TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CÔNG TÁC DÂN SỐ, GIA ĐÌNH VÀ TRẺ EM
NĂM 2003 VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ CÔNG TÁC NĂM 2004

 


1. Công tác Dân số - KHHGĐ: với việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền - giáo dục từ trung ương đến cơ sở; cung cấp đầy đủ các dịch vụ kế hoạch giá gia đình (KHHGĐ) theo các kênh nhà nước, tiếp thị xã hội và thị trường tự do; triển khai hoạt động chiến dịch đưa dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản (SKSS) KHHGĐ đến vùng khó khăn. v.v.. công tác dân số tiếp tục được duy trì và đạt kết quả khá. Ước tính cả năm, tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại đạt 107% so với kế hoạch, mức giảm tỷ lệ sinh thô đạt xấp xỉ mức 0,4% mà Quốc hội giao.

Truyền thông - giáo dục thay đổi hành vi

Hoạt động truyền thông tại tuyến tỉnh, huyện, xã được tăng cường cả về nội dung và hình thức triển khai thực hiện. Đến quý II năm 2003, ngành Dân số, Gia đình và Trẻ em có 139.485 cộng tác viên (CTV); trong đó có 9.555 CTV mới. chiếm 6,8%. Số lần CTV đến thăm hộ gia đình là 5.684.420 lần, bình quân 6,79 lần/tháng/CTV. Các ngành, đoàn thể ở địa phương đã tổ chức 59.351 lần mít tinh, nói chuyện chuyên đề; thực hiện 29.417 lần tuyên truyền lưu động; 10.154 lần chiếu phim, video và biểu diễn văn nghệ về dân số - KHHGĐ, gia đình và trẻ em; vẽ mới 38.870 khẩu hiệu; phân phát 1.252.889 tờ bướm, tranh ảnh và 190.031 cuốn sổ sách, tập san, tạp chí và 8.712 băng audio, video tuyên truyền về dân số - KHHGĐ, gia đình và trẻ em; duy trì hoạt động thường xuyên của 20.770 câu lạc bộ dân số dưới nhiều hình thức. Các tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động truyền thông trên hệ thống phát thanh, truyền hình với nhiều nội dung, hình thức phong phú và đa dạng nhằm tuyên truyền, vận động mọi tầng lớp nhân dân tham gia hưởng ứng "Tháng hành động vì trẻ em", “Ngày gia đình Việt Nam 28/6"  và "Ngày dân số thế giới 11/7".

Ở Trung ương, tập trung một số hoạt động: tổ chức thi thiết kế và đã chọn được biểu tượng (logo) chung cho ngành dân số, gia đình và trẻ em. Tổ chức 1 lớp đào tạo giảng viên quốc gia về tuyên truyền vận động và truyền thông chuyển đổi hành vi trong lĩnh vực dân số và chăm sóc SKSS cho 42 học viên là cán bộ truyền thông của một số tỉnh và các ban ngành trung ương. 10 lớp đào tạo giảng viên tuyến tỉnh cho 310 học viên. Tổ chức tập huấn cho 80 báo cáo viên của 61 tỉnh, thành phố về Pháp lệnh Dân số. Phối hợp Đài truyền hình Việt Nam tổ chức các buổi toạ đàm liên quan đến các nội dung về Pháp lệnh dân số. Phối hợp với Trung ương Đoàn và Đài truyền hình Việt Nam tổ chức cuộc thi mẫu tìm hiểu về SKSS vị thành niên giữa sinh viên 3 trường Đại học, làm cơ sở để xây dựng thể lệ và nội dung hướng dẫn các địa phương thuộc 36 tỉnh dự án thực hiện cuộc thi "tìm hiểu về SKSS vị thành niên trong các trường phổ thông trung học". Phối hợp với Thông tấn xã Việt Nam xây dựng phóng sự "Giảm sinh vững chắc và nâng cao chất lượng dân số".

Tăng cường đưa dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ đến các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa.

Năm 2003, là năm đầu tiên dự án được triển khai bằng nguồn vốn ngân sách, ngay từ đầu năm, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em đã có văn bản hướng dẫn 43 tỉnh, thành phố triển khai dự án tập trung duy trì tốt các hoạt động ở cơ sở, huy động tối đa các nguồn lực và sự ủng hộ của các cấp chính quyền, đoàn thể. Đặc biệt là sự phối hợp công tác với ngành y tế trong việc cung ứng các dịch vụ lâm sàng về SKSS/KHHGĐ. Theo báo cáo của các tỉnh, có 21 tỉnh đã mở rộng thêm địa bàn dự án, tăng 533 xã (trong đó, 4 tỉnh có số lượng xã được triển khai tăng thêm nhiều nhất gồm: An Giang là 101 xã, Thừa Thiên Huế là 73 xã, Kiên Giang là 63 xã và Lâm Đồng là 60 xã). Riêng thành phố Hải Phòng, bằng nguồn vốn ngân sách địa phương đã triển khai chiến dịch tại 80 xã nghèo vùng khó khăn, hải đảo. Như vậy, tổng số xã triển khai chiến dịch trong năm là 2.580 xã, tăng 11,9% so với kế hoạch (2.306 xã). Tuy nhiên còn một số tỉnh đã không bố trí kinh phí để triển khai chiến dịch này mặc dù ngân sách trung ương đã cân đối đó là tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Bình Định và Đồng Tháp.

Hoàn thiện hệ thông tin quản lý chuyên ngành dân số.

