TỶ SỐ GIỚI TÍNH CỦA VIỆT NAM

VÀ MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

HIỆN TRẠNG VÀ BÀN LUẬN

VÕ ANH DŨNG*, PHƯƠNG THỊ THU HƯƠNG**

NGUYỄN NGỌC HUYÊN***,  LÊ THANH SƠN****


Text Box: Biểu 1. Tỷ số giới tính của dân số và phần trăm dân số nữ trong tổng số dân, 2000-2005
	Tỷ số giới tính của dân số	Phần trăm dân số nữ trong tổng số dân
1999	96,7	50,8
2000	96,7	50,8
2001	96,7	50,8
2002	96,7	50,8
2003	96,6	50,9
2004	96,6	50,9
2005 (Ước tính)	96,7	50,9
Nguồn: TCTK. Tổng Điều tra dân số và nhà ở 1999; Điều tra biến động DS-KHHGĐ 2000-2004; Niên giám thống kê 2000-2003; Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội 9 tháng đầu năm 2005Giới thiệu *,*****,****

Năm 2005, dân số Việt Nam ước tính là 83,1 triệu ngưòi, Trong đó nữ chiếm gần 51%, và 74% dân số sống ở nông thôn. Tỷ số giới tính và tỷ số giới tính lúc sinh phản ánh cơ cấu dân số theo giới tính. Với những điều kiện về kinh tế, xã hội và văn hóa khác nhau, các chỉ số này có thể khác nhau giữa các nước, giữa các địa phương trong một nước. Mặc dù hiện tại, sự mất cân bằng giới tính dẫn đến thiếu hụt phụ nữ ở Việt Nam chưa phải là vấn đê nghiêm trọng như đã xảy ra ở một số nước, nhưng cần có những nghiên cứu, khảo sát sâu về các nguyên nhân và yếu tố tác động để có những biện pháp, chính sách phù hợp trong tương lai. Bài này trình bày một số đặc điểm cơ cấu dân số theo giới tính của Việt nam, cũng như một số địa phương ở Việt nam thời gian gần đây, từ đó nêu lên một số bàn luận bước đầu.

Hiện trạng

Tỷ số giới tính của dân số

Tỷ số giới tính (số nam trên 100 nữ) của Việt Nam tăng nhẹ từ 94,2 năm 1979 lên 94,7 năm 1989 và 96,7 năm 1999. Trong các năm từ 1999-2005, số liệu thống kê về tỷ số giới tính của dân số và tỷ trọng dân số nữ trong tổng số dân gần như không thay đổi (96,6 - 96,7 và 50,8% - 50,9%), điều này cho thấy một sự ổn định và cân bằng về giới tính của dân số Việt Nam (Biểu 1), bởi thông thường tỷ trọng dân số nữ luôn cao hơn tỷ trọng dân số nam. 

Xét theo độ tuổi, tỷ số giới tính của dân số cao nhất ở các độ tuổi trẻ nhất 0-4, 5-9, và 10-14. Riêng các tỷ số giới tính ở hai độ tuổi 15-19 và 20-24 tăng 5-7 điểm  từ 1999 - 2004. Các mức tăng này có thể do nhiều nguyên nhân, trong đó có thể kể tới việc kết hôn với người nước ngoài. Trong 10 năm qua, số lượng phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, hầu hết là với nam giới Đài Loan. Hiện tại có kkoảng 100.000 phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan. Đa số trong độ tuổi 23-35. Các con số này giảm dần ở các độ tuổi cao hơn. Nhìn chung, các tỷ số này dao động ít và do vậy phản ánh một xu hướng giới tính cân bằng và ổn định ở từng độ tuổi (Biểu 2).


Biểu 2. Tỷ số giới tính theo độ tuổi, 2000-2004

Độ tuổi

1999

2001

2002

2003

2004

0-4

108,6

106,1

106,8

107,7

107,1

5-9

107,4

105,8

105,7

106,4

107,2

10-14

107,2

104,5

106,1

105,7

107,7

15-19

100,7

102,7

103,6

105,7

105,0

20-24

94,3

94,9

97,3

98,5

101,7

25-29

99,3

97,3

97,6

97,6

97,8

30-34

99,0

98,8

99,4

99,2

97,8

35-39

94,7

96,8

97,8

97,1

95,9

40-44

90,7

91,6

92,1

92,4

93,3

45-49

89,7

92,7

93,7

93,7

94,6

50-54

82,4

81,3

82,3

83,2

82,7

55-59

78,5

78,6

81,4

86,3

83,4

60-64

78,3

77,6

77,6

76,4

76,4

65+

68,3

67,0

66,6

67,2

66,7

Nguồn: TCTK. Tổng Điều tra dân số và nhà ở 1999; Điều tra biến động DS-KHHGĐ 2001-2004


