GIÁO DỤC DÂN SỐ - SỨC KHOẺ SINH SẢN
Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG - GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN
NHÂN CÁCH TOÀN DIỆN CHO THẾ HỆ TRẺ

NGUYỄN HỒNG NGỌC*

 

Dân số và nguồn nhân lực - mà tựu trung lại là con người, vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Việc bảo đảm dân số ổn định, phát triển kinh tế - xã hội bền vững, chất lượng cuộc sống của cộng đồng và của mỗi thành viên trong xã hội không ngừng được cải thiện là mục tiêu và yêu cầu đặt ra đối với mọi dân tộc, mọi đất nước, nhất là trong thời điểm hiện nay. Đảng ta luôn luôn đề cao nhân tố con người, Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã khẳng định vai trò của chiến lược con người, của việc phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững mọi mặt của xã hội. Đồng thời Đảng ta cũng đặc biệt đề cao vai trò của giáo dục - đào tạo trong việc xây dựng những con người đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Giáo dục dân số (GDDS) cho thanh thiếu niên, đặc biệt là vị thành niên có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách công dân, đảm bảo cho việc thực hiện mục tiêu chính sách dân số quốc gia đạt được một cách bền vững.

GDDS hiểu theo nghĩa đầy đủ của nó không chỉ là cung cấp một số tri thức, kỹ năng để nhận biết và phân tích các vấn đề của nhân khẩu học, của kế hoạch hoá gia đình (KHHGĐ), mà GDDS còn góp phần hình thành và phát triển nhiều mặt của nhân cách toàn diện của nguời công dân trong tương lai. Giáo dục dân số - sức khoẻ sinh sản (GDDS - SKSS), giáo dục giới có quan hệ rất mật thiết với giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục pháp luật. GDDS - SKSS cùng với các mặt giáo dục khác đảm bảo cung cấp cho thanh thiếu niên những phương thức ứng xử đúng đắn trước mọi vấn đề bức xúc có ý nghĩa toàn xã hội và toàn cầu; định hướng cho học sinh tiếp thu tốt những chuẩn mực xã hội trong lĩnh vực này và biến những chuẩn mực đó thành giá trị trong mỗi học sinh, trên cơ sở đó giúp cho học sinh có khả năng tự kiểm soát được hành vi của bản thân một cách tự giác. GDDS - SKSS giúp thanh thiếu niên biết sống lành mạnh, tuân thủ những yêu cầu của đời sống xã hội trong lĩnh vực dân số và giữ vững được bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam, có khả năng đề kháng để chống lại những biểu hiện lệch lạc về lối sống trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay.

Với nội dung phong phú của nó, GDDS - SKSS mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Thực hiện và đẩy mạnh GDDS - SKSS trong nhà trường phổ thông chính là thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Đảng trong Nghị quyết trung ương 2 (Khoá VIII) đó là tăng cường các nội dung giáo dục có tính xã hội và nhân văn.

Text Box: Trẻ em và giao lưu quốc tếMặt khác, GDDS - SKSS được thực hiện tốt thì chất lượng cuộc sống của cá nhân, của gia đình, của toàn xã hội được nâng lên. Điều đó có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nòi giống, đến tương lai của dân tộc.

Thực tiễn hiện nay đang có những vấn đề mà toàn xã hội rất quan tâm và lo ngại. Nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề quan hệ tình dục của vị thành niên (VTN) như một hiện tượng phổ biến; nhiều VTN có quan hệ tình dục từ tuổi 15, không chỉ một lần và không chỉ với một bạn tình. Quan hệ tình dục trước hôn nhân và có thai ngoài ý muốn trước khi lập gia đình dẫn đến nhiều trường hợp nạo hút thai tuổi VTN hàng năm ở nước ta. Hiểu biết của VTN về giới tính còn rất thấp. Khoảng một nửa VTN chưa nghe nói về bộ phận sinh dục, không biết một dấu hiệu nào khi dậy thì và không biết gì về quan hệ tình dục. Tỷ lệ VTN hiểu biết về thời điểm dễ có thai trong chu kỳ kinh nguyệt còn rất thấp, chỉ chiếm dưới 10%. Hiểu biết của VTN về các biện pháp tránh thai còn hạn chế. Đa số VTN có nghe nói về HIV/AIDS, nhưng các em hiểu về nguồn gốc và cách phòng tránh còn rất hạn chế. Rất ít VTN biết về các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác. Nguồn cung cấp chính các thông tin về SKSS cho VTN là phương tiện thông tin đại chúng (đài, ti vi, báo chí, sách) và nhà trường. Tuy nhiên, nhà trường cũng chỉ mới cung cấp thông tin về SKSS cho khoảng 1/3 số VTN, trong khi đa số những VTN này chỉ hiểu về SKSS một cách thoáng qua và thiếu chính xác. Cha mẹ là những người gần gũi VTN nhất, nhưng chỉ có rất ít bậc cha mẹ nói cho con mình biết những thông tin về SKSS. Những quan niệm truyền thống về giới tính, tình dục, tình yêu còn là hàng rào ngăn cản việc tuyên truyền giáo dục về SKSS nói chung và giới tính nói riêng trong nhà trường và trong mỗi gia đình.1 Những số liệu trên cho thấy, GDDS trong đó có vấn đề giáo dục SKSS, giáo dục giới, giáo dục đời sống gia đình chưa thật sâu và bền vững.

