SỰ HIỆN DIỆN CỦA TRẺ KHUYẾT TẬT

TRÊN CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG

NGUYỄN TRUNG KIÊN*

PGS. TS.TINE GAMMELTOFT**


***I. Giới thiệu

Ở Việt Nam, phương tiện thông tin đại chúng được xem như là "công cụ" quan trọng trong việc vận động người dân vì các mục đích chính trị, xã hội. Ảnh hưởng của những thông tin này phụ thuộc nhiều vào độ tin cậy của truyền thông và quan trọng hơn đó là thái độ của công chúng. Từ khi chuyển đổi sang kinh tế thị trường sau "đổi mới" năm 1986, những thái độ này đã thay đổi rất nhanh tại Việt Nam và có thể thấy rõ thông qua   việc nghiên cứu những nội dung truyền thông và tiến hành nghiên cứu mô tả trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Cùng với những biến đổi to lớn của đất nước, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã phát triển nhanh, tạo được sự chuyển biến mạnh về nhận thức và hành động của cả cộng đồng xã hội về trẻ em. Trong những năm qua, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đã có những bước phát triển mạnh mẽ và thu được những kết quả đáng khích lệ. Xây dựng được khung luật pháp, hệ thống chính sách đồng bộ, giải quyết kịp thời những nhu cầu bức xúc của hàng triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. 70% trẻ em mồ côi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được chăm sóc, giúp đỡ tại cộng đồng trong đó có 30% trẻ bị nhiễm chất độc màu da cam. Trên 80% trẻ bị sứt môi, hở hàm ếch được phẫu thuật nụ cười... Tuy nhiên, sự hiện diện của trẻ khuyết tật trên các phương tiện truyền thông được thể hiện dưới nhiều góc độ khác nhau. Chính vì vậy, bài viết này (trong khuôn khổ dự án “Dân số, phát triển và kỹ thuật sức khoẻ sinh sản mới: siêu âm chẩn đoán thai tại Việt Nam”) nhằm mục đích tìm hiểu sự hiện diện của trẻ khuyết tật trên các phương tiện thông tin đại chúng mà cụ thể ở đây là báo và tạp chí về những nội dung có liên quan như một phần trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản, đặc biệt về nhận thức và tâm lý của bà mẹ khi mang thai.

II. Phương pháp nghiên cứu

2.1. Đối tượng

Đối tượng được sử dụng trong nghiên cứu là các báo và tạp chí được sưu tầm từ 5 tờ báo ngày và 5 tạp chí tuần, tháng gồm: báo Gia đình và Xã hội, báo Sức khoẻ và Đời sống, báo Phụ nữ Việt Nam, báo Phụ nữ thủ đô, báo Khoa học và đời sống; tạp chí Phụ nữ Việt Nam cuối tuần; tạp chí Sức khoẻ và Đòi sống; tạp chí Gia đình và Trẻ em; tạp chí Gia đình và Xã hội; tạp chí Sức khoẻ Gia đình. Đây là những cơ quan ngôn luận của Bộ Y tế, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam; Hội liên hiệp phụ nữ Hà Nội và Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam.

Các số báo, tạp chí được sưu tầm từ tháng 12/2004 đến tháng 4/2005. Những bài báo viết về trẻ khuyết tật có 2 dạng: bài viết và tin.

2.2. Phương pháp

Hai phương pháp được sử dụng là "phân tích mô tả (content analysis)" và "phân tích diễn giải (discourse analysis)".

Phân tích mô tả: phân tích mô tả là một kỹ thuật nghiên cứu miêu tả định lượng, theo hệ thống và có mục đích những nội dung truyền thống. Trong bài viết này, phương pháp phân tích mô tả được ứng dụng cụ thể thông qua việc từ những bài báo sưu tầm tiến hành mã hoá và sắp xếp theo những nội dung chính. Trên cơ sở đó phân tích mô tả xem các bài báo đề cập đến những nội dung gì về trẻ khuyết tật.

Phân tích diễn giải: phân tích diễn giải nghiên cứu kỹ lưỡng cách thức mà các chủ đề được giới thiệu. Trong bài viết này, sử dụng khái niệm phân tích diễn giải của Foucault được định nghĩa là "những ứng dụng tạo ra một cách hệ thống các đối tượng của những điều họ nói". Do vậy, chúng tôi xem xét cách mà trẻ khuyết tật được giới thiệu và được nhắc đến trên các phương tiện thông tin đại chúng, cụ thể ở đây là báo viết, nghĩa là khuyết tật được “chuyển tải" như thế nào qua các phương tiện thông tin đại chúng này.

