BÀI PHÁT BIỂU CỦA BỘ TRƯỞNG LÊ THỊ THU
CHỦ NHIỆM UỶ BAN DÂN SỐ, GIA ĐÌNH VÀ TRẺ EM

Tại cuộc họp báo công bố "Báo cáo tình hình dân số thế giới năm 2003"

 

 


Trước hết, tôi xin nhiệt liệt chào mừng các quý vị đại biểu, các phóng viên báo chí, phát thanh, truyền hình đại diện cho các cơ quan truyền thông đại chúng ở Trung ương và địa phương đã đến dự họp báo về "Báo cáo tình hình dân số thế giới năm 2003" nhân kỷ niệm Ngày Dân số Việt Nam 26/12/2003.

Thực hiện chương trình hành động về Dân số và Phát triển đã được thông qua tại Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển Cairo 1994, Hội nghị thượng đỉnh về Phát triển phụ nữ tại Bắc Kinh 1995 và Hội nghị LaHay 1999, với sự nỗ lực của Chính phủ các nước và cộng đồng quốc tế, chương trình dân số toàn cầu đã đạt được những tiến bộ rõ rệt. Nhịp độ tăng dân số quá nhanh đã được giảm lại, nạn đói nghèo, suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên từng bước được cải thiện, một số vấn đề về sức khỏe sinh sản đã được giải quyết tốt hơn, vị thế phụ nữ cũng được cải thiện dần ở một số khu vực. Hiện nay dân số thế giới đang ở mức 6,3 tỷ người. Mỗi năm dân số thế giới tăng thêm khoảng 74 triệu người thay vì 86 - 87 triệu người trong thập kỷ trước, số con trung bình của một phụ nữ ở các nước đang phát triển đã giảm xuống còn 2,9 con; tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai tăng lên 62%. Những kết quả này đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của dân số thế giới nói chung và của dân số nước nghèo nói riêng. Cùng với nỗ lực phát triển, thay đổi phương thức khai thác tài nguyên theo hướng bền vững, những kết quả này cũng góp phần vào việc thu hẹp quy mô tàn phá môi trường, làm giảm sức ép của việc đảm bảo an ninh lương thực, giải quyết công ăn việc làm, đáp ứng các dịch vụ xã hội thiết yếu cho người dân.

Mặc dù đã đạt được những tiến bộ quan trọng, thế giới vẫn phải tiếp tục đối mặt với những thách thức to lớn. Với quy mô dân số đã lớn, kinh tế phát triển không đồng đều, nạn suy thoái môi trường, nạn khan hiếm nước, việc đáp ứng nhu cầu an ninh lương thực, cung cấp các dịch vụ xã hội thiết yếu vẫn tiếp tục là một bài toán nan giải của nhiều nước. Gia tăng dân số vẫn còn nhanh làm hạn chế kết quả của những nỗ lực giảm bớt quy mô đói nghèo, thất học. Trong một thế giới có AIDS, sự gia tăng dân số nhanh ở các nước đang phát triển còn kéo theo sự gia tăng số người bị nhiễm HIV/AIDS, trong đó bao gồm cả trẻ em và vị thành niên. Trong dân số nhóm vị thành niên chiếm tỷ trọng khá lớn, với lực lượng 1,2 tỷ người và 1/2 dân số thế giới dưới 25 tuổi, song hơn bất kỳ nhóm tuổi nào của dân số, do đặc tính sinh học và xã hội, do các yếu tố văn hóa và kinh tế, vị thành niên là nhóm dân số chưa được quan tâm đúng mức, chịu thiệt thòi và phải đối diện với các nguy cơ cao trong các lĩnh vực sức khỏe nói chung và sức khỏe sinh sản nói riêng. Khoảng một nửa số ca nhiễm HIV mới trong tổng số hơn 40 triệu người nhiễm HIV/AIDS trên thế giới là vị thành niên và thanh niên. Hiểu biết của vị thành niên về các vấn đề sức khỏe sinh sản chưa đầy đủ; tình dục không an toàn và có thai ngoài ý muốn, ít khả năng tiếp cận thông tin và dịch vụ của vị thành niên là những vấn đề ngày càng gay gắt.

