THỰC TRẠNG HIỂU BIẾT, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI

VỀ SỨC KHOẺ SINH SẢN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Ở THÀNH PHỐ HUẾ

ThS. HOÀNG THỊ TÂM*

*Đề tài "Nghiên cứu thực trạng hiểu biết, thái độ và hành vi về sức khoẻ sinh sản của học sinh trung học phổ thông ở Thành phố Huế" tiến hành từ tháng 3/2002 - 3/2003 nhằm: 1) Đánh giá hiểu biết, thái độ và hành vi về sức khoẻ sinh sản của học sinh trung học phổ thông; 2) Tìm hiểu một số yếu tố liên quan tới  sự hiểu biết, thái độ, hành vi về sức khoẻ sinh sản của học sinh trung học phổ thông.

Đối tượng nghiên cứu là học sinh đang học tại 9 trường trung học phổ thông của thành phố Huế theo phương pháp mô tả cắt ngang trên mẫu đã chọn. Chọn mẫu theo 3 giai đoạn: 1) Chọn trường theo phương pháp ngẫu nhiên bằng cách lập danh sách 9 trường, bốc thăm ngẫu nhiên 5 trường đưa vào mẫu nghiên cứu; 2) Chọn lớp theo phương pháp chọn ngẫu nhiên bằng cách lập danh sách tên lớp theo khối, bốc thăm ngẫu nhiên mỗi khối 2 lớp; 3) Chọn học sinh vào mẫu theo phương pháp chọn mẫu hệ thống, lập danh sách toàn bộ học sinh trong lớp được chọn theo giới.

Để đảm bảo tính đại diện và độ chính xác mong muốn, đã tăng cỡ mẫu lên gấp đôi, do vậy cỡ mẫu nghiên cứu lấy tròn N= 500. Với cỡ mẫu 500, dự kiến số học sinh tham gia phỏng vấn ở mỗi trường là 100 em (50% nam và 50% nữ). Mỗi trường chọn mỗi khối 2 lớp, như vậy mỗi trường có 6 lớp, trung bình số học sinh mỗi lớp tham gia là 16-17 em. Chọn học sinh vào mẫu theo cách chọn mẫu hệ thống.

Kết quả nghiên cứu:

Hiểu biết, thái độ và hành vi về sức khoẻ sinh sản (SKSS) của vị thành niên (VTN)

Hiểu biết về sức khoẻ sinh sản của vị thành niên

- Hiểu biết về phát triển thể chất: VTN biết chung về dậy thì khá cao 98,6%, trong đó biết rõ sự thay đổi về lông ở mu chiếm 80,5%, phát triển chiều cao chiếm 79,3%, mụn trứng cá 78,4%, xuất hiện kinh nguyệt ở nữ 66,9% và xuất tinh ở nam 50,5%.

- Hiểu biết về dậy thì: tỷ lệ biết dấu hiệu dậy thì cao 98,6%, trong đó nam biết tới 97,2% và nữ là 100%. Biết về thay đổi kinh nguyệt là 66,9%, xuất tinh là 50,5%.

 Tuổi trung bình xuất hiện kinh nguyệt ở nữ là 13,86 +/- 1,1; xuất tinh ở nam là 14,84 +/- 0,99 và nam dậy thì chậm hơn nữ khoảng một năm. Khi gặp dấu hiệu dậy thì như kinh nguyệt, xuất tinh các em cảm thấy bình thường (61,2%), lo sợ là 21%, nhưng các em nữ thường hay lo lắng sợ hãi chiếm 35%, nam là 6,5%.  Khi gặp các dấu hiệu này các em nam không nói với ai chiếm 83,3%, ngược lại các em nữ thường nói với mẹ chiếm 79,5%. Như vậy sự gần gũi về giới tính và tình cảm đã giúp cho các em nữ thường trao đổi với me về những băn khoăn lo lắng của bản thân. Do trong quá trình học tập các em đã biết những đặc điểm về sinh lý có thể diễn ra, nên khi gặp các dấu hiệu đó các em có lo lắng nhưng với tỷ lệ thấp.