III. Kết quả và bàn luận

3.1. Phân tích mô tả

Có sự khác biệt rõ giữa các bài báo về tần suất xuất hiện cũng như nội dung trên các báo, tạp chí. Các bài báo về trẻ khuyết tật chủ yếu tập trung ở báo Gia đình và Xã hội với tần suất lớn và nội dung đa dạng. Còn lại, đối với các báo, tạp chí khác, các bài báo về trẻ khuyết tật ít hơn nhiều với nội dung chủ yếu ở dạng tin tức.

Các dạng khuyết tật được đề cập đến trong các báo, tạp chí:

Text Box: Các dạng khuyết tật được đề cập trên các số báo, tạp chí

Loại khuyết tật	Tin	Bài viết
Thị giác	6	2
Vận động	15	13
Thính giác	2	3
Dioxin	7	11
ng kinh	0	4
Hành vi xa lạ	1	6
Khác (khiếm khuyết, giảm khả năng...)	21	9
Tổng cộng	52	48Nhìn chung, các dạng khuyết tật của trẻ đều được đề cập đến trong cả 10 tờ báo và tạp chí một cách đa dạng trong đó khuyết tật hệ vận động có tần suất xuất hiện nhiều nhất. Tiếp đến là khuyết tật do ảnh hưởng bởi dioxin. Các bài báo về dạng khuyết tật này xuất hiện đặc biệt nhiều trong khoảng thời gian diễn ra vụ kiện giữa các nạn nhân dioxin Việt Nam với các công ty hoá chất Mỹ (tháng 3/2005).

Những vấn đề về trẻ khuyết tật được đề cập

Trẻ khuyết tật được các báo, tạp chí đề cập đến dưới nhiều góc độ khác nhau như hoàn cảnh gia đình, học tập, trợ giúp, từ thiện, nêu gương, những biểu hiện lâm sàng về khuyết tật,.... Do mỗi tờ báo có những nội dung chuyên biệt riêng nên những vấn đề được đề cập về trẻ khuyết tật cũng có sự khác nhau tuỳ theo từng báo. Tuy nhiên, 2 nội dung xuất hiện nhiều nhất là giáo dục và hoạt động trợ giúp.

Giáo dục

Các bài báo về hoạt động giáo dục cho trẻ khuyết tật xuất hiện chủ yếu ở báo Gia đình và Xã hội dưới dạng các mô hình trường và trung tâm dạy nghề. Nội dung của các bài báo đề cập đến những khó khăn khi thành lập các mô hình này. Tuy nhiên, qua thời gian, mọi hoạt động dần ổn định và bước đầu mang lại hiệu quả trong việc giáo dục, dạy nghề cho trẻ khuyết tật, giúp các em có cơ hội tìm kiếm việc làm và hoà nhập cộng đồng như một bài báo đã viết "... cho đến bây giờ anh cũng không hiểu vì sao anh và hàng trăm cháu tàn tật đã có thể cùng nhau vượt qua được những năm tháng gian khổ, khó khăn, thiếu thốn vô cùng ấy... ". Qua sự phản ánh của các bài báo, các mô hình trường dạy học, dạy nghề là những cơ hội rất tốt cho trẻ cắp sách đến trường giống như bao trẻ em khác, tạo ra cơ hội tìm việc làm, tạo thu nhập cho bản thân và điều quan trọng hơn là các em có cơ hội để hoà nhập. Bên cạnh đó, một nội dung được các báo đề cập đến là việc đưa trẻ khuyết tật vào học tại các trường bình thường thay cho những trường chuyên biệt. Tuy nhiên, vấn đề này trên thực tế không phải là dễ thực hiện như một bài báo đã nhận định thông qua hội nghị triển khai nhiệm vụ giáo dục trẻ khuyết tật "..việc thực hiện chỉ tiêu đưa 50% trẻ khuyết tật đến trường vào năm 2005 khó thực hiện...".