Chính vì vậy, thông điệp của Liên hợp quốc cho Ngày Dân số thế giới 11/7/2003 là : "Một tỷ vị thành niên có quyền được khỏe mạnh, được cung cấp thông tin dịch vụ". Để giải quyết thành công những vấn đề dân số, vì một thế giới công bằng, tiến bộ và phát triển bền vững đòi hỏi sự nỗ lực và quyết tâm của mỗi nước và cả cộng đồng quốc tế.

Nhằm cung cấp thêm thông tin về tình hình dân số thế giới, hôm nay các quý vị đại biểu sẽ được nghe Văn phòng Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Hà Nội công bố "Báo cáo tình hình dân số thế giới năm 2003".

Ở Việt Nam, năm 2003 là năm thứ ba thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, năm bản lề của việc triển khai giai đoạn I (2001 - 2005) của Chiến lược Dân số Việt Nam 2001 - 2010, cùng với sự ra đời của Pháp lệnh Dân số và Nghị định số 104/2003/NĐ - CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Dân số đã tạo ra những căn cứ pháp lý quan trọng cho việc thực hiện nhiệm vụ Dân số, với sự cam kết của Đảng và Nhà nước, với việc huy động sự tham gia tích cực và có hiệu quả của các cấp, các ngành, đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội, được các tầng lớp nhân dân tích cực hưởng ứng với sự ủng hộ về tinh thần, sự giúp đỡ có hiệu quả về kỹ thuật và tài chính của các tổ chức quốc tế và Chính phủ các nước, đặc biệt là Quỹ Dân số Liên hợp quốc đã góp phần cho công tác dân số ở Việt Nam đã đạt được những kết quả bước đầu rất đáng trân trọng.

Thực hiện các mục tiêu, quan điểm và hệ thống giải pháp Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ tư (Khóa VII) đề ra, trong thời gian 10 năm qua, việc giải quyết vấn đề quy mô dân số ở nước ta đã đạt được thành tựu lớn. Tỷ lệ sinh đã giảm từ mức 30% xuống 19%, trung bình giảm hơn 1% hàng năm. Tương ứng tổng tỷ suất sinh (Số con trung bình của một cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ) đã giảm từ mức 3,8 con xuống gần mức sinh thay thế (2,2 con -2,3 con), tỷ lệ tăng dân số giảm từ mức 2,3% hàng năm xuống còn 1,32%. Trong thời gian 10 năm qua đã tránh sinh được hơn 4 triệu trẻ em. Kết quả này góp phần quan trọng vào thành tựu chung về phát triển kinh tế - Xã hội, xóa đói giảm nghèo của cả nước cũng như từng địa phương tạo thuận lợi cho triển khai các nhiệm vụ kinh tế - xã hội trong thời gian tới.

Tuy nhiên, với số dân đã trên 80 triệu người và dân số tăng thêm hàng năm hơn 1,1 triệu người, vấn đề quy mô dân số ở nước ta vẫn tiếp tục là một áp lực lớn đối với những nỗ lực giải quyết công ăn việc làm, cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản và phát triển kinh tế - xã hội.

Bên cạnh những vấn đề về quy mô dân số, chất lượng dân số còn thấp, việc phân bố dân cư chưa hợp lý, đăng ký và quản lý dân số chưa đáp ứng được yêu cầu cũng là những vấn đề cần được giải quyết trong thời gian tới.

Với cơ cấu dân số trẻ, trong tổng số hơn 80 triệu dân, Việt Nam còn hơn 17 triệu vị thành niên. Thời gian vừa qua, trong nỗ lực chung nhằm giải quyết cơ bản và vững chắc các vấn đề Dân số, chúng ta đã quan tâm đến nhóm tuổi vị thành niên. Chương trình Giáo dục Dân số/ Sức khỏe sinh sản đã được triển khai trong hệ thống nhà trường ở một số địa phương được vị thành niên hoan nghênh. Các chương trình "Cửa sổ tình yêu", "Tuổi 16"; các cuộc thi tìm hiểu về Dân số/ Sức khỏe sinh sản cho các sinh viên học sinh của các trường đại học, cao đẳng và các trường phổ thông trung học đã được Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phối hợp với đài truyền hình Việt Nam tổ chức, các trung tâm tư vấn cho vị thành niên, đặc biệt là tư vấn trực tiếp bằng điện thoại qua đường dây nóng cũng đã và đang được triển khai. Song sự quan tâm này vẫn chưa đúng mức. Tình trạng kết hôn sớm, tảo hôn, quan hệ tình dục không được bảo vệ, có thai ngoài ý muốn và nạo hút thai, thiếu hiểu biết về các vấn đề sức khỏe sinh sản trong vị thành niên, đây là vấn đề cần được giải quyết trên các bình diện của công tác dân số và cần nhận được sự quan tâm nhiều hơn trong thời gian tới.

