ĐẢM BẢO KHẢ NĂNG LỰA CHỌN BIỆN PHÁP TRÁNH THAI
CHO KHÁCH HÀNG: MỘT YẾU TỐ QUAN TRỌNG CỦA CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KHHGĐ Ở VIỆT
NAM

 

LÊ THỊ PHƯƠNG MAI*

 

Theo khung lý thuyết về chất lượng chăm sóc dịch vụ kế hoạch hoá gia đình (KHHGĐ) của Bruce-Jain, nói đến lựa chọn biện pháp tránh thai là nói đến việc cung cấp đầy đủ biện pháp tránh thai cho khách hàng một cách phù hợp với tuổi tác, giới tính, ý định tránh thai, tình trạng nuôi con bằng sữa mẹ, và tình hình sức khoẻ của họ. Thực tiễn phát triển của các chương trình KHHGĐ các nước đã khẳng định việc lựa chọn biện pháp là một yếu tố quan trọng của chất lượng chăm sóc dịch vụ KHHGĐ.  Khi biện pháp lựa chọn ban đầu không phù hợp hoặc không có lợi cho sức khoẻ, nếu có sẵn các biện khác phù hợp hơn, người sử dụng có thể chuyển đổi để có một biện pháp an toàn hơn phù hợp với sức khoẻ hơn, hạn chế bỏ cuộc do gặp tác dụng phụ. Tăng khả năng lựa chọn sẽ tăng tỉ lệ sử dụng tránh thai. Nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm từ 72 nước trên thế giới của Mauldin và Lapham cho thấy có thêm một biện pháp tránh thai vào chương trình thì tỉ lệ sử dụng tránh thai (CPR) tăng thêm 3 điểm phần trăm (Jain, 1989).

Phân tích dưới đây về chất lượng dịch vụ KHHGĐ của Việt Nam dưới góc độ đảm bảo khả năng lựa chọn biện pháp tránh thai cho khách hàng, hay còn gọi là sự đa dạng hoá các biện pháp tránh thai, sẽ xem xét tới sự sẵn có các biện pháp tránh thai tại cơ sở y tế hoặc các điểm cung cấp dịch vụ (cộng tác viên dân số); các biện pháp khác khác nhau  được giới thiệu cho khách hàng trong quá trình cung cấp dịch vụ; và việc đáp ứng biện pháp tránh thai ưa thích khi không có chống chỉ định với  khách hàng.

Text Box:  1. Các biện pháp tránh thai sẵn có vẫn còn bị hạn chế 

Trong những năm qua, chương trình KHHGĐ của Việt Nam đã có những nỗ lực đưa thêm biện pháp tránh thai vào chương trình KHHGĐ quốc gia thông qua nhiều kênh khác nhau. Từ năm 1988, các nhà quản lý đã bắt đầu nhấn mạnh đến việc mở rộng nhiều biện pháp tránh thai bao gồm thuốc uống, bao cao su và triệt sản. Từ năm 1993, các cơ sở y tế tuyến xã đã được phép đặt dụng cụ tử cung, tạo điều kiện để có thêm nhiều biện pháp tránh thai được cung cấp tại tuyến xã -nơi có nhiều đối tượng đến nhận dịch vụ KHHGĐ nhất. Việc thí điểm chương trình tiếp thị xã hội bao cao su và thuốc uống tránh thai, việc đưa thêm thuốc tiêm tránh thai vào Việt Nam là nguồn bổ sung khả năng lựa chọn biện pháp tránh thai an toàn và có hiệu quả, làm cho các dịch vụ đó trở nên dễ tiếp cận hơn.

Như vậy, mở rộng thêm khả năng lựa chọn và có sự cải thiện về chất lượng chăm sóc về dịch vụ KHHGĐ đã dẫn đến tăng tỉ lệ sử dụng tránh thai và cải thiện cơ cấu biện pháp tránh thai. Hiện nay tại các điểm cung cấp dịch vụ từ các tuyến khác nhau (tỉnh, huyện, liên xã và xã), trung bình có khoảng từ 3 đến 7 biện pháp.