Tỷ số giới tính lúc sinh

Text Box: Biểu 4. Số tỉnh theo tỷ số giới tính lúc sinh theo tỉnh, 1999
Tỷ số giới tính lúc sinh	Số tỉnh/thành phố (n=61)
120 - 128	6
108 - 119	29
103 - 107	8
85 - 101	18
Nguồn: TCTK.  Tổng Điều tra dân số và nhà ở 1999Text Box: Biểu 3. Tỷ số giới tính lúc sinh theo vùng, 1999

	Tỷ số giới tính lúc sinh			Tỷ số giới tính lúc sinh
Việt Nam	107			
ĐB sông Hồng	107		DH Nam Trung Bộ	103
Đông Bắc	103		Tây Nguyên	104
Tây Bắc	108		Đông Nam Bộ	109
Bắc Trung Bộ	107		ĐB sông Cửu Long	113
Nguồn: TCTK.  Tổng Điều tra dân số và nhà ở 1999Ở Việt Nam, tỷ số giới tính lúc sinh (số trẻ sơ sinh trai tính trên 100 trẻ sơ sinh gái) có được từ các tổng điều tra dân số 10 năm/lần. Cho đến nay, Việt Nam đã tiến hành 3 cuộc tổng điều tra vào các năm 1979, 1989 và 1999. Nhưng số liệu về tỷ số giới tính lúc sinh chỉ có được từ hai cuộc tổng điều tra gần đây. Theo kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 1999, tỷ số giới tính lúc sinh của năm 1999 là 107, tăng nhẹ so với năm 1989 (105), tuy nhiên con số này vẫn nằm trong phạm vi chuẩn của quốc tế. Nhưng xét về khu vực, tỷ số này cao nhất tại ĐB sông Cửu Long (113), tiếp đến là Đông Nam bộ (109) và Tây Bắc (108), (Biểu 3). Ba vùng này chiếm tới 40% dân số cả nước.

Năm 1999, có 6/61 tỉnh, thành phố trong cả nước có tỷ số giới tính lúc sinh rất cao (120-128) và 29 tỉnh/thành phố có tỷ số giới tính lúc sinh cao (110-119). Tuy nhiên 18 tỉnh/thành phố có tỷ số giới tính lúc sinh thấp (85-101 và 8/61 tỉnh/thành phố có tỷ số giới tính lúc sinh ở mức chuẩn (Biểu 4). 9/12 tỉnh của ĐB sông Cửu Long có tỷ số giới tính từ 110-128. 

Cho  tới hiện nay, vẫn chưa có một nghiên cứu đầy đủ nào về giới tính lúc sinh ở Việt Nam để cung cấp một bức tranh toàn cảnh về tình trạng giới tính. Nhìn chung, sự mất cân bằng giới tính dẫn đến thiếu hụt phụ nữ ở Việt Nam chưa phải là vấn đề nghiêm trọng như đã xảy ra ở một số nước. Tuy nhiên các số liệu báo cáo của một số địa phương nằm trong số các tỉnh có tỷ số giới tính lúc sinh cao và rất cao qua Tổng điều tra dân số 1999 (Biểu 5) cho thấy một xu hướng tăng tỷ số giới tính lúc sinh, hay đã bắt đầu một sự mất cân bằng giới tính với số trẻ sơ sinh nam nhiều hơn số trẻ sơ sinh nữ.

Text Box: Biểu 5. Tỷ số giới tính lúc sinh theo báo cáo của một số tỉnh, 2001-2004