Một nội dung khác được một số bài báo đề cập đến về những người trực tiếp dạy dỗ trẻ khuyết tật. Do học sinh đều là các em khuyết tật nên bản thân giáo viên cũng có những quan niệm khác nhau. Ở một số bài báo, họ có thái độ khá dè dặt khi tiếp xúc cũng như dạy dỗ trẻ "...tôi còn không dám đưa quần, áo… cho chúng trước mặt các bạn, sợ chúng tự ái, xấu hổ và tủi thân...". Tuy nhiên, ở một số bài báo khác, những người trực tiếp dạy trẻ lại có những thái độ hết sức hoà đồng với trẻ, tạo ra cảm giác thân thiện giữa cô và trò như một bài báo đã viết về một cô giáo dạy trẻ khuyết tật "... mới đầu tôi cũng thấy sợ nhưng chứng kiến cuộc sống rất khổ đau và đầy bất hạnh của các cháu, nỗi sợ đó đã tan biết mất. Từ những tình cảm đó, bọn trẻ đã coi chị như mẹ và chị cũng quý chúng như con, em mình vậy....".

Bên cạnh các hoạt động giáo dục, một nội dung liên quan khác được các báo đề cập theo khía cạnh của bản thân trẻ là những tấm gương biết vượt khó khăn, vươn lên trong cuộc sống cũng như trong học tập như một câu chuyện về một cậu bé tật nguyền giàu nghị lực được mô tả "...đôi mắt em đang cháy những khát vọng của một trái tim giàu ý chí...". Tuy nhiên, các trường hợp nêu trên được phản ánh chỉ là những cá nhân điển hình, không mang tính cộng đồng.

Các hoạt động trợ giúp

Phần lớn các hoạt động trợ giúp được các báo đề cập đến dưới dạng tin (đặc biệt xuất hiện nhiều ở báo Gia đình và Xã hội do có một chuyên mục riêng) và không có sự khác nhau về nội dung. Các bản tin đều đưa tin về những hoạt động trợ giúp của các tổ chức trong và ngoài nước cũng như cá nhân giúp đỡ trẻ khuyết tật trên phạm vi cả nước, được thực hiện với nhiều hình thức đa dạng như trợ giúp bằng tiền mặt, phẫu thuật miễn phí, cung cấp các thiết bị phục hồi chức năng...giúp trẻ có thể hoà nhập cộng đồng. Các bản tin cho thấy phần lớn trẻ khuyết tật đều ở các gia dình nghèo, hoàn cảnh éo le"... bệnh nhân là con em nông dân nghèo, con em của bà con dân tộc vùng sâu, vùng cao và con em của bà con tôn giáo quá nghèo...". Tuy nhiên, các hoạt động này chỉ mới dừng lại ở phía những người tài trợ. Độc giả mới chỉ tiếp nhận được nguồn thông tin từ một phía- nhà tổ chức. Bên cạnh những kết quả đã đạt được, các bản tin cũng cho thấy sự hạn chế trong việc trợ giúp cho trẻ khuyết tật"... số trẻ em khiếm thính ở phía Nam hiện vẫn còn rất đông, chỉ mới có khoảng 50% nhận được sự giúp đỡ để hoà nhập cộng đồng....".

Bên cạnh đó, một số bài báo khác (cũng chủ yếu tập trung ở báo Gia đình và Xã hội) với nội dung kêu gọi lòng từ thiện của độc giả đối với các trường hợp trẻ khuyết tật và được cụ thể hoá bằng các trường hợp cá nhân có hoàn cảnh hết sức éo le và thương tâm như một bài báo viết về 2 trẻ là nạn nhân của dioxin "...hạt lúa, củ khoai là sản phẩm duy nhất để chị nuôi mình và hai con qua ngày...". Các trường hợp này được miêu tả với những từ ngữ "mạnh" nhằm tạo ra sự thương cảm. Như vậy, một thông điệp mà các bài báo, tạp chí muốn gửi đến độc giả là trẻ khuyết tật nên được giúp đỡ bởi cộng đồng và những người xung quanh, giúp trẻ có thể hoà nhập cộng đồng.

Tóm lại, thông qua 2 nội dung kể trên được các báo thường xuyên đề cập đến cho thấy dù ở dạng này hay dạng khác đều nhằm một mục đích chung là giúp trẻ khuyết tật hoà nhập cộng đồng. Giáo dục giúp trẻ có kiến thức để có thể hoà nhập trong cuộc sống cũng như cho thấy sự nỗ lực vươn lên của trẻ để tự khẳng định mình, hoà nhập vào cộng đồng. Các hoạt động trợ giúp nhằm cung cấp cho trẻ những điều kiện và phương tiện để có thể hoà nhập với những người xung quanh.

