KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH DÂN SỐ - KHHGĐ

NĂM 2005 : THÁCH THỨC VÀ TRIỂN VỌNG

TS. NGUYỄN QUỐC ANH*


*Mục tiêu của chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình (DS-KHHGĐ) Việt Nam là phấn đấu đạt mức sinh thay thế và tiến tới ổn định qui mô dân số. Các chỉ tiêu kiểm định là giảm tỷ lệ sinh, giảm tỷ lệ phát triển dân số, giảm tổng tỷ suất sinh, tăng số người sử dụng biện pháp tránh thai, giảm tỷ lệ nạo hút thai, giảm tỷ lệ chết trẻ sơ sinh,…  Các chỉ tiêu này cũng cho thấy rõ mối liên quan mật thiết giữa chương trình DS-KHHGĐ và sức khoẻ sinh sản (SKSS). Cuối năm 2005 Tổng cục Thống kê đã tổ chức họp báo chính thức công bố kết quả điều tra Biến động dân số và KHHGĐ thời điểm 1/4/2005. Đây là năm cuối cùng của kế hoạch 5 năm 2001-2005, đây cũng là năm bản lề để bước vào kế hoạch 2006-2010. Vậy kết quả cho chúng ta thấy hiện trạng dân số Việt Nam ra sao? Sau đây chúng ta sẽ phân tích và xem xét một số kết quả chủ yếu từ kết quả của các cuộc điều tra Biến động Dân số-KHHGĐ giai đoạn 2001 - 2005.

1.Dân số Việt Nam năm 2005 và tốc độ tăng

 Dân số Việt Nam năm 2005 là 83,1217 triệu người, thấp hơn so với dự báo. Tỷ lệ tăng dân số là 1,33% so với năm 2004. Như vậy so với tỷ lệ tăng 2004/2003 (1,40%), tỷ lệ tăng dân số năm 2005/2004 đã giảm được 0,7 phần ngàn, vượt mức chỉ tiêu kế hoạch đề ra (0,4 phần ngàn/năm). Tỷ lệ tăng dân số năm 2001/2000 là 1,35%, như vậy trung bình thời kỳ 2001-2005 mỗi năm giảm 0,06 phần ngàn (cần chú ý rằng trong thời gian này có những năm tỷ lệ phát triển dân số đã tăng lên, năm 2005 tăng 1,33% nhưng cũng là tương đương với mức tăng năm 2002/2001 là 1,32%).

2. Đạt vượt mức chỉ tiêu giảm sinh và mức sinh thay thế

Theo kết quả điều tra năm 2005 tỷ lệ sinh là 18,6 phần ngàn, điều tra năm 2004 là 19,2 phần ngàn, như vậy mức giảm sinh là 0,6 phần ngàn (chỉ tiêu là 0,4 phần ngàn). Mặc dù vậy cũng cần thấy rằng tỷ lệ sinh theo điều tra 2001 là 18,6 phần ngàn và năm 2005 cũng là 18,6 phần ngàn (do có thời gian mức sinh tăng trở lại). Tổng tỷ suất sinh (TER) theo điều tra 2005 là 2,11 con (đạt mức sinh thay thế), điều tra 2004 là 2,23 con, giảm 0,12 con (mục tiêu thường là giảm 0,1 con/năm). Năm 2003 chúng ta cũng đã đạt tổng tỷ suất sinh là 2,12 con. Như vậy, khi mức sinh tăng trở lại chúng ta đã mất một khoảng thời gian 2-3 năm để khắc phục. Dù sao đây cũng là một thành tựu lớn của chương trình DS-KHHGĐ Việt Nam được đánh dấu bằng việc ban hành Nghị quyết số 47/NQ-TW của Bộ Chính Trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và KHHGĐ. Theo lý thuyết nhân khẩu học, khi mức sinh tiệm cận mức sinh thay thế thì thường diễn ra xu thế tăng giảm trong một số năm, vấn đề là làm sao khống chế mức tăng nhỏ và khoảng thời gian tăng ngắn.

Tổng tỷ suất sinh còn có sự khác biệt giữa thành thị (1,73 con), nông thôn (2,28 con), trong đó dân số nông thôn vẫn chiếm trên 70%. Khác biệt giữa các vùng địa lý kinh tế, TFR chung là 2,11 nhưng chỉ có 3 trên tổng số 8 vùng đạt mức dưới 2,1 con (Đồng bằng sông Hồng đạt 2,06 con; Đông Nam Bộ đạt 1,85 con; Đồng bằng sông Cửu long đạt 2,0 con). Còn 5 vùng vẫn ở mức trên 2,1 con, đặc biệt vùng Tây Nguyên vẫn là trên 3 con (3,07 con). Trong báo cáo phân tích của Tổng cục Thống kê đã nhận định, tỷ lệ sinh đã giảm và đạt chỉ tiêu là 0,6 phần ngàn/năm và đã trở lại mức đã đạt được của những năm 2000-2001.

3. Tỷ lệ sinh con thứ ba tăng nhẹ

Năm 2003-2004 tỷ lệ sinh tăng trở lại nhưng tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên vẫn giảm (21,7 % năm 2002; 21,5% năm 2003; 20,2% năm 2004), trong thời gian này chỉ có điều cần chú trọng là số sinh con thứ ba lại tăng ở một số đối tượng là cán bộ, đảng viên; Điều tra 1/4/2005 cho thấy kết quả giảm sinh tốt nhưng tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên đã tăng nhẹ ( từ 20,2% năm 2004 tăng lên 20,8% năm 2005). Đây là điều cần lưu ý khi triển khai kế hoạch giảm sinh những năm tiếp theo.