Tỉnh	Tổng Điều tra dân số và nhà ở 1999	2001	2002	2003	2004
Lai Châu	116,0	-	-	-	116,7
Quảng Ninh	118,0	-	121,0	128,0	125,0
Hải Dương
116,0	117,9	119,5	119,0	130,4
Thái Bình	120,0	-	-	-	113,5
Thanh Hoá	116,0	146,9	131,9	131,5	140,3
Hà Tĩnh	115,0	122,4	123,9	122,1	122,7
Đà Nẵng	115,0	-	-	-	113,3
Kon Tum	124,0	183,8	114,0	129,6	134,5
Ninh Thuận 	119,0	108,0	106,0	110,0	103,0
Bình Phước
119,0	105,8	109,4	105,2	107,5
Sóc Trăng	124,0	-	107,8	108,2	112,1
An Giang	128,0	-	151,1	142,2	124,8
Nguồn: TCTK. Tổng Điều tra dân số và nhà ở 1999, Báo cáo của Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em các tỉnh (2005)Dựa trên các số liệu báo cáo của một số Uỷ ban DS-GĐ-TE tỉnh, trong số các tỉnh có tỷ số giới tính lúc sinh từ 115 trở lên năm 1999, sáu tỉnh (Quảng Ninh, Hải Dương, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Kon Tum, và An Giang) báo cáo có tỷ số giới tính lúc sinh vẫn cao trong các năm 2001-2004, trong khi hai tỉnh (Ninh Thuận và Bình Phước) có tỷ số giới tính lúc sinh vẫn thấp. Các tỉnh còn lại có giảm nhưng vẫn cao hơn mức chuẩn (Bảng 5).

Một số tỉnh có tỷ số giới tính lúc sinh rất cao theo kết quả TĐTDS 1999 đến năm 2004 vẫn có tỷ số giới tính rất cao hoặc cao như An Giang (128,0 và 124,8), Kon Tum (124,0 và 134,5) và Thái Bình (120,0 và 113,5). Một số tỉnh khác có tỷ số giới tính lúc sinh thấp theo kết quả TĐTDS 1999 đến năm 2004 có tỷ số này cao hơn như  Hà Tây với 96,0 tăng lên 128,9 (theo báo cáo hàng năm) hoặc 108,6 (theo kết quả xử lý và phân tích số liệu từ các Sổ sinh ở Trạm Y tế cấp xã).

Từ năm 2005 ở Việt nam mọi trẻ em dưới 6 tuổi được chăm sóc sức khỏe ban đầu, được khám chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập (Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em sửa đổi năm 2004). Mỗi trẻ em dưới 6 tuổi đều được cấp Thẻ khám chữa bệnh dựa trên cơ sở dữ liệu trẻ em dưới 6 tuổi được tin học hóa. Số liệu được cập nhật và xử lý trong cơ sở dữ liệu này có các chỉ tiêu như ngày sinh và giới tính gắn chặt với quyền khám chữa bệnh của từng trẻ em, nhất là với những trẻ em ít tháng tuổi. Tuy nhiên, chỉ mới có một số ít tỉnh hoàn thành thiết lập cơ sở dữ liệu này.

Tại những nơi có số liệu có thể tin cậy hơn thông qua cơ sở dữ liệu trẻ em dưới 6 tuổi hoặc qua xử lý và phân tích số liệu từ các sổ sinh ở Trạm Y tế cấp xã có thể nhìn thấy tỷ số giới tính lúc sinh ở các đô thị chính hoặc trung tâm tỉnh cao hơn tỷ số này của toàn tỉnh như 119,79 (thị xã Hà Đông) so với 108,6 (tỉnh Hà Tây), 124,03 (quận Hải Châu) so với 114,0 (thành phố Đà Nẵng), 113,23 (thị xã Thủ Dầu Một) so với 109,0 (tỉnh Bình Dương) và 110,69 (thành phố Cà Mau) so với 103,47 (tỉnh Cà Mau).

Tỉnh Hà Tây

Hà Tây là một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng, nằm liền kề với thủ đô Hà Nội có diện tích gần 2,2 nghìn km2 (đứng thứ 47 trên 64 tỉnh, thành phố trong cả nước) và dân số 2,5 triệu người (đứng thứ 5 trong cả nước, sau TP. Hồ Chí Minh, Hà nội, Thanh Hóa, Nghệ An), chiếm gần 3,15% dân số cả nước. Theo Tổng điều tra dân số 1999, tỷ số giới tính lúc sinh của tỉnh Hà Tây là 96, nằm trong số 18 tỉnh có tỷ số giới tính lúc sinh thấp.