3.2. Phân tích diễn giải

Mặc dù với mục đích chung là giúp trẻ khuyết tật hoà nhập cộng đồng  nhưng qua lăng kính của các bài báo, trẻ khuyết tật vẫn được miêu tả như những con người cách biệt so với những đứa trẻ bình thường khác. Trẻ khuyết tật được đề cập đến trong các báo, tạp chí chủ yếu là các trường hợp cá nhân. Cuộc sống của các em khác biệt so với những người bình thường khác. Các em được miêu tả là những "số phận thật oan nghiệt", "những mảnh đời xấu số", "những cảnh đời bất hạnh", "nỗi đau dai dẳng", "nhiều triệu chứng của một người không bình thường..."; "...những hình hài đang nằm co quắp trên giường, những thân hình nhũn như sợi bún, các em không ngồi, không đứng được, những khuôn mặt biến dạng....". Trong học tập, các em cũng là những người "học trước quên sau" hay các cô giáo phải "đánh vật với các em". Những điều này vô hình chung đã tạo ra cách nhìn khác của độc giả đối với trẻ khuyết tật. Qua sự phản ánh của các báo, trẻ khuyết tật trở nên những con người, tách biệt khỏi xã hội và những bài báo này tạo ra sự thương hại từ phía độc giả hơn là sự cảm thông và chia sẻ.

Ngay bản thân cha mẹ của trẻ khuyết tật cũng có những suy nghĩ bi quan về những đứa con của mình "con cái mình không lành lặn, học để làm gì". Một phần do hoàn cảnh quá nghèo nên nhiều ông bố, bà mẹ đã có suy nghĩ buông trôi "...gia đình đành lòng phải đưa bé Kiên về quê nhà mặc cho số phận đến đâu thì đến... ". Ngay bản thân các tác giả cũng viết về các em với những từ ngữ miêu tả như "...những đứa con tàn tật nheo nhóc... nỗi khổ đau của người cha, người mẹ và những đứa con của họ chẳng sao kể hết được..."; "...bò lê rất tội nghiệp. Khổ sở đau xót là thế..."; "...chạy lo thuốc thang cho đứa con bất hạnh..."; "...tôi vẫn muốn dạy con, muốn con làm được những việc đơn giản để chúng ý thức mình là một con người...". Tất cả những điều kể trên đã vô hình tạo ra những rào cản đối với trẻ khuyết tật trong việc hoà nhập cộng đồng.

Mặc dù bị tật nguyền nhưng không phải vì thế mà các em chịu đầu hàng số phận. Những nỗ lực cố gắng của trẻ khuyết tật chủ yếu được đề cập đến trong học tập "..các em đang cặm cụi tập viết, tập đánh vần những con chữ với lòng kiên nhẫn vô bờ..." "lũ trẻ ngoan, thiệt thòi mà khát chữ.....". Tất cả những cố gắng, nỗ lực của các em đã nói lên ước nguyện rằng các em muốn được hoà nhập cộng đồng. Tuy nhiên, kể cả khi các em được miêu tả như những tấm gương sáng, vươn lên trong cuộc sống thì những sự khác biệt vẫn luôn xuất hiện song song cùng với những mặt tích cực của trẻ.

Trẻ khuyết tật được đề cập đến trong các số báo, tạp chí phần lớn đều dưới góc độ cá nhân. Cá biệt đối với những trường hợp trẻ em khuyết tật được miêu tả nhằm mục dích kêu gọi từ thiện từ phía độc giả là những con người cụ thể và những gia đình cụ thể. Các em trở thành những cá thể riêng biệt trong xã hội. Những điều này vô hình chung đã tạo ra những khó khăn cho trẻ khuyết tật trong việc hoà nhập cộng đồng. Các em cảm thấy tự ti, mặc cảm với những khuyết tật của bản thân "..các cháu đã tủi phận lại rất khổ tâm..."; "..các em thường mặc cảm về bản thân và gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận thông tin cũng như các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ..."; "thói quen phát âm sai vẫn còn nên những trẻ em này rất khó hoà nhập cộng đồng. Điều đó khiến các em ngại giao tiếp, xa lánh bạn bè, người thân, ngại đến trường, học kém hoặc bỏ học...". Ngay bản thân sự chịu đựng của trẻ khuyết tật cũng như những nỗ lực cố gắng của các em trong cuộc sống cũng đều được đề cập đến dưới góc độ cá nhân với mục đích nhằm kêu gọi lòng thương cảm từ phía độc giả, cho thấy những vất vả, sự chịu đựng của trẻ với những khuyết tật của cơ thể. Tuy nhiên, cách thức miêu tả này sẽ gây ra những khó khăn đối với trẻ khuyết tật trong việc sống hoà nhập với những người xung quanh.