Nhận thức rõ những thách thức, khó khăn và bất cập, xác định đầy đủ mục tiêu phải đạt được và những việc cần làm trong lĩnh vực dân số đặt trong Chiến lược phát triển Kinh tế - Xã hội chung của đất nước, năm 2000, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định phê duyệt Chiến lược Dân số 2001 - 2010. Chiến lược này đã thực hiện trong hơn 2 năm qua, nhiệm vụ công tác dân số những năm tới là tiếp tục thực hiện thành công chiến lược này, nghĩa là phải triển khai đồng bộ các giải pháp về lãnh đạo, tổ chức và quản lý, truyền thông giáo dục thay đổi hành vi, chăm sóc sức khỏe sinh sản/KHHGĐ, nâng cao chất lượng thông tin, dữ liệu về dân cư, nâng cao dân trí, tăng cường vai trò của gia đình và bình đẳng giới, đẩy mạnh xã hội hóa, xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách về dân số và phát triển; kinh phí; đào tạo và nghiên cứu.

Trong thời gian qua công tác Dân số đã đạt được những thành tựu bước đầu góp phần chung trong sự nỗ lực của cộng đồng quốc tế để thu hẹp khoảng cách giầu nghèo giữa các nước, đặc biệt là đối với các nước chậm phát triển. Để đạt được thành công vững chắc trong công tác này, đòi hỏi phải có sự nỗ lực cao không chỉ của ngành Dân số, Gia đình và Trẻ em mà là sự nỗ lực của tất cả các ngành, các cấp, của toàn xã hội, trong đó phải kể đến sự đóng góp của đội ngũ các nhà báo, phóng viên, các cơ quan truyền thông đại chúng đã cùng chúng tôi kịp thời cung cấp đầy đủ những chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước đến với người dân một cách sâu sắc và có hiệu quả để người dân và toàn xã hội nhận thức và hiểu biết nhằm thực hiện được mục tiêu chính sách dân số là mỗi gia đình chỉ có một hoặc hai con. Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí, cảm ơn sự phối hợp chặt chẽ có hiệu quả giữa Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em với các cơ quan báo chí, các cơ quan truyền thông đại chúng góp phần vào sự thành công của ngành Dân số, Gia đình và Trẻ em.

Với sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, sự đầu tư của nhà nước và sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, sự cố gắng của toàn thể cán bộ công tác Dân số, sự tham gia của các cấp, các ngành, đặc biệt là sự tham gia tích cực của các phóng viên, báo chí và sự hưởng ứng tích cực của nhân dân, chúng tôi tin tưởng rằng các mục tiêu của Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 sẽ từng bước đạt được nhằm nâng cao chất lượng dân số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em luôn đánh giá cao sự đóng góp quý báu và tích cực của đội ngũ các nhà báo, phóng viên trong sự nghiệp dân số và mong rằng sẽ tiếp tục nhận được sự quan tâm, hợp tác, hỗ trợ, giúp đỡ của các đồng chí trong triển khai các nhiệm vụ và giải pháp của công tác dân số, gia đình và trẻ em trong thời gian tới nhằm thực hiện chủ trương và mục tiêu nhất quán của Nghị quyết lần thứ 4 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá 7, của Pháp lệnh Dân số và Nghị định của Chính phủ là tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công tác dân số, thực hiện mục tiêu Chiến lược Dân số Việt Nam 2001 - 2010 là duy trì vững chắc xu thế giảm sinh để đạt mức sinh thay thế bình quân trong toàn quốc chậm nhất vào năm 2005, ở vùng sâu, vùng xa và vùng nghèo chậm nhất vào năm 2010 để quy mô, cơ cấu dân số và phân bố dân cư phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội năm 2010.