 Số liệu của 4 cuộc điều tra nhân khẩu học và sức khoẻ (DHS) cho thấy dụng cụ tử cung (DCTC) luôn chiếm tỉ lệ lớn, từ 62% trong tổng số các biện pháp năm 1988 (DHS-88) đến 48% năm 2002. Tỉ lệ này giảm với tốc độ tương đối chậm, sau 14 năm chỉ giảm có 14%. Tỉ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại khác vẫn còn thấp và tăng với tốc độ chậm (xem hình 1). 

Điều tra nhân khẩu học và sức khoẻ năm 1997 cho thấy số biện pháp tránh thai có sẵn tại các cơ sở y tế tuyến dưới (xã/phường) chủ yếu là thuốc uống và DCTC.  Hơn 96% trong số phụ nữ đã lập gia đình uống thuốc tránh thai và 83% phụ nữ đặt DCTC nói nhận biện pháp đó từ các cơ sở y tế này. Chỉ có 1,8 % những người nhận thuốc tiêm từ các cơ sở này.  Thông tin về nhận biện pháp tránh thai tại cơ sở y tế gần nhất cũng cho thấy hầu hết khách hàng nhận được thuốc uống và DCTC (92,2% và 99%); và một phần sáu (14,8%) nhận được thuốc tiêm từ các nguồn này.  Như vậy ở tuyến cung cấp chủ yếu các biện pháp tránh thai cho khách hàng (tuyến xã) hoặc ở các cơ sở y tế gần nhất chỉ có sẵn DCTC và thuốc uống, điều này hạn chế sự lựa chọn của khách hàng. Số liệu của điều tra nhân khẩu học và sức khoẻ năm 2002 cũng cho một xu hướng tương tự.

Kênh cung cấp tránh thai không chỉ là các cơ sở y tế mà còn thông qua đội ngũ cộng tác viên dân số tại cơ sở phân phát thuốc uống tránh thai và bao cao su. Hoạt động của đội chăm sóc bà mẹ/KHHGĐ xuống cung cấp dịch vụ tại tuyến cơ sở (xã) cũng đóng góp vào việc phân phối bao cao su, thuốc uống tránh thai và triệt sản.

Các cuộc điều tra phân tích tình hình dịch vụ SKSS khu vực nhà nước thời kỳ 1999-2000 tại 8 tỉnh (Hoà Bình, Yên Bái, Phú Thọ, Quảng Nam, Bà rịa-Vũng tầu, Bình Phước, Đồng Nai, Tiền Giang) ở Việt Nam cũng cho thấy một bức tranh tương tự các cuộc điều tra trên, đó là khoảng 90% cơ sở y tế được điều tra sẵn có DCTC và thuốc tránh thai kết hợp. Ba phần tư cơ sở y tế có thuốc uống tránh thai chỉ chứa progestine, và chỉ có hai phần ba cơ sở y tế có sẵn bao cao su. Thuốc tiêm tránh thai thường không có sẵn (Xem bảng 1).


Bảng 1: Tỉ lệ phần trăm các cơ sở y tế cung cấp các biện pháp tránh thai, phân theo loại cơ sở y tế

Đơn vị tính:%

Dịch vụ

Loại cơ sở y tế

Chung

Tỉnh

Huyện

Phòng khám đa khoa

Trạm y tế

Thuốc tránh thai tổng hợp

75,0

82,9

94,2

89,7

88,9

Thuốc tránh thai chỉ chứa progestin

75,0

68,3

74,4

73,9

73,2

DCTC

100,0

98,8

96,5

84,8

89,5

Bao cao su

50,0

57,3

66,3

71,8

67,9

Thuốc tiêm tránh thai

12,5

1,2

2,3

5,1

4,2

Triệt sản nữ

87,5

75,6

19,8

5,8

21,8

Triệt sản nam

93,8

75,6

16,3

4,5

20,6

(n)

16

82

86

330

514

Nguồn:- Phân tích tình hình dịch vụ sức khoẻ sinh sản trong khu vực y tế nhà nước tại 8 tỉnh của Việt Nam, 1999-2000