Với những lý do trên, có thể nói GDDS - SKSS là một vấn đề vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài vừa có tính cấp bách. Thanh thiếu niên là VTN trong các nhà trường cần được tiếp cận GDDS - SKSS một cách có hệ thống với mục tiêu và nội dung xác định từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh. Làm được như vậy, công tác giáo dục - đào tạo trong các nhà trường sẽ tạo ra những điều kiện vững chắc cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục nhân cách toàn diện cho thế hệ trẻ và thực hiện mục tiêu chính sách dân số quốc gia.

Được sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế như UNFPA, UNICEF, UNESCO, giáo dục dân số đã được thực hiện từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX. UNFPA đã giúp đỡ Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện GDDS qua 5 chu kỳ (1984-1987, 1988-1991, 1994-1996, 1997-2000, 2001-2005) với quy mô ngày càng mở rộng, mức độ thực hiện ngày càng sâu. Các tài liệu về GDDS, sách hướng dẫn giáo viên tiến hành giáo dục dân số ở các cấp học đã được biên soạn. GDDS đã được lồng ghép vào một số môn học như sinh, địa, giáo dục công dân. Công tác đào tạo giáo viên giảng dạy GDDS - SKSS bước đầu đã được thực hiện.

Trong các năm 1993-1995, Uỷ ban quốc gia Dân số và Kế hoạch hoá gia đình (nay là Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em) đã hỗ trợ Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai đề án “Huy động giáo viên phổ thông cơ sở làm công tác thông tin tuyên truyền, giáo dục DS - KHHGĐ trong cộng đồng” và đã được đánh giá là có hiệu quả và tính khả thi cao.

Năm 2001 với sự đồng ý của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngày 19/6/2001 Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban quốc gia Dân số và Kế hoạch hoá gia đình (nay là Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em) đã có quyết định 174/QĐ-UB thành lập Tiểu dự án GDDS thuộc Dự án Dân số - Sức khoẻ gia đình nhằm tăng cường chất lượng GDDS - SKSS VTN trong trường trung học phổ thông. Trong hai năm từ tháng 6/2001 đến tháng 6/2003, với mục tiêu GDDS - SKSS VTN chính là góp phần nâng cao tố chất của thế hệ trẻ trước yêu cầu lập thân, lập nghiệp, làm cho họ hiểu rõ đặc trưng của bản thân mình, đặc trưng của người bạn khác giới với mình để có ứng xử đúng đắn, tiểu dự án đã tiến hành 5 hoạt động: tập huấn đào tạo giảng viên cấp tỉnh/thành; tấp huấn nâng cao năng lực giảng dạy GDDS - SKSS cho giáo viên dạy các môn sinh, địa, giáo dục công dân; tập huấn cho cán bộ quản lý trường trung học phổ thông và cán bộ quản lý các Sở Giáo dục và Đào tạo; tổ chức điều kiện phục vụ cho các đợt tập huấn; đánh giá hiệu quả hoạt động GDDS - SKSS ở các tỉnh mà tiểu dự án thực hiện. Hiện nay, trên toàn quốc vấn đề GDDS - SKSS cho học sinh phổ thông trung học đã phủ được 43/66 tỉnh, thành (gần 65%).

Kết quả của việc thực hiện GDDS - SKSS trong nhà trường những năm qua cho thấy nhu cầu cần được GDDS - SKSS trong nhà trường là bức thiết, được sự đồng thuận ngày càng cao của những lực lượng đang tham gia vào quá trình GDDS - SKSS.

Hệ thống giáo dục phổ thông đang thực hiện cuộc đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học. Vấn đề GDDS - SKSS tất yếu cũng phải được cập nhật theo sự đổi mới này. Chúng ta đã có những căn cứ quan trọng để thực hiện sự đổi mới này.