Hiểu biết về nội dung sức khoẻ sinh sản

- Hiểu biết về khái niệm và nội dung SKSS: tỷ lệ VTN hiểu biết về SKSS và nội dung của SKSS cao hơn kết quả một số nghiên cứu khác trước đây.

- Hiểu biết về cơ quan sinh dục và thời điểm có thai: Một trong những tiêu chí để đánh giá hiểu biết của VTN về SKSS là hiểu biết đúng về chu kỳ kinh nguyệt và sinh lý thụ thai. Tỷ lệ biết về nguyên nhân có thai cao 96% và biết rằng có quan hệ tình dục nhưng phải có trứng và tinh trùng gặp nhau mới có thể có thai. Tuy nhiên trả lời đúng chính xác thời điểm có thai vào giữa hai chu kỳ kinh chỉ có 45,6%,

Hiểu biết biện pháp tránh thai và nơi nhận hoặc mua phương tiện tránh thai

- Nhận thức về biện pháp tránh thai và nơi cung cấp dịch vụ là một trong những yếu tốt tác động đến tình dục an toàn và tránh có thai ngoài ý muốn. Tỷ lệ VTN biết chung về các biện pháp tránh thai khá cao 98,4%. Biết rõ về bao cao su 90,4%, thuốc uống là 78,6%, dụng cụ tử cung là 64,6%, đình sản nam nữ là 46,6%, thuốc tránh thai khẩn cấp 13,2%, không biết BPTT nào 4,1%. Tỷ lệ biết đến 4 biện pháp tránh thai là cao nhất. Điều này cho thấy VTN trong các trường học phổ thông có kiến thức về SKSS/KHHGĐ tốt hơn một số nơi khác, đây là kết quả của việc đưa giáo dục dân số vào nhà trường.

- Biết về nơi nhận/mua phương tiện tránh thai: VTN đã biết nơi có thể nhận hoặc mua PTTT như đến với trung tâm tư vấn dịch vụ chiếm 76,8%, cán bộ dân số 52,6%, bệnh viện là 50,2%, hiệu thuốc là 47,6%, trạm y tế xã là 33,8% từ bạn đồng lứa 16,6%.

Hiểu biết về điều hoà kinh nguyệt, nạo thai

- Giải quyết vấn đề có thai ngoài ý muốn: VTN biết nếu có thai không muốn sinh thì chỉ có 12,6% cho rằng cần hút điều hoà kinh nguyệt (ĐHKN), nạo thai chiếm tới 66,4% và 18,2% cho là thực hiện phá thai.

- Biết về thời điểm điều hoà kinh nguyệt, nạo thai: Chỉ có 9,7% biết rõ và đúng về điều hoà kinh nguyệt, 11,4% biết về thời điểm nạo thai và 12,3% biết về thời điểm phá thai. Kết quả trên cho thấy VTN chỉ biết chung chung về hút ĐHKN, nạo thai bởi vì khi hỏi cụ thể về nạo hút thai cho thấy hiểu biết về thời điểm điều hoà kinh nguyệt, nạo phá thai nói chung là rất thấp. Chính vì không biết rõ về thời gian điều hoà kinh nguyệt, nạo thai, nên nhiều trường hợp lỡ có thai đã đến giải quyết quá muộn, hoặc phải để sinh ảnh hưởng đến việc học hành và tương lai của các em.

- Hút điều hoà kinh nguyệt, nạo thai với vấn đề sức khoẻ: 79,1% biết hút ĐHKN và nạo thai có hại cho sức khoẻ, 15,9% không biết, còn 5% cho rằng không có hại cho sức khoẻ. Tỷ lệ nữ hiểu đúng về tác hại của nạo hút thai cao hơn hẳn so với nam (tỷ lệ của nữ là 97,2%, nam chỉ có 60,4%). 66,2%  biết về hậu quả của nạo hút thai, trong đó 40,6% nam biết, 90,9% nữ biết. Hiểu biết chung thì khá cao song hỏi cụ thể có hại như thế nào (chảy máu, thủng tử cung, đau bụng, không thể có con, sức khoẻ giảm sút) thì mức độ hiểu biết với tỷ lệ thấp khoảng 50% cho từng loại.