Như vậy đến nay, DCTC và thuốc tránh thai sẵn có ở hầu hết các tuyến y tế cung cấp dịch vụ. Bao cao su có ít hơn, vì đã được cung cấp qua đội ngũ cộng tác viên dân số tại cơ sở. Triệt sản chủ yếu được cung cấp ở tuyến tỉnh và huyện. Thuốc tiêm tránh thai mới chỉ được giới thiệu ở một số tỉnh. Thuốc tránh thai khẩn cấp hầu như không có ở các cơ sở y tế, đặc biệt là tuyến xã. Chính vì vậy tính đa dạng về biện pháp vấn còn hạn chế, khách hàng vẫn không có nhiều lựa chọn. Đây là một tồn tại tương đối lâu dài về chất lượng dịch vụ KHHGĐ ở Việt Nam.

2. Biết nhiều nguồn cung cấp biện pháp tránh thai làm tăng khả năng lựa chọn biện pháp

Text Box: Triển khai hoạt động KHHGĐ tại cơ sởKhả năng lựa chọn tránh thai còn thể hiện qua việc khách hàng biết nhiều nguồn cung cấp các biện pháp tránh thai để có thể tiếp cận khi muốn sử dụng hoặc thay đổi biện pháp. Số liệu từ các cuộc điều tra nhân khẩu học và sức khoẻ 1994, 1997, 2002 và một số cuộc điều tra khác (UBQGDS-KHHGĐ và GTZ, 1996) cho thấy hơn bốn phần năm phụ nữ có gia đình trong độ tuổi sinh đẻ biết các cơ sở y tế nhà nước (bao gồm bệnh viện, trung tâm Bảo vệ bà mẹ/KHHGĐ, trạm y tế xã phường, cán bộ y tế.v.v), mặc dù tỉ lệ này có xu hướng giảm từ 88,8% năm 1994 xuống 85,7% năm 2002 do có sự tham gia của thành phần y tế tư nhân tăng lên. Điều tra phân tích tình hình tại 8 tỉnh của Việt Nam cũng cho thấy khoảng hai  phần ba khách hàng biết các cơ sở cung cấp dịch ngoài cơ sở họ đã đến.  Như vậy biết thêm về các nguồn là cơ hội giúp khách hàng có thể có nhiều lựa chọn nếu cơ sở  hiện tại không đáp ứng nhu cầu tránh thai của họ. 

3. Chuyển đổi biện pháp thể hiện sự lựa chọn còn hạn chế

Yếu  tố chất lượng cũng được xem xét dưới khía cạnh liệu khách hàng có khả năng chuyển đổi biện pháp nếu như biện pháp cũ không phù hợp. Điều tra nhân khẩu học và sức khoẻ 1997 cho thấy phụ nữ không sử dụng duy nhất một biện pháp tránh thai mà đã có sự chuyển đổi biện pháp trong suốt quá trình tránh thai của họ. Trong số phụ nữ hiện dùng thuốc uống tránh thai, chỉ có 44,4% là tiếp tục sử dụng trước đó. Tương tự như vậy, có 66,7% tiếp tục dùng DCTC, 37% tiếp tục dùng thuốc tiêm tránh thai, 53,3% dùng bao cao su. Số liệu cho thấy, khi chuyển đổi biện pháp, phụ nữ thường chọn DCTC, hoặc bao cao su hơn là thuốc tiêm, thuốc uống tránh thai (Uỷ ban QGDS-KHHGĐ, 2000). Điều này thể hiện DCTC luôn là được biện pháp ưa thích nhưng mặt khác cũng thể hiện một khía cạnh không có nhiều lựa chọn cho khách hàng.    

Xem xét tình trạng ngừng sử dụng biện pháp tránh thai trong năm đầu tiên sử dụng cho thấy tỉ lệ này đã tăng từ 18% năm 1997 đến 25% năm 2002. Trong tổng số những người đã ngừng sử dụng biện pháp trong năm 2002, 30% là do sử dụng biện pháp thất bại (chủ yếu do dùng biện pháp tránh thai tự nhiên) và 21% là do gặp tác dụng phụ, điều đó thể hiện thiếu sự lựa chọn cho một biện pháp thích hợp (UBDSGDTE, 2003).           

