KINH NGHIỆM QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH

DÂN SỐ, GIA ĐÌNH VÀ TRẺ EM TẠI ĐÀI LOAN

TS. Nguyễn Quốc Anh*

 


*I. Một số thông tin chung về Đài Loan

Đài Loan có địa hình là đảo, diện tích chủ yếu là núi, tổng diện tích: 36.000 km2. Thiên tai thường có động đất và bão. Dân số 22 triệu người, trẻ em dưới 15 tuổi chiếm 21,2%. Dân số trong độ tuổi từ 15-64 chiếm 70,26%, số người cao tuổi trên 65 tuổi chiếm 8,62%. Mật độ dân số 616 người/km2. Tỷ lệ sinh 13,7‰; Tỷ lệ chết 5,6‰; Tỷ lệ tăng tự nhiên 8,1‰; Tỷ lệ chết trẻ sơ sinh 5,3‰; Tuổi thọ bình quân: Nam 72,6; Nữ 78,4. Tổng tỷ suất sinh 1,3 con.

Các chỉ số nhân khẩu học cho thấy, cấp độ chương trình dân số của Đài Loan đã đạt mức sinh thay thế cách đây khoảng 20 năm và đã ổn định qui mô. Như vậy hiện nay chương trình Dân số, Gia đình và Trẻ em ở Đài Loan tập trung vào các chương trình dịch vụ xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, chất lượng con người, chất lượng dịch vụ xã hội.

II. Một số chương trình trọng tâm đang triển khai ở Đài Loan về lĩnh vực Dân số, Gia đình và Trẻ em

1. Hệ thống chăm sóc sức khoẻ, dịch vụ công

Chi phí y tế ở Đài Loan chiến 5,8% GDP. Về tổ chức, Đài Loan có 25 Sở Y tế với một hệ thống chăm sóc sức khoẻ từ Trung ương xuống cộng đồng. Có 23 Trung tâm Y tế; 72 bệnh viện khu vực; 372 bệnh viện huyện; 371 Trung tâm y tế công (ở các trấn); 18.183 phòng khám nhỏ tại cộng đồng. Công tác chăm sóc sức khoẻ tốt là yếu tố chính của tuổi thọ tăng cao. Hiện tại ở Đài Loan có hệ thống các Viện dưỡng lão dành cho người cao tuổi với các dịch vụ chăm sóc, phục hồi chức năng tốt nhất. Để bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân, Đài Loan có chiến dịch chống hút thuốc lá, phòng tránh các bệnh mãn tính như huyết áp cao, tiểu đường thông qua các phương pháp truyền thông thay đổi hành vi.

2. Công tác Dân số và Gia đình

Năm 1985 Đài Loan đã đạt mức sinh thay thế. Hiện nay Đài Loan đang phải đối mặt với một số thách thức:

- Tỉ lệ sinh thấp: Hiện tại tổng tỷ suất sinh của Đài Loan là 1,22 con, là mức sinh quá thấp so với các nước trên thế giới (chỉ cao hơn Hồng Kông và Ma cao). Nếu dân số tiếp tục giảm sẽ dẫn đến tỉ lệ phát triển dân số âm.

- Lão hoá dân số: Dân số Đài Loan đang bị giảm đi (chỉ tăng 800.000 người/năm), trong khi đó số người già tăng lên (1.800.000 người) dẫn đến nhiều vấn đề xã hội như thiếu lực lượng lao động và phải tăng quỹ phúc lợi để chăm sóc người già.

- Tuổi kết hôn muộn: Tỉ lệ phụ nữ kết hôn sau 30 tuổi ở Đài Loan là 40%. Những phụ nữ này khi kết hôn sẽ có nguy cơ cao về biến chứng khi sinh và sinh con dị tật.

- Trẻ vị thành niên có thai: Hiện nay ở Đài Loan có khoảng gần 10.000 trẻ em từ 15 -18 tuổi mang thai. Trẻ vị thành niên có con sẽ sinh ra những trẻ em mắc dị tật làm ảnh hưởng đến chất lượng dân số.