- Hiểu biết về hút điều hoà kinh nguyệt, nạo thai với BPTT: 66,8% hiểu đúng về hút điều hoà, nạo thai không phải là biện pháp tránh thai, còn 27,4 % không biết, đặc biệt có 5,8% cho rằng hút điều hoà kinh nguyệt, nạo thai là BPTT. Qua đây hiểu biết về nạo hút thai còn hạn chế, hoặc biết nhưng không đầy đủ. Trong nghiên cứu này cho thấy nữ hiểu đúng chiếm tỷ lệ cao hơn nam rất nhiều (với nữ là 88,5% trong khi với nam chỉ có 45,3%) sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

Hiểu biết về bệnh lây truyền qua đường sinh dục, HIV/AIDS

- Hiểu biết về bệnh: tỷ lệ VTN biết rõ về HIV/AIDS  84%, biết rõ về bệnh lây truyền qua đường sinh dục (BLTQĐSD) là 75,4%. Biết tên các BLTQĐSD/HIV/AIDS cũng cao: cao nhất là HIV/AIDS 92%, bệnh lậu 60%, giang mai 56,8%, viêm cơ quan sinh dục 40,6%, nấm 20,2%, không biết hoặc gợi ý mới biết herpes, sùi mào gà hoặc biết với tỷ lệ thấp.

- Hiểu biết các dấu hiệu của các BLTQĐSD: VTN  biết dấu hiệu bị bệnh như ra khí hư 27%, đau ở cơ quan sinh dục có 31,4% biết và ngứa ở cơ quan sinh dục có 29,6% em biết và cảm giác nóng rát có 19,6% em biết. Tỷ lệ VTN trong nghiên cứu này biết dấu hiệu của BLTQĐTD chưa nhiều.

- Tình hình VTN có các dấu hiệu bị bệnh: VTN có dấu hiệu bị BLTQĐTD là 5,8% trong đó nam 10,16%, nữ là 1,57%; tỷ lệ VTN có các dấu hiệu bị BLTQĐTD thấp hơn so với nghiên cứu năm 1998 tại một số địa phương.

Cách phòng tránh bệnh lây truyền qua đường sinh dục và HIV/AIDS

VTN biết cách phòng tránh BLTQĐSD, HIV/AIDS khá cao, trong đó biết cần phải sử dụng bao cao su là 93,2%, không quan hệ tình dục với gái mại dâm 92%, không quan hệ tình dục với nhiều người 90,6%, không dùng chung bơm, kim tiêm 91,4%. Nghiên cứu này tỷ lệ VTN biết cách phòng tránh là cao hơn so với kết quả của một số nghiên cứu khác. Kết quả này cũng là phù hợp với thực tế hiện nay do quá trình tuyên truyền và giáo dục ngày môt nhiều hơn, VTN có nhiều cơ hội tiếp cận thông tin hơn.

Nguồn thông tin về SKSS

Muốn tìm hiểu hay muốn biết thông tin về SKSS các em thường đọc sách, xem ti vi 86%, cơ sở y tế 54,8%, cha mẹ, người thân 51,8%, bạn bè 40%, thầy cô giáo 37,2%, hiệu thuốc 21,2%. Theo nghiên cứu của Nguyễn Quốc Anh và Nguyễn Mỹ Hương nguồn thông tin về SKSS chủ yếu là thông tin đại chúng 86,5%, cơ sở y tế 42,6%, bạn cùng lứa 40,3%, cha mẹ 22,4%, người lớn 22,1%, hiệu thuốc 7,7%. Điều này cho thấy VTN muốn tìm hiểu về SKSS thường tìm đọc sách báo, xem ti vi nhiều hơn, các em muốn tự mình tìm hiểu các thông tin, hoặc hiện nay các kênh truyền thông khá phổ biến tác động trực tiếp tới nhận thức của các em. Cha mẹ, thầy cô được các em tìm đến với tỷ lệ thấp hơn có lẽ do e ngại, sợ cha mẹ biết, do vậy người  lớn và nhất là cha mẹ, thầy cô cần tạo cho các em khoảng cách gần gũi hơn và cởi mở hơn để các em tìm hiểu và trao đổi về lĩnh vực SKSS.