Hầu hết các tỉnh, thành phố có báo cáo thống kê chuyên ngành đúng và đủ theo các biểu mẫu quy định. Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em đã phối hợp với Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em Hưng Yên tiến hành thử nghiệm phần mềm hệ thống tin quản lý chuyên ngành dân số. Tiếp tục duy trì thử nghiệm hệ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, chuẩn bị đề án thí điểm xây dựng hệ hoàn chỉnh cho 01 tỉnh.

Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến chất lượng dân số

Triển khai thí điểm mô hình nâng cao chất lượng dân số tại cộng đồng ở 6 tỉnh (Hà Tây, Long An, Hà Nam, Cao Bằng, Hải Dương, Bình Dương) và mô hình kiểm tra sức khoẻ và tư vấn tiền hôn nhân tại 3 tỉnh (Nam Định, Hưng Yên, Thừa Thiên Huế). Các nghiên cứu, thử nghiệm về bảo quản mô phôi, nuôi cấy tế bào và di truyền người do trường Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh  và Đại học Y Hà Nội tiếp tục được thực hiện theo đúng tiến độ đề ra.

Lồng ghép dân số với phát triển gia đình bền vững.

Tiếp tục duy trì và mở rộng dự án lồng ghép dân số, chăm sóc SKSS/KHHGĐ với phát triển gia đình bền vững thông qua hoạt động nhóm tín dụng - tiết kiệm phát triển kinh tế gia đình, từ 4 tỉnh năm 2002 lên 32 tỉnh năm 2003, mở rộng thêm 28 tỉnh. Trong 9 tháng đầu năm, Uỷ ban đã tổ chức hội nghị triển khai dự án và tập huấn nghiệp vụ cho 178 cán bộ quản lý dự án của 30 tỉnh dự án. Qua khoá tập huấn, các học viên đánh giá cao nếu dự án được triển khai sẽ tạo điều kiện cho các gia đình trong cộng đồng gắn bó với nhau hơn, từng gia đình có cơ hội được hưởng sự quan tâm, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ ban và tiếp nhận các kiến thức bổ ích trong việc bảo vệ chăm sóc sức khoẻ, phát triển kinh tế, xây dựng gia đình phát triển bền vững. Đây là mô hình dự án được đánh giá là có hiệu quả vì vậy một số tỉnh đã tự tổ chức bằng nguồn ngân sách địa phương như Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương.

Chăm sóc sức khoẻ sinh sản và KHHGĐ.

Hậu cần phương tiện tránh thai: Triển khai kế hoạch phân phối các phương tiện tránh thái và quản lý hậu cần từ các nguồn viện trợ cho các tỉnh, thành phố và các ban, ngành trung ương. Tính đến hết tháng 6/2003, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em đã cấp phát được 540.500 vòng tránh thai các loại 8.263.368 vỉ thuốc uống tránh thai; 167.300 lọ thuốc tiêm DMPA; 3.300 liều thuốc cấy tránh thai Implanon và 20 triệu chiếc bao cao su, đáp ứng kịp thời nhu cầu phương tiện tránh thai của các địa phương.

2. Công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em tiếp tục được đẩy mạnh. Hệ thống Dân số, Gia đình và Trẻ em các cấp đã phấn đấu, duy trì và giữ vững các mục tiêu đã đạt được trong những năm qua và phấn đấu hoàn thành các mục tiêu chưa đạt. Vì vậy tình hình trẻ em có nhiều chuyển biến tích cực, các quyền của trẻ em tiếp tục được đảm bảo, 15 mục tiêu của chương trình hành động vì trẻ em tiếp tục được thực hiện. Năm 2003 tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ ở trẻ em dưới 1 tuổi đạt tương đối cao và khá đồng đều ở các vùng, tỷ lệ mắc bệnh và chết do các bệnh nhiễm khuẩn trẻ em đã liên tục giảm qua các năm. Tỷ lệ suy sinh dưỡng cân nặng theo tuổi ở trẻ em dưới 5 tuổi năm 2002 là 30,1% năm 2003 khoảng 28%.

Text Box: Đồng chí Nguyễn Khoa Điềm đến làm việc 
và chúc tết Uỷ ban DS,GĐ&TEVề giáo dục, hầu hết các địa phương số trẻ em đi học nhà trẻ và mẫu giáo đã tăng so với năm học trước. Năm học 2002 - 2003 cả nước có trên 2,5 triệu trẻ em đi học mầm non, tăng 0,3% so với năm 2001 - 2002. Số trẻ em đi nhà trẻ đạt 9,8% so với tổng số trẻ em dưới 3 tuổi. Có 46,4% số trẻ em từ 3 đến 5 tuổi đi học mẫu giáo. Quy mô học sinh tiểu học tiếp tục giảm tiến dần đến ổn định. Số học sinh tiểu học Năm học 2002 - 2003 giảm 9,8% so với năm học 2000 - 2001, trong đó tỷ lệ đi học đúng tuổi đạt 96,8%. Số học sinh trung học cơ sở tăng đều trong những năm gần đây. Năm học 2002 - 2003 tăng 9,8% so với năm học 2000 - 2001, trong đó tỷ lệ đi học đúng tuổi đạt 78,1%. Công tác phổ cập trung học cơ sở tiếp tục được đẩy mạnh. Tính đến cuối tháng 3/2002, cả nước có 15 tỉnh, thành phố hoàn thành phổ cập trung học cơ sở là: Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Tuyên Quang, Hà Tĩnh, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh. Về chất lượng và hiệu quả giáo dục, trong năm học 2002 - 2003 tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học đã giảm dần và tỷ lệ hoàn thành cấp tiểu học và trung học cơ sở tăng nhanh. Mạng lưới trường lớp tiếp tục được củng cố và phát triển, hầu hết các tỉnh, thành phố đều đã có hệ thống trường, lớp ngoài công lập. Năm học 2002 - 2003 cả nước có 9.715 trường mầm non với 124,2 nghìn lớp, trong đó có 6.118 trường mầm non ngoài công lập với 84,3 nghìn lớp. Về giáo dục phổ thông, năm học 2002 - 2003 cả nước có 25.825 trường phổ thông từ tiểu học đến trung học phổ thông, năm học 2002 - 2003 cả nước có 25.825 trường phổ thông từ tiểu học đến trung học phổ thông, tăng 4,6% so với năm học 2000 - 2001. Một số vùng có số trường tăng nhanh là: Tây Bắc tăng 13,9%, Tây Nguyên tăng 10,5%.