Thứ nhất, Chương trình hành động của Hội nghị Quốc tế về dân số và phát triển tại Cai-rô (Ai Cập) năm 1994 đã khẳng định: "Để đạt hiệu quả cao nhất, GDDS phải được bắt đầu ngay từ tiểu học và tiếp tục ở tất cả các cấp của giáo dục chính quy, cũng như không chính quy, đồng thời có tính đến các quyền, trách nhiệm của cha mẹ và tính đến các nhu cầu của trẻ em và trẻ tuổi vị thành niên".1

Thứ hai, một trong những giải pháp cơ bản của chính sách DS - KHHGĐ được thể hiện tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII đã khẳng định: "..., thực hiện giáo dục dân số với nội dung thích hợp, hình thức đa dạng, có sự tham gia của toàn xã hội...". Tư tưởng đó đã được quán triệt tại Chiến lược DS - KHHGĐ đến năm 2000: "Giáo dục dân số trong và ngoài nhà trường với nội dung thích hợp cho từng nhóm đối tượng, làm cho thế hệ trẻ chấp nhận gia đình ít con là một chuẩn mực xã hội. Trong thời kỳ 1993-1995, phổ cập chương trình giáo dục dân số ở phổ thông trung học, các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề và bổ túc văn hoá trên toàn quốc. Trong thời kì 1996-2000, phổ cập giáo dục dân số cấp tiểu học trên toàn quốc để hình thành và nâng cao nhận thức về mối quan hệ giữa dân số và phát triển cho thế hệ trẻ của thế kỉ 21". Điều đó tiếp tục được khẳng định tại Chiến lược Dân số Việt Nam 2001-2010: "Mở rộng nội dung và thực hiện đổi mới phương pháp giáo dục dân số, SKSS/KHHGĐ, giới và giới tính trong và ngoài nhà trường ở mọi cấp học và ngành học của hệ thống giáo dục quốc dân với những hình thức thích hợp theo hướng cung cấp kiến thức, tạo nhận thức và hành vi đúng đắn, xây dựng kỹ năng sống phù hợp về dân số và phát triển bền vững, SKSS/KHHGĐ, giới và giới tính. Khuyến khích các hình thức giáo dục đồng đẳng và mở rộng các hình thức tư vấn về các vấn đề trên phù hợp với đặc điểm của từng nhóm tuổi. Giáo dục dân số và phát triển, sức khoẻ sinh sản, giới và giới tính phải vừa đáp ứng yêu cầu của cuộc sống, vừa phù hợp với định hướng phát huy và giữ gìn bản sắc dân tộc.".

Thứ ba, Chiến lược Giáo dục và Đào tạo 2001-2010 khẳng định giáo dục giới tính - SKSS phải được coi là nội dung giáo dục bắt buộc và phổ cập trong tất cả các trường học; phải đầu tư nguồn lực trong nước và tận dụng các nguồn tài trợ quốc tế để thực hiện lĩnh vực giáo dục này.

Và cuối cùng, cơ sở pháp lý hết sức quan trọng của việc thực hiện GDDS đã được quy định tại Pháp lệnh Dân số. :

"1. Giáo dục dân số được thực hiện trong các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.

2. Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em chỉ đạo, xây dựng chương trình, nội dung giáo trình về dân số phù hợp với từng cấp học, bậc học.

3. Nhà trường và các cơ sở giáo dục khác có trách nhiệm tổ chức giảng dạy và học tập theo chương trình, giáo trình quy định.".

Như vậy, theo quy định của Pháp lệnh Dân số, việc GDDS chính thức thực hiện trong hệ thống giáo dục quốc dân với chương trình, nội dung giáo trình phù hợp với từng cấp học, bậc học. Biện pháp này bảo đảm cho mỗi công dân Việt Nam, ngay từ khi còn là học sinh, được trang bị một hệ thống kiến thức cơ bản, chính thống về các vấn đề quan trọng liên quan đến dân số, tránh những cách hiểu không đúng, không đầy đủ dẫn tới việc xử sự thiếu trách nhiệm của cá nhân trong vấn đề này. Để biện pháp này được thực hiện một cách hiệu quả, điều quan trọng là chương trình, nội dung giáo trình về dân số phải được xây dựng phù hợp với lứa tuổi học sinh, chính xác, dễ hiểu và dễ tiếp cận.

Nghị định số 104/2003/NĐ-CP ngày 16/9/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Dân số tại Điều 29 đã giao trách nhiệm: "Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em, Bộ Y tế và các Bộ, ngành có liên quan xây dựng chương trình, nội dung giáo dục về dân số, sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình, bình đẳng giới; chỉ đạo và tổ chức công tác giảng dạy về dân số, sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình, bình đẳng giới; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên về nội dung giáo dục dân số, sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình, bình đẳng giới phù hợp với yêu cầu sư phạm của từng ngành học, cấp học, bậc học".


* Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em

1. Sức khoẻ vị thành niên ở Việt Nam. Chương trình hợp tác y tế Việt Nam - Thuỵ Điển, lĩnh vực chính sách y tế - Trường Đại học Y Thái Bình, Trung tâm Nghiên cứu dân số và sức khoẻ nông thôn. NXB Y học. Hà Nội - 2002.

1 Chương trình hành động Hi ngh quc tế v dân s và phát trin ICPD/CAIRO/94. Bn dch tiếng Vit, trang 82.