Thái độ và hành vi về SKSS

Về vấn đề quan hệ tình dục

Hầu hết VTN đều đồng ý với quan niệm là chỉ nên quan hệ tinh dục (QHTD) khi đã kết hôn chiếm 95,8% và 2,2% cho rằng có thể QHTD trước hôn nhân. Điều này cũng nói lên sự thay đổi nhận thức của VTN ở Thừa Thiên-Huế đối với vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân.

Về tình yêu

VTN có người yêu chiếm tỉ lệ 13,2%, thấp hơn một số nghiên cứu khác. Trung bình tuổi yêu lần đầu nam: 16,3+/-0,97, nữ: 15,8+/-1,3 thấp hơn so với nghiên cứu khác vì nghiên cứu này chỉ tập trung vào nhóm tuổi 15-19, các nghiên cứu khác tập trung vào nhóm 15-24 tuổi.

Về quan hệ tình dục

2 em đã có QHTD chiếm tỉ lệ 0,4% trong đó 1 nam, 1 nữ và có QHTD khi 17-18 tuổi (nam 17 tuổi, nữ 18 tuổi). Trong nghiên cứu này tỷ lệ VTN có quan hệ tình dục thấp hơn nhiều so với một số nước như Mỹ, Hà lan, Anh, Pháp có từ 40-50% VTN có QHTD, Thái lan, Hàn Quốc là khoảng 6% và một số nghiên cứu khác trong nước.

Vị thành niên trong trường trung học phổ thông thuộc địa bàn nghiên cứu có QHTD với tỷ lệ 0,4% (có thể không tránh khỏi những sai số từ người trả lời thông tin) thấp hơn rất nhiều so với các nghiên cứu khác, có lẽ do truyền thống văn hoá Huế và sự giáo dục nghiêm khắc của các gia đình, cũng như chịu tác động của cơ chế thị trường chưa nhiều bằng các thành phố lớn khác. Tuy vậy cũng báo động rằng VTN nói chung và học sinh trong trường phổ thông trung học đã có QHTD và đặt ra cho cha, mẹ, thầy cô và những người có trách nhiệm cần phải có giải pháp để tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức và có hành vi đúng đắn cho VTN về SKSS.

Nghiên cứu này cho thấy khi quan hệ tình dục VTN không sử dụng BPTT, cũng chưa có thai và nạo hút thai. Ở Việt Nam nói chung và Thừa Thiên-Huế nói riêng, sở dĩ có tình trạng VTN có QHTD  nhưng mức độ sử dụng BPTT thấp là do vị thành niên chưa nhận thức được bản thân họ đang có nguy cơ và  họ lại có nhận thức tiêu cực về khả năng tiếp cận dịch vụ hiện có, sự không chấp nhận cuả xã hội về hoạt động tình dục ở các đối tương nam, nữ chưa kết hôn và nhu cầu tương ứng về biện pháp tránh thai đã làm cho họ ngần ngaị trong việc đến gặp người cung cấp và sử dụng dịch vụ KHHGĐ của nhà nước.

Về tuyên truyền SKSS và cung cấp phương tiện tránh thai (PTTT) cho VTN

VTN cho rằng nên tuyên truyền SKSS và cung cấp (PTTT) với tỷ lệ cao:  96% cho rằng nên tuyên truyền SKSS cho VTN,  93,8% trả lời nên tuyên truyền BPTT cho VTN,  64% cho rằng cần cung cấp PTTT cho VTN. Kết quả nghiên cứu cho thấy VTN đã ngày càng quan tâm hơn và muốn tìm hiểu về các nội dung của SKSS, đặc biệt cởi mở hơn trong vấn đề cung cấp phương tiện tránh thai, điều mà trước đây thường né tránh.

Kênh tuyên truyền SKSS

Các kênh tuyên truyền rất đa dạng, đối tượng nghiên cứu cho rằng việc đưa vào nhà trường là chiếm 74,4%, sách báo 71,8%, qua tivi 63,8%, câu lạc bộ 49,8%, qua đài là 47%, tư vấn cộng đồng 46,2%, qua điện thoại là 17,8%. Kết quả nghiên cứu này khá phù hợp với các nghiên cứu trước đây. Như vậy nhà trường đóng vai trò lớn trong việc cung cấp thông tin về SKSS cho các em. Việc cung cấp thông qua kênh này tạo cho các em tự nhiên và tự tin hơn, hoàn toàn phù hợp với thực tế.

