 11 tháng qua vẫn xảy ra 57 vụ với 32 người chết và 57 người bị thương do tai nạn giao thông.

27. Thiệt hại thiên tai: Trong năm 2003 đã xảy ra bão, lốc, mưa lũ, sạt lở đất đai tại nhiều địa phương trong cả nước gây thiệt hại về người và tài sản. Theo báo cáo của các tỉnh, thành phố, thiên tai đã làm trên 300 người chết, mất tích và trên 300 người bị thương. Giá trị thiệt hại ước tính trên 2 nghìn tỷ đồng.

Khái quát lại năm 2003 tình hình kinh tế xã hội vẫn tiếp tục ổn định và phát triển, hầu hết các chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2003 đều đạt và vượt mục tiêu kế hoạch đề ra đầu năm và tăng cao so với năm 2002. Thu ngân sách Nhà nước tăng khá, chi ngân sách đảm bảo được nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra, bội chi đạt mức dự toán. Giá tiêu dùng, giá ngoại tệ ổn định. Nhiều lĩnh vực xã hội cũng thu được kết quả tích cực: Đời sống dân cư ổn định và được cải thiện. Thiếu đói giáp hạt và dịch bệnh đều giảm so với năm 2002; hoạt động văn hoá, giáo dục được tăng cường; an ninh xã hội được giữ vững.

Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng của kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 đặt ra nhiệm vụ của 2 năm còn lại tương đối nặng nề. Để đạt được mục tiêu tăng trưởng 8% cho 2004, nền kinh tế đòi hỏi sự nỗ lực và quyết tâm cao hơn nhiều so với 2003 của tất cả các ngành, các cấp và trên tất cả các lĩnh vực để vượt qua những khó khăn như:

Trong nông nghiệp, đã có sự chuyển biến tích cực trong chuyển đổi cơ cấu trồng cây, vật nuôi và tăng năng suất, song vấn đề chất lượng sản phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm là những trở ngại làm giảm sức tiêu thụ ngay trên thị trường trong nước và ảnh hưởng đến cạnh tranh ở thị trường ngoài nước (xuất khẩu rau quả, thuỷ sản).

Trong công nghiệp, năm 2003 đã đạt được tốc độ 16%, nhưng tăng mạnh ở các mặt hàng dệt, may, dày dép và các sản phẩm gia công, lắp ráp, là những mặt hàng trước mắt có đóng góp nhiều cho tăng kim ngạch xuất khẩu và giải quyết việc làm cho người lao động nhưng có giá trị tăng thêm thấp và phụ thuộc nhiều vào nguyên vật liệu từ nước ngoài nên thường bị ảnh hưởng không nhỏ bởi yếu tố giá; vì vậy nâng cao sức cạnh tranh của hàng công nghiệp chung không chỉ qua chỉ qua chất lượng sản phẩm, chất lượng quản lý, giá cả, thương hiệu của từng sản phẩm mà bên cạnh mở rộng thị trường cần chú trọng hơn nữa đến việc chuyển đổi cơ cấu trong ngành công nghiệp và nội bộ từng ngành sản phẩm.

Trong năm 2003, nhờ có việc phát hành trái phiếu Chính phủ cho giáo dục và các công trình giao thông thuỷ lợi nên đã thu hút được thêm nguồn vốn cho đầu tư. Nhưng bố trí vốn đầu tư xây dựng còn dàn trải, quản lý và sử dụng vốn đầu tư cũng còn những bất cập, trong xây dựng còn thất thoát và lãng phí vì vậy hiệu quả đầu tư không cao và ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm trong tương lai.

Nhập siêu cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây, nhất là khu vực kinh tế trong nước. Khu vực kinh tế trong nước nhập siêu cao, do tốc độ tăng xuất khẩu của khu vực này thấp hơn tốc độ tăng của nhập khẩu và khoảng cách giữa tốc độ tăng xuất khẩu và tốc độ tăng nhập khẩu ngày càng roãng ra.

Cuối cùng, nâng cao sức cạnh tranh của toàn nền kinh tế nói chung, nhất là của doanh nghiệp trong nước vừa là nhiệm vụ cấp bách vừa là yếu tố quyết định để đạt được mục tiêu tăng trưởng và các mục tiêu kinh tế xã hội 2004.

Nguồn: Tổng cục Thống kê