MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỦA CHƯƠNG TRÌNH

DÂN SỐ - GIA ĐÌNH VÀ TRẺ EM TỈNH BÌNH ĐỊNH

NGUYỄN NGỌC ĐIỂM*

*Theo các số liệu thống kê dân số Bình Định tăng từ 1 triệu 245 ngàn người năm 1989 lên đến hơn 1 triệu 570 ngàn người năm 2005. Như vậy trong 16 năm, dân số Bình Định đã tăng thêm 325 ngàn người. Số tăng thêm lớn gấp 1,35 lần so với dân số của thành phố biển Quy Nhơn hiện nay (Dân số Quy Nhơn là 240 ngàn người).

Trong thời gian qua, đặc biệt từ khi thực hiện Nghị quyết TW4 về chính sách DS-KHHGĐ, tỉnh Bình Định đã triển khai các hoạt động và đã tạo ra những chuyển biến tích cực, góp phần kìm hãm và giải toả sức ép của sự gia tăng dân số trong những năm trước đó. Những kết quả ấy một mặt đã khẳng định và chỉ ra cách làm đúng, thật sự phù hợp nguyện vọng nhân dân. Mặt khác, góp phần từng bước giải quyết những khó khăn tồn tại của công tác DS-KHHGĐ trong phạm vi toàn tỉnh. Tuy nhiên, những vấn đề nảy sinh cũng luôn đòi hỏi chúng ta cần có những cách làm phù hợp hơn. Đồng thời tiếp tục duy trì mức giảm sinh, giải quyết những tồn tại khó khăn liên tục xảy ra theo từng thời điểm.

Công tác DS-KHHGĐ ở Bình Định vẫn còn có những khó khăn bất cập, trong đó nổi lên nhiều vấn đề chưa thể khắc phục một sớm một chiều…

1. Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên

Từ sau năm 2000, đặc biệt từ cuối năm 2003 tại một số địa phương, tỷ lệ sinh con thứ 3 không giảm, trong đó có một số xã có hiện tượng tăng số trường hợp sinh con thứ ba trở lên. Bình Định có 80% dân số sống vùng nông thôn, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên hiện ở mức cao từ 18% đến 20%, Bình quân cứ 5 người phụ nữ sinh thì có 1 người sinh con thứ 3 trở lên. ở một số xã ven biển thuộc các huyện Phù Cát, Phù Mỹ, tỷ lệ sinh con thứ 3 là trên 25%.

Mặc dù tỷ lệ sinh đã giảm đáng kể so với những năm trước, nhưng việc chưa giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên cũng ảnh hưởng khá nhiều đến việc thực hiện mục tiêu của chính sách dân số. Mặt khác ở một số địa phương trong tỉnh, việc vẫn còn có cán bộ, đảng viên sinh con thứ 3 trở lên, đã tác động không tốt cho phong trào vận động nhân dân thực hiện KHHGĐ.

2. Vấn đề giới tính - tảng băng ngầm

Theo số liệu của các địa phương trong tỉnh thì vấn đề giới tính của trẻ em sinh ra hàng năm rất đáng quan tâm. Theo quy luật về dân số học thì số trẻ em trai và gái sinh ra trong năm là tương đương nhau (khoảng 106 trẻ em trai được sinh ra ở một vùng nào đó thì cũng có khoảng 100 trẻ em gái tương ứng). Tuy nhiên tình hình ở Bình Định vài năm gần đây lại không theo quy luật này. Theo điều tra tại một số xã, phường ở Thành phố Quy Nhơn và huyện Tuy Phước của Viện Khoa học Dân số, Gia đình và Trẻ em và các số liệu báo cáo của cơ sở gửi về, cứ 116 bé trai sơ sinh thì chỉ có 100 bé gái tương ứng. Mặc dù chưa có những nghiên cứu toàn diện trong thời gian gần đây, nhưng hiện tượng mất cân bằng giới tính ở Bình Định nói riêng và cả nước nói chung đang bước đầu cho thấy sự quan tâm của toàn xã hội đối với vấn đề này.

3. Vấn đề chăm sóc sức khoẻ sinh sản/KHHGĐ

Liên tục từ cuối năm 2000 đến nay, hàng năm Bình Định đều mở từ 2 đến 3 đợt chiến dịch truyền thông đưa dịch vụ chăm sóc SKSS/ KHHGĐ đến các địa phương trong tỉnh, đặc biệt là các xã vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Các đợt chiến dịch thật sự đem lại hiệu quả, nhân dân được cung cấp 3 gói dịch vụ: Làm mẹ an toàn, chăm sóc sức khoẻ và cung cấp các biện pháp tránh thai. Kết quả các đợt chiến dịch trong năm cho thấy hơn 50% các chỉ tiêu biện pháp KHHGĐ được nhân dân thực hiện, góp phần chỉ tiêu kế hoạch năm và tiếp tục thực hiện tốt chỉ tiêu giảm sinh ở các địa phương. Tuy nhiên, đã có hơn 50% phụ nữ khi chăm sóc, thăm khám trong các đợt chiến dịch này phát hiện bị viêm nhiễm bệnh phụ khoa đã ảnh hưởng đến việc thực hiện KHHGĐ.

4. Vấn đề xây dựng mạng lưới cán bộ dân số ở cơ sở

Từ khi sát nhập bộ máy 2 ngành UBDS-KHHGĐ và Uỷ ban Bảo vệ và Chăm sóc Trẻ em các cấp thì nhiệm vụ càng nặng nề hơn trước. Hiện nay, các lực lượng chuyên trách dân số, nhân viên y tế cơ sở phải đảm nhận một khối lượng công việc rất nhiều, nhưng chế độ phụ cấp, hỗ trợ lại rất thấp, đã ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động. Nghị quyết 47 của Bộ Chính trị cũng đã chỉ rõ phải có chính sách khuyến khích thoả đáng tinh thần và vật chất cho đội ngũ này. Mặc dù nguồn ngân sách hiện nay còn khó khăn nhưng các địa phương cần huy động, hỗ trợ để khuyến khích cho lực lượng những người làm công tác Dân số cơ sở gắn bó và phát huy vai trò là người tuyên truyền, vận động, tổ chức cho nhân dân thực hiện KHHGĐ ở cơ sở.

Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu của nhân dân càng cao và đòi hỏi được chăm sóc tốt hơn. Những người làm công tác dân số, y tế phải được tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ. Các phương tiện chăm sóc SKSS phải từng bước được hoàn thiện. Một loạt những vấn đề còn phải tiếp tục được hoàn thiện cả về cơ chế, chính sách và tổng hoà những yếu tố kinh tế xã hội trong quá trình phát triển.



* Phó Chủ nhiệm, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em tỉnh Bình Định.