Quan niệm về tuổi kết hôn

Theo ý kiến của VTN tuổi kết hôn nam nữ tập trung ở độ tuổi từ 23-28 tuổi, trong đó nữ tập trung ở 23-26 tuổi chiếm 62%, nam 25-28 tuổi chiếm 61%. Theo nghiên cứu tại Hải phòng, tuổi kết hôn 22-25 tuổi có 71,1% nữ và 67,1% nam trả lời và trên 25 tuổi là 26,8%. Như vậy, ý kiến của VTN về tuổi kết hôn trong nghiên cứu này cao hơn, đây cũng là xu hướng chung của vị thành niên và thanh niên hiện nay, nhất là ở các đô thị. Nhận thức của VTN về tuổi kết hôn có khác nhau là nam kết hôn muộn hơn nữ. Về tuổi kết hôn của nam hoặc nữ thì quan điểm của mỗi giới cũng khác nhau, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

Qua đây cho thấy lớp trẻ ngày nay có xu hướng kết hôn muộn và sinh con muộn đây cũng là tất yếu do tác động của quá trình phát triển của xã hội, do áp lực của giáo dục, việc làm và sức khoẻ, nâng cao chất lượng cuộc sống. Nếu kết hôn sớm, sinh con sớm sẽ ít có cơ hội được học hành và có việc làm, sức khoẻ giảm sút sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của chính họ. Đặc biệt là nữ VTN đã có ý thức hơn  trong lĩnh vực SKSS bởi vì tác động và ảnh hưởng của vấn đề SKSS đối với VTN nữ là rất lớn.

Các yếu tố liên quan đến hiểu biết, thái độ và hành vi về sức khoẻ sinh sản của vị thành niên

Có nhiều yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội liên quan đến hiểu biết, thái độ và hành vi về SKSS của VTN, trong đó một yếu tố có thể tác động lên cả hiểu biết, thái độ và hành vi, song nhiều yếu tố có thể đồng thời tác động lên một vấn đề như hiểu biết hoặc thái độ hoặc hành vi về SKSS. Nghiên cứu này trình bày một số yếu tố liên quan đến hiểu biết về SKSS một cách nói chung và độc lập theo từng yếu tố.

Giới tính của vị thành niên

Giới tính là yếu tố có liên quan đến kiến thức thái độ và hành vi của VTN về SKSS. Hiểu biết về SKSS nói chung và cụ thể một số nội dung được trình bày dưới đây thì nữ bao giờ cũng biết nhiều hơn nam và hầu hết sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, cụ thể:

- Hiểu biết về sức khoẻ sinh sản VTN: tỷ lệ biết về nội dung SKSS ở nữ là 96,1%, nam là 87%, đặc biệt nữ biết nhiều nội dung với tỉ lệ cao hơn rất nhiều, tỉ lệ nữ biết 7-10 nội dung là 74% trong khi đó nam biết có 22,8%. Kết quả này cho thấy nữ VTN hiểu biết về sức khoẻ sinh sản nhiều hơn nam  và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p< 0,05.

- Hiểu biết về bệnh lây truyền qua đường sinh dục theo giới tính của vị thành niên: biết rõ về BLTQĐSD thì nữ biết 90,9%, nam biết 59,3%  và về HIV/AIDS nữ biết 96,1%, nam biết 71,5%.

- Hiểu biết về BPTT theo giới tính của vị thành niên: Nữ biết về 3 BPTT trở lên là 79,5%, nam biết là 57,6%.