- Vấn đề kết hôn với người nước ngoài: Năm 1993 tỉ lệ kết hôn với người nước ngoài chiếm 11,3% so với trong tổng số người kết hôn. Các cô dâu người nước ngoài chủ yếu là từ Trung quốc, Thái Lan, Việt Nam, Indonexia... Hiện có hơn gần 80 vạn cô dâu Việt Nam lấy chồng Đài Loan và đã chiếm tỷ lệ cao nhất (trước đây là cô dâu Trung Quốc). Do khác biệt về ngôn ngữ, văn hoá, phong tục tập quán nên việc truyền thông về sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình, bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em cho những đối tượng này còn gặp nhiều khó khăn. Hiện tại đã có một số tài liệu truyền thông, hướng dẫn được dịch ra tiếng nước ngoài.

3. Công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em

Tại Đài Loan, công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em được đặc biệt chú trọng. Năm 1973 Đài Loan ban hành Luật Bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Năm 1989 Đài Loan thông qua công ước Quốc tế của Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em. Năm 1993 Cục Phúc lợi trẻ em được thành lập với mục đích bảo vệ, chăm sóc trẻ em một cách hoàn hảo nhất.

Nhà nước đã thiết lập một hệ thống nhà trẻ, mẫu giáo do chính quyền và tư nhân cùng đầu tư. Hiện tại ở Đài Loan có 3275 nhà trẻ với 32.172 cô nuôi dạy trẻ có chứng nhận hợp pháp. Công tác truyền thông giáo dục về ngôi nhà an toàn cho trẻ được đẩy mạnh. Bạn đã xây dựng  Website về giáo dục giới tính và  sức khoẻ sinh sản cho trẻ vị thành niên để tuyên truyền rộng rãi.

Đài Loan đã xây dựng một mạng lưới chăm sóc, bảo vệ trẻ em một cách toàn diện. Các dịch vụ bảo vệ sức khoẻ trẻ em được tiến hành ngay từ khi trẻ mới sinh. Hệ thống bảo hiểm y tế được tổ chức chặt chẽ và có hiệu quả (trẻ em dưới 6 tuổi được khám sức khoẻ miễn phí). Ngoài ra các bệnh viện cũng được giao cập nhật số liệu sinh tử của trẻ em và được nối mạng máy tính trong toàn quốc để trao đổi thông tin thường xuyên.

Cục Tăng cường sức khoẻ Đài Loan có nhiều chương trình y tế dành riêng cho trẻ em: Chương trình can thiệp sớm đối với trẻ em; chương trình sàng lọc sơ sinh; chương trình dịch vụ điều phối sinh sản; chương trình nuôi con bằng sữa mẹ...

Liên đoàn Phúc lợi trẻ em được thành lập nhằm cung cấp các dịch vụ trực tiếp và gián tiếp cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Do nền kinh tế phát triển nên ở Đài Loan không có trẻ suy dinh dưỡng, hiện tại Đài Loan đang phải đối đầu với vấn đề trẻ béo phì.

Các tổ chức Phi chính phủ và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em được chính quyền Đài Loan tạo điều kiện và  khuyến khích hoạt động. Quỹ trẻ em và gia đình Đài Loan là một tổ chức Phi Chính phủ lớn có 23 chi nhánh trong toàn quốc. Quỹ có 4 chương trình chính: Bảo vệ trẻ em; Bảo trợ, đỡ đầu trẻ em (tìm gia đình thay thế tạm thời); Chăm sóc, giáo dục; Các dịch vụ tư vấn. Kinh phí hoạt động của Quỹ năm 2003 là 2,3 tỷ Đài tệ. Quỹ đã hỗ trợ trẻ em của 20 nước trên thế giới trong đó có trẻ em Việt Nam thông qua Quỹ Hỗ trợ trẻ em của úc.

III. Chương trình thực hiện

Để giải quyết những thách thức nêu trên, từ năm 1992 Đài Loan đã ban hành chính sách dân số mới nhằm tăng cường phát triển dân số một cách hợp lý. Mục tiêu mỗi gia đình có 2 con, động viên thanh niên không kết hôn quá muộn, tăng duy trì hôn nhân để duy trì phát triển dân số, chú trọng nâng cao chất lượng dân số, chất lượng cuộc sống.