Như vậy, trong cả hai trường hợp, dù khi trẻ khuyết tật được miêu tả với những nỗ lực cố gắng, những mặt tích cực trong cuộc sống và trong học tập hay khi được miêu tả như là những con người đáng thương thì sự xuất hiện của các em vẫn rất khác biệt so với những trẻ em khác. Những yếu tố khác biệt vẫn luôn xuất hiện song song cùng với những nỗ lực, cố gắng vươn lên trong học tập cũng như trong cuộc sống của trẻ khuyết tật. Chính những điều này tạo nên sự mâu thuẫn giữa việc giúp trẻ hoà nhập với cách thức đề cập về trẻ khuyết tật. Từ đó, vô hình chung tạo nên sự phân biệt đối với trẻ khuyết tật và những khó khăn trong việc hoà nhập. Trong con mắt của mọi người, các em vẫn là những người khác biệt. Những thông điệp dường như cho thấy rằng nếu trẻ khuyết tật không thể hoà nhập là do những khuyết tật của chúng. Tuy nhiên, bức tranh này cũng đồng thời có thể được đảo ngược và xem xét theo một cách khác. Nếu trẻ khuyết tật không được hoà nhập, điều này do xã hội đã không giúp đỡ chúng chứ không bởi sự khác biệt về thể chất cũng như tinh thần của trẻ. Cái triển vọng thiên về mặt xã hội có chiều hướng thiếu vắng trong các bài báo mà chúng tôi đã tìm hiểu. Trẻ khuyết tật không phải là hoàn toàn khác biệt với những trẻ em khác mà các em cũng có những điểm tương đồng, trong cuộc sống cũng như trong học tập. Tuy nhiên, những điểm tương đồng lại chưa được nhấn mạnh. Thay vào đó, những đặc điểm về khuyết tật, những điểm khác biệt của trẻ trong cuộc sống lại được tập trung. Điều này cũng tạo ra những rào cản trong việc giúp trẻ khuyết tật hoà nhập cộng đồng. Trong con mắt của độc giả, trẻ khuyết tật trở nên những con người thụ động, phụ thuộc vào sự giúp đỡ của gia đình cũng như những người xung quanh.

IV. Kết luận

Những nội dung phân tích ở trên cho thấy tồn tại mâu thuẫn giữa việc giúp trẻ khuyết tật hoà nhập cộng đồng với cách thức đề cập về trẻ khuyết tật trên các báo, tạp chí. Phân tích mô tả cho thấy các nội dung mà các báo, tạp chí đề cập về trẻ khuyết tật đều nhằm một mục đích chung là giúp trẻ hoà nhập cộng đồng.Tuy nhiên, phân tích diễn giải lại cho thấy một điều trái ngược rằng mặc dù với mục đích nhằm giúp trẻ khuyết tật hoà nhập cộng đồng nhưng qua cách thức đề cập của các báo, tạp chí khiến độc giả nhìn nhận các em dưới một góc độ khác. Trẻ khuyết tật trở thành những con người xa lạ, khác biệt so với những đứa trẻ bình thường. Những đặc điểm về sự khác biệt luôn xuất hiện trong các trường hợp, dù trẻ được miêu tả như những tấm gương sáng tự mình vươn lên trong học tập, cuộc sống hay được miêu tả như những con người đáng thương, cần sự trợ giúp của cộng đồng xung quanh. Qua lăng kính của các báo, tạp chí, trẻ khuyết tật trở nên những con người thụ động, trông chờ vào sự giúp đỡ từ một phía. Để việc hoà nhập có thể được thực sự diễn ra, một điều quan trọng là các phương tiện thông tin đại chúng mô tả về trẻ khuyết tật không chỉ như những người cần được giúp đỡ và trợ giúp mà còn như những công dân Việt Nam với những quyền có một vị trí trong xã hội bình thường khác và với những đóng góp cho xã hội như mọi công dân.



* Viện nghiên cứu người cao tuổi.

** Viện Nhân khẩu học, đại học tổng hợp Copenhagen, Đan Mạch.