- Hiểu biết về điều hoà kinh nguyệt, nạo, phá thai theo giới tính của vị thành niên: Về hút ĐHKN, nữ biết 17,7%, nam biết 7,3%; về nạo thai nữ biết 76%, nam biết 56,5%; về phá thai nữ biết 25,2%, nam biết 11%. Biết hút ĐHKN, nạo, phá thai có hại cho sức khoẻ  nữ biết 96,8%, nam biết 60,2%. Biết hậu quả của ĐHKN, nạo thai (chảy máu, thủng tử cung,...) hầu hết biết các tác hại cụ thể thì nữ cũng biết với tỉ lệ cao hơn nhiều so với nam, nam biết 40,6%, nữ biết  90,9%. Chứng tỏ nữ VTN chú ý hơn về lĩnh vực này, đặc biệt nó liên quan trực tiếp tới sức khoẻ của các em nữ. Sự khác nhau về hiểu biết tác hại của nạo hút thai với sức khoẻ giữa VTN nam và nữ có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

Trình độ của vị thành niên

- Hiểu biết về dậy thì: kết quả cho thấy lớp 12 với tỷ lệ  biết quan tâm đến bạn khác giới là 55,4%  lớp 11 là 36,4%, lớp 10 là 37,7%, hoặc biết về xuất tinh thì lớp 12 biết 59,1%, lớp 11 là 47,4%, lớp 10 là 45,3% hay về dấu hiệu xuất hiện kinh nguyệt lớp 12 biết 69,3%, lớp 11 là 65,3%, lớp 10 là 66%. Có sự khác nhau về hiểu biết dậy thì theo trình độ văn hoá của học sinh, trình độ cao biết nhiều hơn, sự khác biệt này có ý nghĩa thông kê với p<0,05.

- Hiểu biết điều hoà kinh nguyệt theo trình độ văn hoá của VTN: Lớp 12 biết rõ về ĐHKN, nạo thai là 18,1%, lớp 11 là 9,4%, lớp 10 là 10%, điều này cũng chứng tỏ trình độ văn hoá cao hơn thì biết nhiều hơn. Sự khác biệt về trình độ văn hoá của VTN với sự hiểu biết về ĐHKN, nạo thai có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Đây cũng là một vấn đề phù hợp với thực tế, do sự hiểu biết qua thời gian , đồng thời sự giáo dục trong nhà trường về SKSS , nội dung đi dần vào chiều sâu đối với lớp học và cấp học cao hơn, chính vì vậy học sinh có trình độ văn hoá cao hơn sẽ có sự hiểu biết nhiều hơn trong đó có nội dung SKSS.

Số con trong gia đình

VTN thuộc các nhóm gia đình có số con từ 2 trở xuống biết từ 3-5 bệnh   là 68,4%, nhóm có 3 con trở lên biết là 51,1%. Sự hiểu biết về sức khoẻ sinh sản phụ thuộc số con trong gia đình nhiều hay ít. Có lẽ do ít con cái nên được chăm sóc chu đáo và học hành đến nơi đến chốn nên có nhận thức cao hơn điều này cũng phù hợp với tình hình thực tế hiện nay, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

Kiến nghị

1. Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền và giáo dục về SKSS/KHHGĐ. Tăng cường hoạt động giáo dục đồng đẳng, các hình thức sinh hoạt câu lạc bộ, đẩy mạnh hoạt động Đoàn thanh niên.

2. Thiết lập các điểm  tư vấn và cung cấp dịch vụ phù hợp với vị thành niên, tạo điều kiện,  đáp ứng kịp thời các yêu cầu cho vị thành niên tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ.

3. Đưa giáo dục Dân số-sức khoẻ sinh sản vào trong trường học phổ thông, trường trung học chuyên nghiệp và đại học một cách chính thống, có nội dung phù hợp với mỗi cấp học, ngành học. Đặc biệt xây dựng mối quan hệ giữa gia đình- nhà trường- xã hội, tạo  ra gia đình và cộng đồng khoẻ mạnh, cải thiện sức khoẻ học đường, giá trị đạo đức.

4. Nâng cao trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, Chính quyền. Có cơ chế, chính sách phù hợp, xoá bỏ những cản trở, định kiến trong giáo dục sức khoẻ sinh sản đối với vị thành niên. Thực hiện tốt mục tiêu mỗi gia đình chỉ có 1-2 con,  quan tâm phát triển kinh tế, nâng cao trình độ dân trí,..


* Chủ nhiệm Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em tỉnh Thừa Thiến - Huế.