Tuy nhiên, theo số liệu báo cáo hàng năm 2002-2004 của Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em tỉnh Hà Tây, tình hình tỷ số giới tính lúc sinh của tỉnh và các huyện, thị xã thuộc tỉnh được thấy qua Biểu 6. Tỷ số giới tính lúc sinh các năm 2002-2004 so với năm 1999 toàn tỉnh đã cao hơn nhiều, hầu hết các huyện, thị xã có xu hướng tăng hoặc ổn định ở mức cao, ngoại trừ huyện Ba Vì và Thanh Oai có xu hướng giảm. Tại các huyện, thị: Sơn Tây, Phúc Thọ, Chương Mỹ, Thường Tín, Phú Xuyên và Mỹ Đức, tỷ số giới tính lúc sinh cao bất thường, đặc biệt là Phú Xuyên (175), Mỹ Đức (159) và Phúc Thọ (150). Báo cáo thiếu có thể là một trong các nguyên nhân của sự chệnh lệch quá lớn này. Hơn nữa, sự tăng này xảy ra cùng với mức sinh tăng trở lại tại địa phương cũng như trong cả nước các năm 2003-2004. Mặt khác, cũng cần lưu ý rằng tỷ số giới tính lúc sinh của một số địa phương lên xuống thất thường qua các năm, ví dụ, tỷ số giới tính lúc sinh của thị xã Sơn Tây và Phú Xuyên rất cao (145,7 và 158,6) năm 2002, giảm nhanh xuống 97,6 năm 2003, sau đó tăng mạnh lên 147,0 và 175,6 năm 2004.

Tỷ số giới tính lúc sinh theo thứ tự sinh có được ở tỉnh Hà Tây tuy không phản ánh sự khác biệt ở phạm vi toàn tỉnh, nhưng lại có sự khác biệt rõ ở thị xã Hà Đông và huyện Đan Phượng. Chính sách dân số của Việt Nam khuyến khích mỗi cặp vợ chồng có 1 hoặc 2 con. Tỷ số giới tính của trẻ sơ sinh là con thứ ba của thị xã Hà Đông là 139,33, của huyện Đan Phượng là 143,06, của huyện Hoài Đức là 124,54 cao hơn hẳn tỷ số này đối với con thứ nhất và con thứ hai.

Text Box: Biểu 6. Tỷ số giới tính lúc sinh tỉnh Hà Tây, 2002-2004

Huyện, thị xã	2002	2003	2004
Toàn tỉnh	127,18	119,39	128,92
Hà Đông	82,02	116,49	134,31
Sơn Tây	145,67	97,60	146,97
Ba Vì	111,39	106,75	90,73
Phúc Thọ	138,65	140,29	150,27
Đan Phượng	110,51	130,77	124,14
Thạch Thất	116,23	127,33	137,05
Hoài Đức	127,11	117,91	118,07
Quốc Oai	107,78	107,59	111,74
Chương Mỹ	153,93	121,46	140,17
Thanh Oai	116,06	111,69	103,19
Thường Tín	146,79	135,60	145,38
Ứng Hòa	111,84	113,37	123,57
Phú Xuyên	158,58	97,50	175,60
Mỹ Đức	152,59	156,72	158,55
Nguồn: Báo cáo của Uỷ ban Dân số, gia đình và trẻ em tỉnh Hà Tây 2002-2004Để có số liệu sẵn từ các nguồn sẵn có khác về tỷ số giới tính lúc sinh của các huyện, thị xã, số liệu chi tiết từ các Sổ sinh năm 2004 của tất cả các Trạm Y tế xã, phường thuộc các huyện, thị xã trong toàn tỉnh cũng được thu thập. Số liệu thu thập bằng cách này có những khác biệt so với các số liệu báo cáo hàng năm. Số liệu được thu thập theo cả hai cách đều có sai số nhất định. Biểu 8 trình bày số liệu về tỷ số giới tính lúc sinh của tỉnh Hà Tây và các huyện năm 2004. Mặc dù các tỷ số này của toàn tỉnh trong các năm 2002-2004 gần sát với mức chuẩn, đây là một mức tăng khá mạnh so với tỷ số năm 1999, thấp hơn nhiều mức chuẩn. Có sự chênh lệch về tỷ số giới tỉnh theo thứ tự sinh trong tỉnh. Năm 2004,  tỷ số giới tính lúc sinh của tỉnh theo thứ tự sinh duy trì ở mức trung bình, nhưng khác nhau giữa các huyện như thị xã Hà Đông (139,3), huyện Đan Phượng  (143,1) và Hoài Đức (124,5). Các tỷ số này là của lần sinh con thứ ba, cao hơn rất nhiều so với lần sinh thứ nhất và thứ hai. Ỏ lần sinh thứ ba này, 6 huyện có tỷ số cao và 5 huyện khác có tỷ số thấp hơn. Trao đổi với các cán bộ địa phương về y tế, văn hoá, dân số phụ nữ… thứ tự sinh lần thứ ba cao chủ yếu xảy ra những cặp vợ chồng sinh con một bề, chủ yếu là con gái.

