MỘT SỐ GHI NHẬN
 QUA NGHIÊN CỨU VỀ TÌNH DỤC ĐỒNG GIỚI

PHẠM MINH SƠN*
 

Năm 1993, tổ chức CARE International đã tiến hành nghiên cứu về MSM và HIV tại Hà Nội. Số đối tượng nghiên cứu hơn 1000 người (bao gồm cả mại dâm nam và nữ). Việc phỏng vấn được tiến hành ở các quán Bar, cà phê, karaoke... Tuy chỉ có 107 MSM Việt Nam và 12 MSM ngoại quốc (chỉ có thể đại diện cho nhóm người đi đến các nơi này vào buổi tối), nhưng kết quả cho thấy MSM tin rằng quan hệ tình dục nữ có nguy cơ lây nhiễm HIV cao hơn nam. 36% MSM trẻ cho rằng không thể truyền nhiễm HIV nếu quan hệ tình dục với nam

Đến năm 1997, nghiên cứu của Quỹ cứu trợ trẻ em Anh (SCF-UK) tại TP.Hồ Chí Minh đã thăm dò 276 MSM tuổi 17- 49 ở TP. HCM về hành vi tình dục và kiến thức về HIV. Kết quả cho thấy xu hướng tình dục là 70% có quan hệ tình dục đồng giới, 22% có quan hệ tình dục lưỡng giới, 4% có quan hệ tình dục khác giới. Về tình trạng hôn nhân và hành vi tình dục: 9% kết hôn; 25% có quan hệ tình dục với phái nữ trong tháng qua; 62% có 2 hoặc nhiều hơn 2 bạn tình trong tháng qua; chỉ 27% dùng bao cao su trong lần cuối cùng quan hệ tình dục; chỉ có 22% tin rằng MSM có nguy cơ lây nhiễm HIV cao hơn; chỉ 23% nghĩ họ có nguy cơ về HIV; 11% có xét nghiệm HIV; ít hơn 50% biết về phòng chống lây nhiễm HIV.

Năm 2001, Bác sỹ Donn J. Colby, cán bộ Trung tâm Xét nghiệm khuyết danh tại TP.Hồ Chí Minh đã tiến hành một nghiên cứu về "Hiểu biết về HIV và các yếu tố nguy cơ trong nhóm nam thanh niên có quan hệ tình dục đồng giới ở thành phố Hồ Chí Minh".

Nghiên cứu của ông được 4 nhân viên giáo dục đồng đẳng thực hiện, tiến hành phỏng vấn 219 MSM bằng một bản câu hỏi chuẩn. Đối tượng nghiên cứu được tuyển chọn trong 8 ngày tại công viên, quán cà phê và mạng lưới xã hội: tổng cộng tại 27 địa điểm công cộng. Mọi thông tin đều khuyết danh.

Một số phát hiện sau nghiên cứu của Donn J. Colby cho thấy còn bất cập trong công tác truyền thông phòng chống HIV tại TP. Hồ Chí Minh cũng như cả nước, đặc biệt là các quan hệ tình dục đồng tính.

TP.Hồ Chí Minh với khoảng 7 triệu dân, là trung tâm thương mại của cả nước được xác định là nơi có số ca nhiễm HIV tăng lên nhanh chóng, từ 1105 ca năm 1998 đã lên 2188 ca vào 2001. Theo một nghiên cứu thì số lượng nam có quan hệ tình dục với nam tại đây ước tính khoảng 70.000 người2, còn Bác sỹ Donn J. Colby ước đoán, con số này từ 50.000-125.000 .

Kết quả nghiên cứu cho thấy, số lượng bạn tình của MSM trong tháng trước thời điểm nghiên cứu trung bình = 3,3, trong đó từ 0-1 chiếm 44%; 2-5 chiếm 38%; 6-10 chiếm 14% và >10 chiếm 3%; Còn số lượng bạn tình trong năm trước thời điểm nghiên cứu trung bình = 14,8

Nghiên cứu của BS. Donn J. Colby cũng phát hiện ra rằng, chỉ có số ít người đồng tình luyến ái đều khẳng định họ có nguy cơ cao khi quan hệ tình dục. Đa số nam có quan hệ tình dục với nam tại TP. Hồ Chí Minh không tin là hành vi tình dục của họ đưa họ vào nhóm nguy cơ lay nhiễm cao.

Dường như niềm tin của họ được củng cố thêm khi các thông điệp truyền thông về HIV hiện nay chỉ tập trung vào quan hệ tình dục khác giới và sử dụng ma tuý. Các báo cáo chính thức và truyền thông hiện nay không đề cập đến nhóm nam có quan hệ tình dục với nam như là một nhóm dân cư có nguy cơ cao.

Quan hệ tình dục đồng tính hiện không nằm trong chương trình giám sát nào nên nó không được coi là một nguy cơ cho việc lây nhiễm HIV tại Việt Nam, hiện tại không có trong các thống kê do các cơ quan chức năng của Việt Nam cũng như quốc tế biên soạn.

 
Các kết luận của nghiên cứu:

§         TP.Hồ Chí Minh có một số lượng khá lớn MSM;

§         Nhờ các nhân viên giáo dục đồng đẳng có thể dễ dàng tiếp cận MSM;

§         MSM là nhóm nguy cơ cao về HIV do những hành vi tình dục không an toàn;

§         MSM có nhận thức sai lạc về nguy cơ HIV của họ (cho riêng cá nhân họ; cho cộng đồng MSM nói chung). Điều này có thể do các báo cáo thông tin đại chúng và các chiến dịch y tế cộng đồng tập trung vào nghiện chích ma túy và vấn đề tình dục ở nam với nữ;

§         Mặc dù kiến thức của MSM về lây nhiễm HIV là tốt, nhưng do nhận thức kém về nguy cơ đã dẫn họ đến các hành vi tình dục không an toàn và không có lý do nào để thay đổi hành vi;

§         Bao cao su chưa được sử dụng thường xuyên vì không có sẵn khi cần.

Khuyến nghị:

§         Sử dụng giáo dục đồng đẳng để nâng cao kiến thức về HIV và nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm MSM và khuyến khích xét nghiệm HIV;

§         Phân phát bao cao su qua mạng lưới đồng đẳng viên và qua các đại lý, làm bao cao su sẵn có hơn kể cả vào đêm khuya, ở quán bar, quán cà phê và khách sạn;

Thu thập đều đặn các dữ liệu về tỷ lệ hiện nhiễm HIV và các hành vi nguy hiểm trong cộng đồng MSM ở các thành phố lớn


* Phó Trưởng phòng, Trung tâm Thông tin, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em

1MSM: Men who have Sex with Men (nam quan hệ tình dục với nam)

 Bài này có sử dụng tài liệu của BS. Donn J. Colby tại hội thảo "Tình dục, Giới và Xã hội ở Việt Nam"

2 Xem: Trần Bồng Sơn, Truyền thông các nhân, TP. Hồ Chí Minh, 2002