- Phát động Tháng hành động vì trẻ em với chủ đề "Xây dựng xã, phường phù hợp với trẻ em" đã tạo được sự quan tâm của toàn xã hội. Các địa phương đã có nhiều hoạt động phong phú hưởng ứng tháng hành động vì trẻ em. 61/61 tỉnh/thành phố đã tổ chức phát động trên toàn tỉnh, Uỷ ban DSGĐ&TE các tỉnh, thành đã tham mưu cho UBND có văn bản chỉ đạo, kế hoạch, hướng dẫn triển khai Tháng hành động vì trẻ em cho cấp cơ sở. Các hoạt động chủ yếu được  các địa phương tổ chức như gặp mặt, thăm hỏi tặng quà đến trẻ em khuyết tật và trẻ em nghèo vượt khó, tổ chức liên hoan văn nghệ thiếu nhi (Yên Bái, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Khánh Hoà, Kiên Giang...), khám chữa bệnh miễn phí cho phụ nữ và trẻ em (Hà Nội, Đồng Nai), các hoạt động hè được nhiều ban, ngành đoàn thể của tỉnh tham gia tổ chức thực hiện (Bắc Kạn, Thái Bình, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hưng yên, Bắc Giang...) Riêng tỉnh An Giang đã xây dựng kế hoạch tổ chức điểm giữ trẻ trong mùa lũ và tổ chức lớp tập huấn cộng tác viên giữ trẻ  trong mùa lũ. Nhân dịp Tết Trung thu 2003,  Uỷ ban đã có chủ trương phối hợp với Uỷ ban nhân dân một số tỉnh vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn để tổ chức điểm đón Tết trung thu cho trẻ em tại các tỉnh này. Uỷ ban đã chọn phối hợp với Uỷ ban nhân dân 3 tỉnh: Tuyên Quang, Gia Lai, Cần Thơ để tổ chức Trung thu cho trẻ em thuộc 11 tỉnh/thành phố với tổng kinh phí là 400 triệu đồng.

- Tập trung chỉ đạo giải quyết vấn đề trẻ em lang thang. Trước mắt năm 2003 giải quyết đưa trẻ em ở 2 thành phố Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh về với gia đình và hoà nhập cộng đồng trong Quý IV năm 2003, làm cơ sở và rút kinh nghiệm cho việc triển khai đề án giải quyết trẻ em lang thang giai đoạn 2004 - 2010. Kết quả bước đầu đã khẳng định việc tổ chức đưa trẻ em lang thang về với gia đình và hoà nhập cộng đồng là một quyết định đúng đắn và kịp thời, bảo đảm thực hiện các quyền của trẻ em đã được luật pháp quy định. Chủ trương trên đã tạo được bước chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, nâng cao trách nhiệm của gia đình và cộng đồng, tạo được sự phối hợp đồng bộ của các ngành, các cấp, các đoàn thể trong việc giải quyết vấn đề trẻ em lang thang. Nhiều địa phương đã chủ động xây dựng kế hoạch giải quyết trong thời gian trước mắt và hướng tới những biện pháp ổn định lâu dài. Công tác đón nhận và quản lý trẻ em lang thang được thực hiện theo một quy định chặt chẽ (có sự cam kết giữa chính quyền địa phương với gia đình và bản thân trẻ, không để các em tái lang thang). Một số địa phương với gia đình và bản thân trẻ, không để các em tái thang lang). Một số địa phương đã có kế hoạch dạy nghề cho trẻ em lang thang hồi gia, trẻ em có nguy cơ lang thang tại cộng đồng như Hà Nam, Hưng Yên... Đến hết năm 2003 đã giải quyết được 75% trẻ em lang thang ở hai TP. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh về với gia đình và hoà nhập cộng đồng.

- Bộ Giáo dục - Đào tạo đã có văn bản chỉ đạo Sở Giáo dục - Đào tạo của 61 tỉnh/ thành phố tham gia giải quyết trẻ em lang thang, hỗ trợ học văn hoá, học nghề cho trẻ em trong trường giáo dưỡng và chuẩn bị cho các em sau khi ra trường, đầu tư thí điểm dậy nghề cho gần 100 trẻ em tại trường giáo dưỡng số 2 với các nghề: xây dựng, cơ khí và vi tính văn phòng, trong quý I/2003 nhà trường đã tổng kết trao giấy chứng nhận cho các em học vi tính văn phòng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự kiến sẽ tiếp tục đầu tư để triển khai các lớp trên trong thời gian tới nhằm rút kinh nghiệm có thể nhân rộng mô hình đào tạo này.

