GIA ĐÌNH HÀ NỘI
 QUA MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BƯỚC ĐẦU

 

THS. NGUYỄN THẾ HÙNG *


Nghiên cứu gia đình trong xã hội hiện đại hoá, công nghiệp hoá có một ý nghĩa quan trọng, Uỷ Ban Dân số, Gia đình và Trẻ em Hà Nội đã thực hiện đề tài "Nghiên cứu cấu trúc, vai trò, chức năng của gia đình Hà Nội" 1. Đây là một đề tài có phạm vi rộng, đề cập đến các yếu tố cơ bản nhất của vấn đề gia đình ở Hà Nội.

I. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu.

Nghiên cứu được thực hiện với 844 mẫu bao gồm các đối tượng: cha, mẹ, các con thuộc 4 xã và 6 phường thuộc 4 huyện và 7 quận Hà Nội, các cán bộ chính quyền địa phường và cán bộ xã hội, các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan.

Phương pháp nghiên cứu chính là phân tích số liệu của hệ thống số liệu thống kê, phương pháp điều tra xã hội học thông qua hệ thống phiếu hỏi và phỏng vấn sâu; các phương pháp chuyên gia; hội thảo khoa học.

II. Kết quả nghiên cứu.

2.1. Thực trạng cấu trúc gia đình Hà Nội.

2.1.1. Quy mô gia đình: Nghiên cứu cho thấy hiện nay quy mô gia đình nhỏ, ít con là phổ biến; gia đình có 4 người chiếm tỷ trọng cao nhất.

Bảng 1: Quy mô về nhân khẩu trong gia đình

 

Quy mô gia đình (người)

Số gia đình

Tỷ trọng (%)

3

462

54,7

4

182

21,6

5

121

14,3

6

51

6,0

7

11

1,3

8

6

0,7

1-2

5

0,6

9

4

0,5

10

2

0,2

Cộng

844

100,0

Gia đình 2 thế hệ (cha mẹ và con cái chưa trưởng thành) chiếm tỷ trọng 82,9%; còn lại là gia đình 3 thế hệ (chiếm tỷ trọng 17,1%)

So với điều tra khu vực miền Bắc2 (gia đình) số khẩu 4 người chiếm tỷ trọng là 34,3%, gia đình 2 thế hệ chiếm tỷ trọng 78% đều thấp hơn Hà Nội.

2.1.2. Quan hệ hôn nhân.

Nghiên cứu ở Hà Nội cho thấy có 3,8% dân số ở độ tuổi 45 - 49 chưa từng kết hôn, có 2,67% dân số ở độ tuổi 50 - 54 chưa từng kết hôn (xấp xỉ với tình hình của cả nước: Theo điều tra dân số và nhà ở 1999, ở độ tuổi 50 cả nước có 3,3% dân số chưa từng kết hôn). Thực tế 98% số cặp vợ chồng chung sống có đăng ký kết hôn (Trong khi điều tra ở khu vực phía Bắc cho thấy tỷ lệ này là 93,2%). Như vậy hôn nhân vẫn là hình thức chung sống khá phổ biến của những người khác giới trưởng thành và hôn nhân được đăng ký pháp lý của người Hà Nội chiếm tỷ lệ cao so với khu vực miền Bắc.

Tuổi kết hôn trung bình của phụ nữ Hà Nội đo được là 23,59 tuổi (nội thành 24,26, ngoại thành 22,7%). Đối với nam giới tuổi kết hôn trung bình là 27,22 (khu vực nội thành 28,25, ngoại thành 25,84). Tuổi kết hôn trung bình chung (cả nam và nữ) là 25,4 so với tuổi kết hôn trung bình của khu vực phía Bắc là 23,12, cho thấy tuổi kết hôn của người Hà Nội trung bình muộn hơn gần 2 tuổi.

Phân công lao động theo giới trong các gia đình Hà Nội vẫn tiếp tục được duy trì nhưng đã thay đổi nhiều so với truyền thống. Số liệu điều tra cho thấy người vợ vẫn là người đảm nhận chính các công việc nội trợ gia đình: nấu ăn: 69,5%, mua thực phẩm 81,7%, giặt quần áo: 58,1% (tỷ lệ này ở khu vực miền Bắc là 76,6%, 87%, 82,7%). Mặc dù tỷ lệ người chồng Hà Nội đảm nhận công việc nội trợ thấp hơn nhiều so với người vợ nhưng xu hướng chia sẻ công việc này đang tăng lên. Đã có 22,25% người chồng trong gia đình Hà Nội chia sẻ công việc nấu ăn cùng với vợ, 11,2% đi chợ mua thực phẩm, 29,4% giặt giữ quần áo, 31,3% lau nhà dọn nhà cửa... Đây là chỉ số khá cao so với điều tra mở rộng ở khu vực miền Bắc. Đặc biệt trong việc chăm sóc con cái đã có 74,85% ông chồng tham gia, trong việc dạy bảo con cái có 83,4% ông bố đã góp phần.