Bàn luận

Là một xã hội châu Á truyền thống, tư tưởng “trọng nam khinh nữ” với nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu đã thấm sâu vào quan niệm của người dân, vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Đây là một trong những nguyên nhân sâu xa tạo nên sức ép tâm lý đối với những phụ nữ chỉ sinh con gái.

Sức ép tâm lý nặng nề nhất được tác động từ phía cha mẹ chồng, đặc biệt khi người phụ nữ là con dâu trưởng hay con dâu độc nhất trong gia đình. Không ít cha mẹ chồng trước khi “khuất núi” vẫn một mực nuối tiếc vì chưa có cháu trai nối dõi tông đường. Nhiều người chồng thiếu bản lĩnh và chính kiến cũng dễ đứng về phía cha mẹ mình để gây sức ép đối với vợ, đòi hỏi vợ phải sinh bằng được con trai. Sức ép của dư luận xã hội tự phát cũng gây sức ép tâm lý bằng sự dè bỉu, khích bác những cặp vợ chồng chỉ sinh con gái. Quan niệm “nhập gia tùy tục”, chiều theo ý muốn của gia đình nhà chồng, không chịu thua chị kém em của người phụ nữ cũng tự gây nên sức ép tâm lý cho chính mình.

Tư tưởng “trọng nam khinh nữ” cũng tạo nên tập quán con trai có trách nhiệm nhiều hơn con gái trong việc phụng dưỡng, chăm sóc cha mẹ khi về già và lo liệu ma chay, thờ cúng cha mẹ sau khi chết.

Tâm lý sinh thêm con trai để dự phòng trong trường hợp rủi ro (tai nạn, tệ nạn xã hội…)

Để góp phần giải tỏa sức ép tâm lý nêu trên, ở Việt Nam lưu hành khá rộng rãi các loại sách, tài liệu, các trang web quảng bá cho việc “sinh con theo ý muốn”, đồng thời có sự lạm dụng nhất định những tiến bộ y học hiện đại, những phương pháp chẩn đoán giới tính thai nhi, sử dụng siêu âm để xác định sớm giới tính thai nhi (ngay từ 3 tháng tuổi thai hoặc sớm hơn). Ở Việt Nam hiện nay, nhất là các thành phố lớn hay những nơi đô thị, để sinh được con "Theo ý muốn", có những phụ nữ đã lạm dụng nạo phá thai.

Hiện tại, các dịch vụ chăm sóc SKSS gồm cả nạo thai và siêu âm rất sẵn có và thuận tiện, nhưng chưa có bằng chứng về nạo thai lựa chọn giới tính và giết trẻ em gái ở Việt Nam. Theo Pháp lệnh dân số, lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức bị nghiêm cấm. Chiến lược dân số Việt Nam 2001-2010 xác định bình đẳng giới là một yếu tố quan trọng để đạt các mục tiêu dân số. Giá trị của con trai và con gái được đề cập một cách bình đẳng trong nhiều văn bản pháp lý.

Một số cơ quan chức năng về lĩnh vực dân số, gia đình và trẻ em, cũng như ngành y tế, thống kê ở các cấp chưa chủ động nắm bắt tình hình xu hướng tỷ số giới tính lúc sinh ở các địa phương. Xu hướng thực tế, tự phát nêu trên chưa được đặt vấn đề ứng phó. Theo kết quả TĐTDS 1999, có 29 trong số 61 tỉnh, thành phố trong cả nước có tỷ số giới tính lúc sinh cao hoặc rất cao. Tuy nhiên, ít có địa phương trong số đó ý thức được hậu quả của nó để tham mưu cho chính quyền tiến hành nghiên cứu, phân tích những nguyên nhân và các yếu tố liên quan, từ đó xây dựng các giải pháp cải thiện tình trạng này, mà thiên về nhận xét số liệu điều tra thiếu chính xác.

Trong những năm qua chưa có các biện pháp chính sách đề cập đến mất cân bằng giới tính lúc sinh.

Dự báo xu hướng này sẽ tiếp diễn nếu không có sự tác động, can thiệp về chính sách bằng những giải pháp phù hợp trên cơ sở phân tích một cách khách quan, đầy đủ các nguyên nhân và các yếu tố liên quan.