- Phối hợp với Bộ Y tế xây dựng kế hoạch và tổ chức điều tra, khảo sát điểm tình hình trẻ em khuyết tận làm cơ sở cho việc xây dựng đề án giải quyết mang tính tổng thể cho trẻ em khuyết tật trong năm 2004.

- Năm 2003, Quỹ Bảo trợ trẻ em đã vận động được khoảng 25 tỷ đồng và đã chi 19 tỷ đồng để thực hiện các chương trình, dự án với 15.000 trẻ em được hưởng lợi trực tiếp và gần 50.000 em được nhận quà tặng và hỗ trợ trực tiếp của Quỹ. Cụ thể, hỗ trợ cho 1.897 trẻ em khuyết tật, trẻ em nạn nhân chất độc da cam thuộc 20 tỉnh, được tham gia luyện tập, phẫu thuật dị tật vận động và phục hồi chức năng. Chương trình phẫu thuật nụ cười đã phẫu thuật cho 878 em thuộc 15 tỉnh. Triển khai luyện tập phát âm cho 6.000 trẻ em sau phẫu thuật khe hở vòm miệng tại 26 tỉnh, bước đầu có 70% số trẻ em được luyện tập có tiến bộ, sửa được 2/3 số âm lỗi, 20% số trẻ em nói ngọng đã phát âm bình thường và hoà nhập cộng đồng. Chương trình "Vì ánh mắt trẻ thơ" được triển khai ở 50 tỉnh, thành phố, đã phẫu thuật cho 3.183 em bị các bệnh về mắt. Đã phẫu thuật chỉnh hình cho 291 trẻ em bị dị tật vận động ở 27 tỉnh, thành phố. Tổ chức 9 em được phẫu thuật tim tại Hàn Quốc. Tổ chức khánh thành và triển khai xây dựng 26 lớp học mẫu giáo và phổ thông cho trẻ em vùng khó khăn. Cấp 2.764 suất học bổng cho trẻ em con thương binh, liệt sỹ, trẻ em nghèo tiểu học, học giỏi, trẻ em đạt tiêu chuẩn con cháu hiếu thảo, trẻ em vùng dân tộc, trẻ em gái, trẻ em khuyết tận có ý chí vươn lên trong học tập. Hỗ trợ xây dựng 9 điểm vui chơi.

Năm 2003 Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam đã tổ chức ký kết chương trình phối hợp với Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo TP. Hồ Chí Minh, tổ chức phẫu thuật, phục hồi chức năng cho trẻ em khuyết tật: phẫu thuật mắt cho 2000 ca, tổ chức trao 500 xe lăn cho trẻ em khuyết tật.

Năm 2003 là năm có nhiều khó khăn, thách thức, các hội, các tổ chức từ thiện phát triển, sự cạnh tranh trong vận động diễn ra trong cùng một địa bàn dân cư, cùng các bộ, ngành, đơn vị sản xuất; bộ máy tổ chức Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam và hệ thống Quỹ Bảo trợ trẻ em các cấp đang trong quá trình kiện toàn và phát triển. Tuy nhiên, năm 2003 đã đánh dấu một bước sự trưởng thành của Quỹ, cùng với việc ban hành Nghị định số 94/2002/NĐ-CP về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em, Quyết định số 135/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc củng cố và phát triển Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam ngày 09/07/2003, đã tạo những cơ sở pháp lý rất quan trọng cho việc kiện toàn tổ chức bộ máy của Quỹ và tạo tiền đề cho những kết quả đã đạt trong năm nay.

Báo Gia đình và Xã hội ngoài nhiệm vụ chính là làm báo đã phối hợp với một số bộ ngành và nhà tài trợ phát động các phong trào "Tết này ấm hơn" quyên góp hơn 40.000 bộ quần áo để cấp cho trẻ em vùng sâu, vùng xa của 8 tỉnh miền núi phía Bắc và 2 tỉnh Bắc trung bộ (Quảng Bình và Quảng Trị) trong dịp tết Nguyên đán 2003; phong trào "Xe lăn cho trẻ em tàn tật nghèo", đến nay đã quyền góp được hơn 600 xe lăn để cấp cho trẻ em tàn tật nghèo các tỉnh phía Bắc và Nam bộ có hoàn cảnh khó khăn. Phối hợp với Sở Giáo dục Đào tạo Hà Nội và Cục Chính trị Bộ đội Biên phong tổ chức phong trào "sách giáo khoa và đồ dùng học tập cho trẻ em biên giới và hải đảo" đã quyên góp được hơn 500.000 cuốn sách giáo khoa, vở viết các loại và đã trao quà cho các em trong dịp bước vào năm học 2003 - 2004.

- Tập trung chỉ đạo một số mô hình thí điểm: Tổ chức khảo sát tại 3 khu vực để làm cơ sở "Xây dựng xã phường phù hợp với trẻ em". Phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Giáo dục và Đào tạo tiến hành các hoạt động hỗ trợ cho trẻ em các vùng biên giới nghèo, vùng dân tộc thiểu số về giáo dục mầm non và vui chơi giải trí cho trẻ em, góp phần giảm dần khoảng cách giữa trẻ em dân tộc thiểu số và trẻ em miền xuôi. Phối hợp với Bộ Y tế duy trì các hoạt động phòng chống tai nạn thương tích.