Các giải pháp cụ thể:

- Tư nhân hóa, xã hội hoá các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình.

- Lồng ghép kế hoạch hoá gia đình và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em.

- Giáo dục giới tính, đa dạng hoá và nâng cao chất lượng các biện pháp tránh thai. Giới thiệu và khuyến khích sử dụng các biện pháp tránh thai mới.

- Cung cấp các dịch vụ miễn phí cho những đối tượng bị thần kinh, di truyền…

- Tăng cường truyền thông giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân về sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình. Quan tâm đến vấn đề sức khoẻ sinh sản của các đối tượng học sinh, người lao động và các cô dâu người nước ngoài tại Đài Loan.

- Chương trình phòng ngừa tai nạn và an toàn cho trẻ em: Hiện nay tai nạn thương tích đứng thứ 5 trong số 10 nguyên nhân chính dẫn đến tử vong trẻ em từ 1- 4 tuổi ở Đài Loan.

- Chương trình khám sàng lọc phát hiện các bệnh về mắt cho trẻ em trước tuổi đến trường (Hiện nay ở Đài Loan có hơn 80% trẻ em bị cận thị).

- Chiến dịch tăng cường sức khoẻ răng miệng cho trẻ em. Hiện nay tỉ lệ trẻ em súc miệng bằng chất Fluor đạt 100%.

- Tăng cường sức khoẻ vị thành niên.

- Giảm tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh và sàng lọc gien để giảm dị tật bẩm sinh ở trẻ  sơ sinh.

- Tăng cường sự phát triển của trẻ: Cha mẹ và xã hội cùng thực hiện các hoạt động chăm sóc trẻ.

- Tăng cường bảo vệ quyền trẻ em. Có đường dây nóng 24/24 giờ để bảo vệ trẻ em, phụ nữ khỏi bị lạm dụng (số 113). Thiết lập đường dây nóng trợ giúp trẻ em bị bắt cóc, bị lạc.

IV. Một số liên hệ với chương trình DSGĐTE của Việt Nam

1. Chương trình dân số của Đài Loan cũng xảy ra tỷ lệ sinh tăng trở lại khi đã tiệm cận mức sinh thay thế, đó là điều có tính quy luật, nhưng cần đặc biệt tập trung đầu tư để khống chế tỷ lệ tăng ở mức cho phép, tuyệt đối không để tăng mức cho phép, phát sinh tăng mức sinh trở lại.

2. Từ bài học kinh nghiệm ở Đài Loan cần sớm quan tâm đến vấn đề người cao tuổi vì sẽ trở thành vấn đề nổi cộm của xã hội Việt Nam. Cử các cơ quan chuyên môn đi học tập mô hình chăm sóc và phục hồi chức năng cho người cao tuổi.

3. Những bài học về chương trình can thiệp sớm và sàng lọc gien cho trẻ sơ sinh nhằm ngăn ngừa dị tật bẩm sinh cho trẻ em.

4. Cần sớm triển khai các chương trình phát triển dịch vụ xã hội, đây sẽ trở thành nhu cầu bức xúc của xã hội, là nhu cầu thiết yếu của xã hội Việt Nam trong tương lai gần.

5. Cần đặc biệt quan tâm đến chương trình trẻ em và vị thành niên vì đây là lực lượng chủ nhân của xã hội trong tương lai. Xem xét trao đổi, học tập mô hình chăm sóc trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật.

6. Việt Nam cần phối hợp với Đài Loan triển khai chương trình chăm sóc bà mẹ và trẻ em cho gần 80.000 cô dâu Việt Nam ở Đài Loan, số này sẽ tăng lên nhanh. Hiện nay 1/8 số trẻ sơ sinh hàng năm ở Đài Loan có mẹ là người nước ngoài, trong đó tỷ lệ là người Việt Nam chiếm khoảng 60%.n




* Gi¸m ®èc Trung t©m Th«ng tin, Uû ban DS, G§ & TE