4. Khả năng giới thiệu các biện pháp khác nhau cho khách hàng trong quá trình cung cấp dịch vụ vẫn còn hạn chế

Điều tra phân tích tình hình SKSS tại 8 tỉnh thời kỳ 1999-2000 đã đánh giá sự lựa chọn biện pháp tránh thai thông qua quan sát việc cung cấp thông tin của cán bộ y tế cho 314 khách hàng nhận dịch vụ KHHGĐ. Kết quả cho thấy hầu hết tất cả các cán bộ y tế trong điều tra này đều nhắc đến ít nhất một biện pháp KHHGĐ với khách hàng. Tuy nhiên, chỉ có gần 40% khách hàng được nghe từ hai biện pháp trở lên - như vậy rất hạn chế cho sự lựa chọn của khách hàng. Tỷ lệ cán bộ y tế trao đổi về DCTC, thuốc uống tránh thai và bao cao su là cao hơn hẳn các biện pháp khác, gần 3/4 trong số 314 cán bộ y tế có bàn luận về DCTC tránh thai cho khách hàng, 41% cán bộ y tế có đề cập đến viên uống tránh thai kết hợp. Gần một phần ba cán bộ y tế giới thiệu về bao cao su. Ở tất cả các tuyến cung cấp dịch vụ, các biện pháp KHHGĐ khác như viên uống tránh thai có progestin, thuốc tiêm tránh thai, đình sản nữ, đình sản nam và biện pháp tránh thai tự nhiên cũng được nói đến, nhưng với tỷ lệ thấp hơn nhiều so với DCTC tránh thai và viên uống tránh thai kết hợp.  Tại tất cả các cơ sở y tế, đình sản nữ và đình sản nam chỉ được thảo luận với 12% và 5% khách hàng KHHGĐ.  Dưới 4% cán bộ y tế bàn luận về thuốc tiêm tránh thai (xem bảng 2).

Bảng 2. Tỉ lệ phần trăm cán bộ y tế đề cập đến các biện pháp KHHGĐ trong quá trình tư vấn, phân theo loại cơ sở y tế

                                                Đơn vị tính:%

Các biện pháp KHHGĐ

Loại cơ sở y tế

Chung

Tỉnh

Huyện

PKĐK

Trạm y tế

 

Viên uống tránh thai kết hợp

33,3

29,6

44,4

45,3

41,4

Viên uống tránh thai chỉ có progestin

0,1

2,2

3,2

91,4

18,2

DCTC

66,7

85,2

91,1

63,5

72,6

Bao cao su

33,3

25,9

28,9

36,0

32,5

Thuốc tiêm tránh thai

16,7

1,8

6,7

2,9

3,5

Đình sản nữ

0,0

16,7

15,6

11,3

12,4

Đình sản nam

0,0

1,8

11,1

5,4

5,4

Các biện pháp tự nhiên

0,0

5,6

11,1

7,4

7,3

(n)

6

54

45

203

314

Quan sát khách hàng nhận dịch vụ KHHGĐ

Nguồn:- Phân tích tình hình dịch vụ sức khoẻ sinh sản trong khu vực y tế nhà nước tại 8 tỉnh của Việt Nam, 1999- 2000


Khi thảo luận đến các biện pháp, cán bộ y tế có thể có chủ định hoặc vô tình hướng khách hàng vào một biện pháp cụ thể bằng cách nhấn mạnh và giải thích chi tiết hơn vào một biện pháp nào đó, điều này khiến khách hàng dễ nghe theo và có thể lựa chọn biện pháp cán bộ cung cấp ưa thích nhưng chưa chắc đã phù hợp với khách, như vậy đã hạn chế sự lựa chọn.

