YÊN BÁI VỚI VIỆC GIẢM MỨC SINH

HỒNG LONG*


*Chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIV và chuẩn bị kỷ niệm ngày dân số Việt Nam, Báo Điện tử Đảng cộng sản Việt Nam đã phỏng vấn đồng chí Hà Quyết, Bí thư Tỉnh uỷ Yên Bái một số nội dung về tình hình thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khoá VII về công tác Dân số.

Phóng viên: Xin đồng chí cho biết tình hình thực hiện Nghị quyết TW4, khoá VII và những Nghị quyết của tỉnh về công tác Dân số trong những năm qua?

Đồng chí Hà Quyết: Nghị quyết TW 4, khoá VII của Ban chấp hành TW Đảng và các Nghị quyết, Chỉ thị tiếp theo của TW Đảng, Chính phủ về vấn đề DS/KHHGĐ đã một lần nữa khẳng định sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta tới công tác này, đồng thời cũng khẳng định chiến lược về dân số là một bộ phận quan trọng của chiến lược kinh tế - xã hội, phát triển đất nước.

Yên Bái là tỉnh miền núi trên 50% dân cư là đồng bào các dân tộc thiểu số, có 80/159 xã đặc biệt khó khăn. Những năm qua việc triển khai và thực hiện Nghị quyết TW 4, khoá VII, Chỉ thị 17 của UBND tỉnh về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Pháp lệnh dân số và các Chương trình hành động triển khai Nghị quyết 47-NQ/TW của Bộ chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách DS/KHHGĐ và Kế hoạch triển khai của Tỉnh uỷ thực hiện  Chỉ thị 49/CT-TW của Ban bí thư về xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước,  làm cho các tổ chức Đảng, các Đảng viên và nhân dân các dân tộc nhận thức rõ hơn vai trò, vị trí của công tác DS/KHHGĐ trong phát triển kinh tế-xã hội và đời sống mỗi gia đình. Từ đó, các cấp uỷ Đảng, đều cụ thể hoá các chủ trương của TW về công tác này thành Nghị quyết, thành mục tiêu phấn đấu. Chính quyền các cấp xây dựng thành chỉ tiêu cụ thể của địa phương, đơn vị. Các phong trào thi đua do Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân phát động đều có nội dung của công tác DS, GĐ&TE. Trong các phong trào này, sự tiên phong, gương mẫu của cán bộ Đảng viên giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Nhận thức được trách nhiệm của mình, nhiều đồng chí Bí thư, Chủ tịch UBND xã là người dân tộc đã tự nguyện đình sản nam. Công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản, quan tâm chu đáo các cháu thiếu niên, nhi đồng gặp khó khăn. Nhờ vậy, tuy là tỉnh miền núi, Yên Bái đã có nhiều xã, nhiều năm liền không có người sinh con thứ 3 trở lên (năm 2005 có 41 xã không có người sinh con thứ 3), số học sinh bước vào lớp mẫu giáo, tiểu học giảm, tiết kiệm được đầu tư tạo việc làm cho số lao động tăng thêm, tiết kiệm được đầu tư trong lĩnh vực y tế, giáo dục Và chúng tôi rút ra được một kinh nghiệm rất quí báu là: Ở đâu có sự quan tâm lãnh đạo trực tiếp của các cấp uỷ Đảng thì ở đó công tác DS/KHHGĐ sẽ thành công.

Phóng viên: Đồng chí đánh giá thế nào về vấn đề giảm mức sinh với việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh?

Đồng chí Hà Quyết: Trong xu thế giảm tốc độ tăng dân số thì giảm sinh đóng vai trò quyết định. Muốn nắm vững khả năng sinh đẻ trong tương lai, việc xác định các nhân tố chủ yếu làm giảm tỷ lệ sinh là việc rất cấp bách và cần thiết. Với một tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn như Yên Bái thì vấn đề dân số, quy mô dân số, chất lượng dân số sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Ý thức sâu sắc điều này, trong những năm qua, Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Yên Bái luôn coi vấn đề giảm sinh là một trong những vấn đề trọng tâm. Có thực hiện tốt mục tiêu giảm sinh, Yên Bái mới có thể tạo ra cho mình môi trường thuận lợi để thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội, đưa mức sống của người dân cao lên.

Trong những năm qua, dưới sự lãnh, chỉ đạo sát sao của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND, toàn thể ngành dân số đã vào cuộc một cách quyết liệt và đầy tâm huyết để có thể đạt được mục tiêu giảm sinh đã đề ra. Chúng tôi xin nêu một vài so sánh nhỏ để có thể thấy được rằng vấn đề giảm sinh đã có ảnh hưởng thế nào đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Yên Bái.

Năm 2001 khi mức giảm sinh đạt 0,65i‰, thì GDP bình quân đầu người của tỉnh Yên Bái là 2,603 triệu đồng, năm 2002 giảm sinh đạt 0,51‰, GDP bình quân đầu người là 2,948 triệu đồng, năm 2003 giảm sinh đạt 0,45‰, GDP bình quân đầu người là 3,249 triệu đồng, năm 2004 giảm sinh đạt 0,34‰, GDP bình quân đầu người là 3,715 triệu đồng, năm 2005 giảm sinh đạt 0,3‰, GDP bình quân đầu người là 4,267 triệu đồng.