2.1.3. Quan hệ cha mẹ, con cái.

Việc giáo dục con cái đã được sự quan tâm của các bậc cha mẹ ở Hà Nội. Sự kỳ vọng vào con cái, lo lắng, chăm sóc cho con đã trở thành đặc điểm nổi bật của gia đình Hà Nội. Tuy nhiên do nhịp sống hiện đại các bậc cha mẹ đã "lực bất tòng tâm": 30,2% số người ở nội thành và 23,3% ở ngoại thành cho biết họ thiếu thời gian dành cho việc chăm sóc giáo dục con. Có tới 25,9% người mẹ thừa nhận họ không đủ thời gian chăm sóc giáo dục con. Có 35,7% ý kiến cho rằng  cha mẹ không đủ kiến thức dạy dỗ con cái, học vấn càng thấp thì cha mẹ không đủ kiến thức giáo dục con lại càng tăng lên (7,6% số người có trình độ đại học so với 58,8% cấp I, 52,0% cấp II, 33,7% cấp III cho rằng họ không đủ kiến thức dạy con). Không đủ kiến thức, thiếu thời gian dẫn tới tình trạng một số cha mẹ không hiểu con (8,3%) lúng tùng về  nội dung và phương pháp giáo dục con (17,0%) và mâu thuẫn nhau về giáo dục còn (13,2%). Rõ ràng có sự nới lỏng về kiểm soát của cha mẹ đối với con cái trong gia đình.

Lo ngại về tình trạng nới lỏng kiểm soát của gia đình đối với các con làm cho nhiều bậc cha mẹ lo lắng khi con em họ sống trong môi trường đô thị sôi động, có nhiều nguy cơ dẫn dắt trẻ em tới nhiều hành vi lệch chuẩn (37,8% ý kiến). Mặt khác khi trẻ em bị chi phối bởi các môi trường xã hội nhiều hơn, (trong đó có nhà trường, giao lưu bạn bè và cuộc sống sôi động) thì quá trình hình thành phân cách của trẻ em sẽ phụ thuộc mạnh hơn vào cuộc sống hiện đại. Tuy nhiên cha mẹ thường có tâm lý muốn trẻ em phụ thuộc nhiều hơn vào gia đình cụ thể là có tới 62,2% ý kiến cho rằng môi trường sẽ không có ảnh hưởng xấu đến con em họ (phản ánh tính bảo thủ của giáo dục gia đình).

2.2. Chức năng sinh đẻ.

Sinh đẻ là một chức năng của gia đình. Kết quả khảo sát cho thấy chuẩn mực 2 con đã được đa số các gia đình Hà Nội chấp nhận (bảng 2).

Bảng 2: Số con mong muốn (xếp theo thứ tự):

 

Số con mong muốn

Số người

Tỷ trọng (%)

2

655

77,6

1

74

8,8

3

71

8,4

4

28

3,3

0

8

0,9

5

7

0,8

6

1

0,1

Cộng

844

100,0

 

Có 77,6% số người được hỏi ý kiến cho rằng chỉ nên có 2 con. Cũng có một tỷ lệ nhỏ không muốn có con (8 người ở nội thành)

Có nhất thiết phải có con trai không? Tỷ lệ trả lời "Có" chiếm 53% ý kiến (trong đó nội thành 58,9%, ngoại thành 45%); tỷ lệ trả lời "không nhất thiết" là 47% (trong đó nội thành 41,1%, ngoại thành 55%). Điều này cho thấy tâm lý "trọng con trai" vẫn còn khá phổ biến, đáng chú ý là tỷ lệ cao lại là nội thành?

III. Kết luận

Từ các kết quả nghiên cứu bước đầu có thể rút ra một số kết luận:

1. Cho đến nay, ở Hà Nội gia đình vẫn là một thiết chế xã hội tương đối bền vững, có vị trí quan trọng trong đời sống cá nhân cũng như sự ổn định và phát triển của xã hội. Những người trưởng thành kết hôn và đăng ký kết hôn chiếm tỷ lệ cao. Chưa có xu hướng sống độc thân.

2. Quy mô gia đình Hà Nội ngày càng thu nhỏ, mô hình gia đình ít còn (1 - 2 con) ngày càng được chấp nhận rộng rãi, xu hướng hạt nhân hoá gia đình ngày càng phổ biến. Tuy nhiên tâm lý "có nếp có tẻ" và muốn có con trai nối dõi vẫn còn khá phổ biến.

3. Bình đẳng vợ chồng tăng lên vị do vị trí kinh tế của phụ nữ trong gia đình được khẳng định. Tuy nhiên, phân công lao động theo giới trong gia đình Hà Nội vẫn còn rất phổ biến, trong đó người phụ nữ vẫn là người đảm nhận chính các công việc của gia đình.

4. Chức năng giáo dục trẻ em của các gia đình Hà Nội có nhiều thay đổi so với truyền thống và thời kỳ bao cấp trước đây do những đòi hỏi của thời đại và những thay đổi quan niệm về trẻ em cũng như mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái. Nhiều khó khăn, trở ngại dẫn đến lo lắng là những thách thức của gia đình Hà Nội, của các bậc cha mẹ trong việc bảo vệ, chăm sóc và sinh dục trẻ em.


1  Đề tài 01X - 07/14 - 2001 - 1: "Nghiên cứu cấu trúc, vai trò và chức năng của gia đình Hà Nội" do Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường Hà Nội quản lý (năm 2003).

* Uỷ ban dân số, gia đình và trẻ em Hà Nội.

2 Điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ trong gia đình thời kỳ Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước (Trung tâm Nghiên cứu khoa học vì gia đình và phụ nữ - Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia; năm 2002).