Hướng dẫn các địa phương tiếp tục duy trì mô hình phòng chống HIV/AIDS cho trẻ em tại cộng đồng của các xã điểm thuộc 2 tỉnh Thái Nguyên và Thừa Thiên Huế, phối hợp với Viện Dinh dưỡng xây dựng kế hoạch kiểm tra giám sát hoạt động tại các tỉnh triển khai dự án phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi.

Tại các địa phương, trong khi Thủ tướng Chính phủ chưa có quyết định phê duyệt chương trình bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, thì hầu hết các địa phương đã chủ động xây dựng chương trình giai đoạn 2003 - 2010, trong đó nhiều địa phương đã cụ thể hoá bằng các quyết định của UBND tỉnh. Thực hiện theo hướng dẫn của Trung ương, các địa phương đang tiến hành tổ chức đánh giá giữa kỳ các mục tiêu vì trẻ em giai đoạn 2001 - 2005, thu thập số liệu trẻ em lang thang, trẻ em khuyết tật, tình hình gia đình... Chủ động xây dựng mô hình xã phường phù hợp với trẻ em ví dụ như Bà Rịa - Vũng Tàu tổ chức cuộc vận động "Xây dựng khu dân cư, xã phường phù hợp với trẻ em" giai đoạn 2003 - 2005 và đã có 6 xã phường, thị trấn cùng 75 khu dân cư ký cam kết thực hiện các tiêu chí "Khu dân cư, xã, phường phù hợp với trẻ em".

3. Công tác gia đình: Là một lĩnh vực mới, do đó Uỷ ban đã tập trung vào việc hoạch định chiến lược về công tác gia đình. Ngay từ đầu năm, Uỷ ban đã tổ chức tổng hợp phân tích các công trình nghiên cứu về gia đình trong 10 năm qua, các văn bản của Nhà nước, quốc tế liên quan đến gia đình: tiến hành hội thảo lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia và các nhà khoa học, nhà quản lý của 61 tỉnh/ thành tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Phú Thọ và Đà Nẵng để hoàn thiện dự thảo Chiến lược Gia đình.

- Hướng dẫn các địa phương tổ chức xây dựng và hoàn thiện các mô hình gia đình theo định hướng no ấm, bình đẳng, tiến độ, hạnh phúc và bền vững, tổ chức khảo sát, đánh giá các mô hình hiện có.

- Ngày gia đình Việt Nam năm nay với chủ đề "Xây dựng nếp sống gia đình văn hoá, chủ động phòng, chống các tệ nạn xã hội ngay tại gia đình và cộng đồng" đã được các địa phương hưởng ứng với nhiều hình thức đa dạng phong phú như mít tinh kỷ niệm, tổ chức tuyên truyền cổ động trên các phương tiện truyền thông, tổ chức biểu dương các gia đình tiêu biểu (Hà Nội, Hải Dương, Vĩnh Phúc...), ở Trung ương ngay từ đầu năm đã có hướng dẫn địa phương tổ chức. Ngày gia đình Việt Nam; phối hợp với Đài truyền hình Việt Nam, Đài tiếng nói Việt Nam và các cơ quan thông tấn báo chí nội dung tuyên truyền về Ngày Gia đình Việt Nam. Tổ chức toạ đàm trên truyền hình với chủ đề "Gia đình với phòng chống tệ nạn xã hội". Phối hợp với 4 tỉnh Hải Dương, Thanh Hoá, Phú Yên, Tiền Giang tổ chức Ngày Gia đình Việt Nam. Việc tổ chức tốt các hoạt động nhân ngày Gia đình Việt Nam có tác dụng nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về những gia đình tốt đẹp của gia đình Việt Nam, vị trí - vai trò của gia đình trong phát triển xã hội.

4. Hoạt động hợp tác quốc tế.

Được Chính phủ uỷ quyền, Uỷ ban đã bảo vệ có kết quả báo cáo 5 năm thực hiện công ước quốc tế về quyền trẻ em, tham dự Hội nghị quốc tế về quyền trẻ em, Hội nghị Châu Á - Thái Bình Dương về dân số. Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế đánh giá cao kết quả đạt được trong lĩnh vực Dân số, Bảo vệ và chăm sóc trẻ em của Việt Nam.

Công tác vận động nguồn lực và hỗ trợ kỹ thuật của quốc tế:

Để huy động thêm nguồn lực cho chương trình, trong năm 2003 đã tổ chức những cuộc tiếp xúc với một số tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ là những nhà tài trợ truyền thống như WB, ADB, UNFPA, UNICEF, KfW, GTZ, DKT, Plan International, Population Cuncil... Ngoài ra Uỷ ban còn tổ chức các buổi làm việc, tiếp xúc nhân dịp tham gia các hội nghị hội thảo quốc tế, trao đổi qua thư với một số tổ chức quốc tế mới đặt quan hệ hợp tác với Uỷ ban để tìm kiếm cơ hội hợp tác, cơ hội đào tạo như Bộ Gia đình và các dịch vụ cộng đồng Úc, Ban điều phối chương trình KHHGĐ Indonesia, Uỷ ban Quốc gia sinh đẻ có kế hoạch Trung quốc, Bộ phát triển cộng đồng và thể thao Singapore, Bộ Y tế Thái Lan, Trung tâm con nuôi Thuỵ Điển, Bộ Quân bình và bình đẳng việc làm của Pháp về vấn đề trẻ em làm trái pháp luật, Tổ chức các đối tác về dân số và phát triển (Hợp tác Nam - Nam), Quỹ phúc lợi Hàn Quốc; Liên minh cứu trợ trẻ em các nước Nhật Bản, Thuỵ Điển, Anh, Hoa Kỳ, Úc... Đặc biệt là phối hợp tốt với các đại sứ quán các nước có quan hệ hợp tác trực tiếp với Uỷ ban tại Việt Nam và các đại quán Việt Nam ở nước ngoài và các tổ chức quốc tế khác.