 

Bảng 3. Tỉ lệ phần trăm các cán bộ y tế nhấn mạnh tới biện pháp KHHGĐ với khách hàng, phân theo loại biện pháp và cơ sở y tế

                                                                                                Đơn vị tính: %

 

Các biện pháp

Loại cơ sở y tế

Chung

 

Tỉnh

Huyện

Phòng khám đa khoa

Trạm y tế

Cán bộ y tế nhấn mạnh vào một biện pháp cụ thể

50,0

37,1

53,0

57,1

52,9

(n)

6

54

51

203

314

Các biện pháp được nhấn mạnh:

 

 

 

 

 

DCTC

33,3

30,0

33,3

37,9

48,8

Viên uống tránh thai kết hợp

0,0

0,0

7,5

17,2

36,2

Bao cao su

33,3

55,0

70,3

46,6

21,7

Viên uống tránh thai chỉ có  progestin

33,3

10,0

18,5

25,0

16,3

(n)

3

20

27

116

166

Quan sát KHHGĐ

Nguồn: Phân tích tình hình dịch vụ sức khoẻ sinh sản trong khu vực y tế nhà nước tại 8 tỉnh của Việt Nam, 1999-2000

Bảng 3 cho thấy các quan sát trao đổi thông tin giữa cán bộ y tế và khách hàng lần đầu nhận dịch vụ KHHGĐ tại 8 tỉnh của Việt Nam: khoảng 53% trong số 314 cán bộ y tế có nhấn mạnh vào một biện pháp cụ thể trong khi tiếp xúc với khách hàng. Ba biện pháp tránh thai là DCTC tránh thai, viên uống tránh thai kết hợp, và bao cao su đựơc nhấn mạnh nhiều hơn các biện pháp khác.  Tỉ lệ cán bộ y tế nhấn mạnh vào các biện pháp trên là 49%, 36% và 22%. 

Kết luận

Chương trình KHHGĐ của Việt Nam trong những năm qua đã có nỗ lực đa dạng hoá các biện pháp tránh thai. Việc phân phối biện pháp tránh thai ở Việt Nam được thực hiện có sự phối hợp giữa hai kênh y tế và dân số nhằm tạo điều kiện cho khách hàng dễ tiếp cận dịch vụ hơn. Việc cung cấp các biện pháp có thể chưa đầy đủ, liên tục, đặc biệt là bao cao su và thuốc uống tránh thai, và thuốc tiêm tránh thai, dẫn đến khách hàng dễ bỏ cuộc, hoặc phải đổi biện pháp khác mặc dù biện pháp đã sử dụng phù hợp với họ. Thiếu sự lựa chọn cũng là một nguyên nhân dẫn tới tỉ lệ sử dụng biện pháp tránh thai tự nhiên cao. Do đó, để nâng cao chất lượng dịch vụ KHHGĐ, cùng với nhiều hoạt động khác, cần tăng cường hơn nữa sự lựa chọn cho khách hàng. Cần có những hoạt động củng cố, tăng cường mối quan hệ phối hợp công tác tại các cơ sở cung cấp dịch vụ SKSS/KHHGĐ như các cơ sở y tế, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em cần đảm bảo luôn có đầy đủ biện pháp tránh thai cho các đối tượng tại cơ sở y tế cũng như thông qua cấp phát các biện pháp tránh thai phi lâm sàng của đội ngũ cộng tác viên dân số cơ sở. Với sự hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chức quốc tế, thực tế chúng ta không thiếu biện pháp tránh thai. Do đó cải tiến cơ chế quản lý và cung cấp là rất quan trọng để tránh được tình trạng căng thẳng không cần thiết về thiếu biện pháp. Biện pháp tránh thai khẩn cấp cần được giới thiệu vào hệ thống cung cấp dịch vụ nhà nước. Người cung cấp cần được đào tạo về tầm quan trọng của sự lựa chọn để giúp họ cung cấp đầy đủ thông tin cho khách hàng, không có thiên kiến về một biện pháp nào đó.

* Population Council, Hà Nội

5 Nguyễn Đình Cử : Giáo trình dân số và phát triển dùng cho lớp bồi dưỡng cán bộ dân số. Hà nội 1998. Trang 46