 Như vậy, so với năm 2001, GDP bình quân năm 2005 đã tăng gấp 1,64 lần. Đây là một kết quả đáng tự hào với một tỉnh còn rất nhiều khó khăn như tỉnh Yên Bái.

Phóng viên: Tỉnh đã có chỉ đạo, lãnh đạo thế nào để giữ được mức giảm sinh như hiện nay?

Đồng chí Hà Quyết: Vấn đề dân số sẽ luôn đồng hành cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Với những kết quả đã đạt được, chúng tôi rất vui mừng. Nhưng đồng thời chúng tôi cũng hiểu rằng: Không thể để nảy sinh tư tưởng chủ quan, thoả mãn với những kết quả đã có mà buông lỏng quản lý. Yên Bái sẽ tiếp tục duy trì kết quả của công tác này bằng tất cả nguồn nhân lực, vật lực có thể. Tỉnh uỷ chỉ đạo HĐND các cấp  giám sát việc thực hiện của  Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em. Để giữ được mức giảm sinh như hiện nay, chúng tôi cho rằng cần huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ các cấp vào cuộc một cách tích cực, thiết thực và quyết liệt. Cần tiếp tục tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền giáo dục, chú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ, thực hiện có hiệu quả việc lồng ghép chương trình dân số với các chương trình xoá đói, giảm nghèo, tạo việc làm cho phụ nữ như dự án "Lồng ghép tín dụng tiết kiệm với phát triển gia đình bền vững". Tiếp tục nâng cao trình độ dân trí cho người dân, nhất là những vùng còn có mức sinh cao, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn; đồng thời đưa chỉ tiêu giảm sinh vào thành qui ước, hương ước của từng thôn, bản, thành nếp sống văn hoá và danh dự của công dân để thế hệ trẻ cảm thấy xấu hổ khi sinh con thứ 3.Tỉnh Yên Bái đang làm tất cả để hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên đạt 1,25% vào năm 2010.

Phóng viên: Những năm tới tỉnh có chủ trương gì để ổn định qui mô dân số?

Đồng chí Hà Quyết: Phát huy những thành tựu đã đạt được, trong những năm tới, tỉnh Yên Bái sẽ tiếp tục thực hiện chiến lược DS/KHHGĐ và phát triển với phạm vi sâu, rộng, đồng đều trên toàn tỉnh dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh, sự gương mẫu của cán bộ chủ chốt các cấp, ngành nhằm tiếp tục nâng cao hơn nữa hiệu lực và hiệu quả của chương trình.

Đưa nội dung thực hiện chính sách DS/ KHHGĐ thành tiêu chí để đánh giá Đảng viên, công chức, viên chức trong toàn tỉnh. Kết hợp công tác tuyên truyền và biện pháp xử lý nghiêm khắc đối với các tổ chức Đảng và cán bộ chủ chốt các cấp vi phạm chính sách DS/KHHGĐ. Kịp thời khen thưởng những cá nhân, Đảng viên, Chi bộ, Đảng bộ thực hiện tốt chính sách DS/KHHGĐ. Xây dựng tiêu chí thống nhất trong việc xử lý đối với người vi phạm chính sách DS/KHHGĐ.

Tỉnh sẽ tiếp tục chỉ đạo việc lồng ghép các chương trình kinh tế - xã hội như: Xoá đói, giảm nghèo, bảo vệ sức khoẻ bà mẹ, trẻ em, xây dựng bản, làng, gia đình văn hoá mới vào chương trình KHHGĐ. Trong đó, sẽ tăng cường vai trò chủ đạo của Uỷ ban Dân số, Gia đình và trẻ em các cấp nhằm tiết kiệm nguồn lực và tăng tính hiệu quả của chương trình.

Đổi mới nội dung tuyên truyền - giáo dục về DS/SKSS/KHHGĐ cho thật phù hợp với các đối tượng là người dân tộc thiểu số, những vùng có trình độ dân trí thấp.

Đầu tư theo hướng tập trung và đồng bộ cơ sở hạ tầng như: Kinh phí, trang thiết bị, tài liệu, lực lượng tuyên truyền và dịch vụ y tế/KHHGĐ trong toàn tỉnh. Đặc biệt ưu tiên cho vùng sâu, vùng khó khăn, có mức sinh cao. Xây dựng chương trình chăm sóc SKSS vị thành niên và quan tâm đến vấn đề chất lượng dân số.

Tiếp tục kiện toàn và đổi mới tổ chức bộ máy công tác DS,GĐ&TE từ tỉnh đến cơ sở theo hướng tinh, gọn, có chất lượng nhằm tiếp tục thực hiện tốt mục tiêu của Nghị quyết TW 4 về công tác DS/KHHGĐ trong tình hình mới.



* Báo Điện tử Đảng cộng sản Việt Nam