 

II. Phương hướng, nhiệm vụ công tác dân số, gia đình và trẻ em năm 2004.

Phương hướng chung:

Năm 2004 là năm hết sức quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu đã được xác định trong chiến lược dân số Việt Nam 2001 - 2010, Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em 2001 - 2010 và các hoạt động trong lĩnh vực gia đình. Việc đạt được các mục tiêu của kế hoạch năm 2004 tạo cơ sở để đạt được mục tiêu của chương trình mục tiêu 5 năm 2001 - 2005 về Dân số - Kế hoạch hoá gia đình nói chung và đạt mục tiêu mức sinh thay thế nói riêng vào năm 2005, đạt được các mục tiêu 5 năm của Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em 2001 - 2010, cũng như bước đầu xây dựng các mô hình và chuẩn bị nguồn lực cho việc thực hiện các mục tiêu cụ thể của lĩnh vực gia đình, hướng đến mô hình gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.

Do vậy, trong năm 2004, phương hướng chung cho công tác dân số, gia đình và trẻ em là: tăng cường quản lý nhà nước, tiếp tục củng cố và kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác chỉ đạo, điều hành, triển khai đồng bộ hệ thống các giải pháp, hướng về cơ sở, tập trung ưu tiên cho vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Nỗ lực phấn đấu đạt được các mục tiêu kế hoạch năm 2004 về dân số, gia đình và trẻ em đã được xác định trong Chiến lược Dân số Việt Nam 2001 - 2010. Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em 2001 - 2010 và Chiến lược Gia đình Việt Nam 2004 - 2010 (dự kiến sẽ được phê duyệt) và đạt được các mục tiêu của Nghị quyết kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XI.

Các mục tiêu chủ yếu.

1. Về công tác dân số.

Tập trung mọi nỗ lực tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về Dân số - Kế hoạch hoá gia đình 2001 - 2005, thực hiện đồng bộ 7 dự án nhằm đạt mục tiêu giảm sinh vững chắc, đặc biệt là những vùng có mức sinh cao, vùng sâu, vùng xa, vùng nghèo nhằm duy trì mức giảm tỷ lệ sinh 0,4%o để đạt mức sinh thay thế vào năm 2005, tăng tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại lên 67% giảm 5% số người nạo phá thai, góp phần cải thiện tình trạng sức khoẻ sinh sản. Tiếp tục xây dựng và thử nghiệm những mô hình nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần, đẩy mạnh chương trình cải thiện tình trạng sức khoẻ sinh sản cho vị thành niên; Mở rộng mô hình lồng ghép dân số với nhóm gia đình vay vốn tín dụng - tiết kiệm ra các tỉnh, thành phố chưa triển khai; nâng cao chất lượng thông tin, dữ liệu dân cư trên cơ sở hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý chuyên ngành DSGĐ&TE và chuẩn bị điều kiện cho việc thiết lập hệ cơ sở dữ liệu quốc gia dân cư.

2. Về công tác chăm sóc bảo vệ trẻ em.

Phối hợp chặt chẽ với các ngành, đoàn thể triển khai mạnh việc thực hiện Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em 2001 - 2010 và Chương trình bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhằm bảo đảm thực hiện tốt hơn các quyền trẻ em, phòng ngừa và hạn chế tối đa sự phát sinh trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, giảm dần số trẻ em lang thang, trẻ em bị tai nạn thương tích, trẻ em nghiện hút, trẻ em bị nhiễm HIV/ AIDS và trẻ em có hành vi trái pháp luật, phấn đấu đạt được một số chỉ tiêu cơ bản sau:

- Tăng 2% số trẻ em đi học đúng độ tuổi ở các cấp học phổ thông, tăng 5% số trẻ em được đến nhà trẻ, mẫu giáo đưa tỷ lệ trẻ từ 3 - 5 tuổi được đi học mẫu giáo lên 50%.

- Giảm tỷ lệ chết trẻ em dưới 5 tuổi xuống 35%, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng xuống mức 26%.

- Giảm 20% trẻ em lang thang kiếm sống; 5% trẻ em bị xâm hại tình dục, mới mắc nghiện ma tuý.

- Tăng 5% số trẻ em khuyết tật được trợ giúp khắc phục; tăng 5% số tre em khó khăn được trợ giúp.

- Phấn đấu có ít nhất 5% số xã, phường đạt tiêu chuẩn xã, phường phù hợp với trẻ em.

3. Về công tác gia đình.

Triển khai chiến lược gia đình Việt Nam, xây dựng các mô hình làm cơ sở để mở rộng triển khai trên cả nước, xúc tiến việc nghiên cứu về gia đình làm cơ sở cho xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách và quản lý nhà nước về gia đình theo định hướng xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Xây dựng tiêu chí về gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới.

 

Các giải pháp chính.

1. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ đảng và chính quyền đối với công tác dân số, gia đình và trẻ em, đồng thời nâng cao hiệu quả chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em các cấp. Uỷ ban dân số, Gia đình và Trẻ em các cấp làm tốt công tác tham mưu, kịp thời đề xuất với lãnh đạo các chính sách, giải pháp thích hợp nhằm đẩy mạnh công tác dân số, gia đình và trẻ em ở cấp mình, địa phương mình, đồng thời thường xuyên phản ánh những vấn đề có phạm vi rộng, những vướng mắc, khó khăn phải được xử lý ở cấp cao hơn lên cấp trên, giúp cấp trên nắm và tổng hợp được tình hình để đề xuất các chính sách, giải pháp phù hợp. Ở Trung ương sẽ tập trung phối hợp với các bộ, ngành liên quan khẩn trương xây dựng Nghị quyết của Bộ chính trị về việc đẩy mạnh công tác dân số, thực hiện Chiến lược gia đình. Ở địa phương, cùng với việc triển khai các nghị quyết của Trung ương, cần chủ động tham mưu cho cấp uỷ có văn bản chỉ đạo để đẩy mạnh công tác DSGĐTE ở địa phương mình một cách phù hợp.

2. Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy và cán bộ, tăng cường kỷ luật hành chính, đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao.

Kiện toàn, củng cố và ổn định hệ thống tổ chức làm công tác Dân số, Gia đình và Trẻ em ở các cấp, đặc biệt là ở cấp cơ sở để đảm nhiệm chức năng tổ chức, quản lý và triển khai chương trình Dân số, Gia đình và Trẻ em.

Ở Trung ương, trên cơ sở tổ chức bộ máy, cán bộ đã được sắp xếp bước đầu, tiếp tục rà soát để cụ thể hoá hơn nữa chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị thuộc khối quản lý Nhà nước và khối sự nghiệp, hoàn chỉnh thêm một bước quy chế, quy định làm việc và phối hợp giữa các đơn vị; sắp xếp và xác định rõ nhiệm vụ của từng vị trí công việc, cải tiến lề lối làm việc nhằm nâng cao hơn hiệu xuất công tác.

Các địa phương, theo hướng dẫn của Trung ương tập trung củng cố và hoàn thiện hệ thống cán bộ dân số, gia đình và trẻ em cấp xã và cộng tác viên dân số, gia đình và trẻ em. Trước mắt cố gắng ổn định đội ngũ cán bộ chuyên trách ở xã, phường. Tăng cường đào tạo nghiệp vụ quản lý, cập nhật kiến thức ngoại ngữ và tin học cho cán bộ ở cấp trung ương và tỉnh.

3. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả của hoạt động truyền thống, giáo dục thay đổi hành vi nhằm nâng cao nhận thức, thái độ và hành vi của toàn xã hội về dân số, gia đình và trẻ em.

Các hoạt động truyền thông, giáo dục tập trung hướng vào việc thúc đẩy tự nguyện chấp nhận thực hiện kế hoạch hoá gia đình, thực hiện gia đình ít con, nâng cao sự quan tâm hiểu biết và trách nhiệm vè các quyền trẻ em, vai trò của gia đình, trách nhiệm, cách thức xây dựng và củng cố gia đình no ấm, bình đẳn, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.

Duy trì và nâng cao chất lượng các hoạt động truyền thống định kỳ trên các phương tiện thông tin đại chúng, đồng thời tổ chức các chiến dịch truyền thống trong các dịp Tháng hành động vì trẻ em. Ngày gia đình Việt Nam, Ngày dân số Thế giới, Ngày dân số Việt Nam, tạp chí của ngành phải tập trung cho việc tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về DSGĐTE, các định hướng công tác của Uỷ ban, biểu dương kịp thời các điển hình tốt, phê phán các hiện tượng chưa tốt trong công tácnày.

4. Đẩy mạnh xã hội hoá công tác Dân số, Gia đình và Trẻ em.

Tăng cường và phát huy hiệu quả sự tham gia của các Ban, ngành, đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội trong công tác DS,GĐ&TE. Trước mắt thực hiện tốt chương trình phối hợp thực hiện chương trình DS,GĐ&TE 2004-2010 đã ký kết với 10 ban, ngành, đoàn thể. Tiếp tục nghiên cứu, phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể khác, xây dựng và ký kết các chương trình phối hợp, tạo cơ sở để huy động sự tham gia ngày càng rộng rãi hơn của các ngành, đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội.

Huy động sự tham gia ngày càng rộng rãi hơn sự tham gia của các tổ chức, cộng đồng và cá nhân trong công tác DS,GĐ&TE. Tiếp tục duy trì các phong trào hiện có như phong trào xã phường không có người sinh con thứ 3, phong trào gia đình nông dân 6 chuẩn mực "người lớn gương mẫu, con cháu thảo hiền" trong lĩnh vực gia đình v.v... trong lĩnh vực trẻ em nghiên cứu và phát động phong trào xây dựng" xã, phường phù hợp với trẻ em" và các phong trào phù hợp khác.

5. Mở rộng lĩnh vực cung cấp các dịch vụ thiết yếu về dân số, gia đình và trẻ em theo mô hình hiện có, xúc tiến mạnh việc xây dựng, thử nghiệm các mô hình mới làm cơ sở mở rộng việc cung cấp các dịch vụ này trong những năm tiếp theo.