Kết luận

Hiện tại Việt Nam chưa xảy ra hiện tượng mất cân bằng giới tính dẫn đến thiếu hụt phụ nữ, các số liệu báo cáo gần đây về tỷ số giới tính của một số địa phương có thể cho thấy một dấu hiệu về sự mất cân bằng giới tính nếu không có những can thiệp về chính sách.

Các nguồn số liệu sẵn có cấp quốc gia, cũng như ở cấp địa phương như tỉnh, huyện chưa đủ để phản ánh đúng thực trạng tỷ số giới tính lúc sinh của Việt Nam. Tuy nhiên, các số liệu hiện có cho thấy một xu hướng tăng tỷ số giới tính lúc sinh tại một số tỉnh. Tỷ số giới tính chủ yếu tăng ở nhóm tuổi 15-19 và 20-24.

Tỷ số giới tính lúc sinh khác nhau giữa các địa phương. Tại một số quận/huyện tỷ số giới tính lúc sinh tăng theo thứ tự  lần sinh, chủ yếu là lần sinh thứ ba trở lên, trong đó hầu hết là ở các cặp vợ chồng sinh con gái.

Giải pháp

Việc ngăn chặn thiếu hụt phụ nữ trong tương lai do thích con trai đòi hỏi phải có những biện pháp chính sách cụ thể và phù hợp. Những biện pháp chính sách này có thể bao gồm các biện pháp giáo dục-thuyết phục, khuyến khích vật chất-tinh thần, nâng cao giá trị-vị thế của người phụ nữ, thúc đẩy sự tiến bộ của phụ nữ trong xã hội. Một hệ thống chính sách đồng bộ cũng cần gắn liền với việc hoàn thiện hệ thông tin quản lý chuyên ngành dân số, gia đình và trẻ em và cơ sở dữ liệu trẻ em dưới 6 tuổi để luôn có được các số liệu đầy đủ, chính xác, kịp thời phản ánh thực trạng vấn đề này.

Tiến hành các nghiên cứu và đánh giá tỷ số giới tính lúc sinh hỗ trợ việc lập kế hoạch chính sách đảm bảo cân bằng cơ cấu dân số.

Cần có biện pháp giải tỏa lâu dài và cân bằng sức ép tâm lý đối với những phụ nữ, những cặp vợ chồng chỉ sinh con gái. Đó là các biện pháp giáo dục-thuyết phục nhằm nâng cao nhận thức cho người dân nói chung, phụ nữ nói riêng trong việc đề cao giá trị và vị thế “người phụ nữ” trong xã hội hiện đại, từng bước xóa bỏ tư tưởng “trọng nam khinh nữ” tiền đề dẫn đến những quan niệm, tập quán không bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới, giữa con trai và con gái.

Bên cạnh việc thường xuyên thu hút, huy động các phương tiện thông tin đại chúng, cần tăng cường các chiến dịch mang tính văn hóa-tư tưởng nhằm tác động vào tư tưởng “trọng nam khinh nữ” của các nhóm đối tượng mục tiêu là những người cao tuổi trong xã hội và đối tượng tiềm năng là vị thành niên và thanh niên.

Cần nghiên cứu xây dựng và thử nghiệm những biện pháp khuyến khích vật chất-tinh thần những gia đình, cặp vợ chồng, cá nhân thực hiện tốt chính sách dân số của quốc gia, không bị ảnh hưởng bởi tư tưởng “trọng nam khinh nữ”. Những chính sách nâng cao phúc lợi, bảo hiểm xã hội tương đối hoàn hảo cho người cao tuổi, đặc biệt những người chỉ sinh con gái sẽ giải tỏa tâm lý cha mẹ khi về già phải sống dựa vào con trai, để khỏi duy trì quan niệm phải sinh bằng được con trai. Việc thử nghiệm các biện pháp này cần được cân nhắc theo các địa bàn và quy mô tiến hành để phù hợp với các điều kiện kinh tế, xã hội và văn hóa hiện nay.

Kiếm soát chặt chẽ việc sử dụng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và không khuyến khích lựa chọn giới tính và các hành vi liên quan.


*  Phó giám đốc, Trung tâm Thông tin, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em

** Trung tâm Thông tin Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em.

*** Chủ nhiệm, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em tỉnh Hà Tây

**** Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em tỉnh Hà Tây