Trong lĩnh vực dân số, cần đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời các phương tiện và dịch vụ kế hoạch hoá gia đình, cải thiện tình trạng sử dụng các biện pháp đình sản, đặt dụng cụ tử cung, mở rộng việc cung cấp thuốc tiêm, thuốc cấy tranh thai, mở rộng tiếp thị xã hội các phương tiện tránh thai phi lâm sang. Tiếp tục thực hiện mô hình giáo dục tiền hôn nhân, các mô hình câu lạc bộ gia đình trẻ em, gia đình nông dân 6 chuẩn mực v.v..., xây dựng và nhanh chóng mở rộng chương trình sức khoẻ sinh sản vị thành niên, kiểm tra sức khoẻ trước hôn nhân v.v.. Trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc trẻ em: phối hợp cùng với các ngành có liên quan cải thiện việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, vui chơi, giải trí cho trẻ em.

6. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành. Tập trung ưu tiên các nghiên cứu tác nghiệp, nghiên cứu khảo sát đánh giá thực trạng, đánh giá tác động của các chính sách hiện có trong lĩnh vực Dân số, Gia đình và Trẻ em làm cơ sở cho xây dựng chính sách và điều hành, chỉ đạo ở cấp Trung ương và cấp tỉnh, thành phố.

7. Tăng cường hợp tác quốc tế, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn viện trợ, hỗ trợ tích cực cho thực hiện các mục tiêu về DS, GĐ&TE.

Tiếp tục triển khai tiến độ các dự án đã ký kết với UNFPA,. UNICEF, Ngân hàng tái thiết Đức.

Chủ động xây dựng các dự án huy động các nguồn viện trợ và vốn vay ưu đãi, đồng thời tích cực tiếp xúc với các tổ chức có tiềm lực và có mối quan tâm đến lĩnh vực DS,GĐ&TE, nhất là các tổ chức đã có quan hệ trước đây để huy động sự hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính cần thiết cho các dự án. Tập trung xây dựng dự án tranh thủ vốn vay của WB, ADB cho lĩnh vực DSGĐTE.

8. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách về dân số, gia đình và trẻ em, tạo cơ sở pháp lý và động lực thúc đẩy quá trình tổ chức thực hiện công tác này.

Trên cơ sở rà soát các nội dung của Pháp lệnh dân số và Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của Pháp lệnh dân số, tiếp tục xây dựng các văn bản pháp quy có liên quan, đảm bảo Pháp lệnh có hiệu lực thực tế. Trước mắt, phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an hoàn thiện Nghị định về đăng ký dân số và cơ sở dữ liệu dân cư quốc gia. Xây dựng tiếp Nghị định xử phạt hành chính trong lĩnh vực dân số, Gia đình và Trẻ em, Nghị đinh xã hội hoá công tác Dân số, Gia đình và Trẻ em, đồng thời xây dựng các Thông tư hướng dẫn nhằm cụ thể hoá các nội dung các Pháp lệnh các Nghị định trên. Hoàn thiện các chính sách khuyến khích và không khuyến khích trong lĩnh vực Dân số - Kế hoạch hoá gia đình. Trong lĩnh vực trẻ em, cùng với việc hoàn thiện Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (sửa đổi), trình Quốc hội thông qua, xúc tiến hoàn thiện nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện luật và các văn bản pháp quy khác, nhanh chóng đưa những nội dung của Luật vào cuộc sống. Trên cơ sở luật Hôn nhân và gia đình và Chiến lược gia đình, rà soát để tiếp tục xây dựng các văn bản pháp quy cần thiết nhằm tăng hiệu lực thực tế của luật. Phối hợp Bộ Văn hoá Thông tin và các cơ quan liên quan, nghiên cứu xây dựng các chính sách khuyến khích phong trào xây dựng gia đình văn hoá, phát triển kinh tế gia đình v.v...

9. Hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý, đáp ứng được yêu cầu thông tin cho chỉ đạo, điều hành công tác Dân số, Gia đình và Trẻ em.

Hoàn thiện hệ thống thông tin, báo cáo ở tất cả các cấp đảm bảo yêu cầu thông tin kịp thời, đủ và chính xác phục vụ cho việc giám sát, đánh giá tình hình và công tác chỉ dạo điều hành công tác chỉ đạo điều hành công tác Dân số, Gia đình và Trẻ em ở từng cấp. Ở Trung ương, nhanh chóng rà soát lại các văn bản hướng dẫn thu thập thông tin báo cáo, cải tiến hệ thống biểu mẫu thu thập thông tin phù hợp với trình độ cán bộ, chức năng, nhiệm vụ của từng cấp, tăng cường bộ phận xử lý và phổ biến thông tin, các địa phương thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin, báo cáo định kỳ và đột xuất lên cấp trên, đồng thời hoàn thiện hệ thống xử lý và phổ biến thông tin phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của cấp mình.

10. Tăng cường việc kiểm tra, giám sát và thanh tra thực hiện chính sách, pháp luật về DS, GĐ&TE.

Đi đôi với việc xây dựng luật và hệ thống chính sách, tăng cường các hoạt động kiểm tra, thanh tra thực hiện luật và chính sách, đặc biệt là việc thực hiện Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và Pháp lệnh Dân số của các đơn vị, tổ chức, cá nhân. Tập trung thanh tra những vấn đề bức xúc trong sử dụng lao động trẻ em, thực hiện quyền trẻ em, thực hiện chính sách dân số - KHHGĐ. Sẽ tiến hành thanh tra việc triển khai một số dự án có tài trợ của Quốc tế do Uỷ ban DS,GĐ&TE một số tỉnh, thành phố thực hiện.<

(Nguồn: Trích báo cáo tổng kết công tác Dân số, Gia đình và Trẻ em năm 2003 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2004 của Uỷ ban DS,GĐ&TE)