  4. Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai tăng

Kết quả điều tra 1/4/2005 cho thấy tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai tăng so với năm trước và đạt ở mức cao: là 76,8%, so với 75,3% năm 2004, như vậy tăng 1,1%/năm. Tính riêng các BPTT hiện đại năm 2005 đạt 65,7% so với năm 2004 là 64,6% tăng 1,1%/năm. Lý do không sử dụng biện pháp tránh thai là: đang mang thai; Muốn có con và một số lý do khác. Nhưng cũng cần lưu ý một điều là năm 2005 đạt tỷ lệ sử dụng các BPTT cao nhưng cũng xấp xỉ mức chúng ta đạt vào 2002 (76,9%), đây cũng là năm ta đạt mức sinh thay thế. Điều này cũng cho thấy rõ mối quan hệ trực tiếp giữa tăng tỷ lệ sử dụng các BPTT và giảm tỷ lệ sinh.

5. Tỷ lệ nạo phá thai và hút điều hoà kinh nguyệt giảm.

Kết quả điều tra 1/4/2005 cho thấy tỷ lệ nạo phá thai và hút ĐHKN của phụ nữ 15-49 tuổi giảm mạnh so với năm trước giảm từ 1,7% năm 2003 xuống 1,2% năm 2004. Chỉ tiêu này cho thấy sự thành công không những của chương trình KHHGĐ mà còn đạt mục tiêu về sức khoẻ sinh sản. Chỉ tiêu này liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ sức khoẻ cho phụ nữ. Điều đáng mừng là tỷ lệ nạo/phá thai và hút điều hoà kinh nguyệt giảm mạnh ở cả hai khu vực thành thị và nông thôn. Dù sao vẫn cần lưu ý là các mức chúng ta đã đạt vào 2001-2002 cụ thể là 1,3% năm 2001 và 1,1% năm 2002, đây cũng là những năm chúng ta đã đạt mức sinh thay thế. Điều này cho thấy mối liên quan mật thiết giữa các chỉ tiêu DS/KHHGĐ/SKSS.

6. Kết quả một số chỉ tiêu liên quan khác

Tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh (IMR) tiếp tục giảm qua các năm, theo kết quả điều tra tỷ lệ chết trẻ sơ sinh giảm từ 26 phần ngàn năm 2002 xuống 21 phần ngàn năm 2003, 18 phần ngàn năm 2004 và 17,8 phần ngàn năm 2005.

Dân số Việt Nam đã tiệm cận xu thế già hoá dân số, theo thông lệ nhân khẩu học, dân số của một quốc gia được gọi là già hoá nếu tỷ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên chiếm trên 10%. Kết quả điều tra 2005 cho thấy tỷ lệ dân số 60 tuổi trở lên là 8,97%, trong đó nữ là 10,45%, nam là 7,43%.

Số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân tính đến giữa năm là 42,71 triệu lao động, tăng 1,12 triệu so với năm 2004 (tăng 2,7%). Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị tính đến giữa năm 2005 là 5,3%, đạt mục tiêu kế hoạch về giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị giai đoạn 2001-2005 xuống dưới 6% vào cuối năm 2005.

Qua những kết quả trên cho thấy, ngay sau Nghị quyết 47/NQ-TW  của Bộ Chính trị về tăng cường tiếp tục thực hiện chính sách DS-KHHGĐ chúng ta đã đạt được những kết quả rất khả quan, đặc biệt về ý nghĩa thì đây là một dấu mốc quan trọng giúp cho việc đánh giá năm cuối kỳ thực hiện hoàn thành kế hoạch giai đoạn 2001-2005 và tiếp tục thực hiện kế hoạch 2006-2010. Mặc dù vậy công tác DS/KHHGĐ vẫn đang đứng trước những thách thức rất to lớn mà mục tiêu chính là trong những năm tới chúng ta phải phấn đấu ổn định được mức sinh thay thế, để chuẩn bị cho mục tiêu dài hạn là ổn định qui mô dân số. Khi đã đạt mức sinh thay thế, xu thế sinh thường dao động tăng hoặc giảm, mục tiêu là giữ cho mức dao động ở trong khoảng cho phép, nếu không chúng ta sẽ phải trả giá khắc phục bằng nhiều năm. Bài học kinh nghiệm cho thấy, theo số liệu chính thức của Cục thống kê nhà nước Trung Quốc, năm 1980 Trung Quốc đã đạt và tiệm cận mức sinh thay thế với tổng tỷ suất sinh là 2,3 con, nhưng sau đó tỷ lệ sinh tăng trở lại và do không khắc phục được trong một thời gian ngắn nên phải mất 10 năm sau, tức năm 1990 mới đạt lại mức tổng tỷ suất sinh là 2,3 con và sau đó Trung Quốc đã có những biện pháp kiên quyết để phấn đấu ổn định được mức sinh thay thế và giảm dần, hiện nay tổng tỷ suất sinh của Trung Quốc là khoảng 1,7-1,8 con.

Trong những năm tới, như  Nghị quyết 47 của Bộ Chính Trị đã nêu, chúng ta cần đẩy mạnh việc thực hiện các hoạt động DS-KHHGĐ như tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo ở các cấp; Chính sách và đầu tư nguồn lực; Tăng cường công tác giáo dục truyền thông, đặc biệt là chuyển đổi hành vi; Cung cấp đầy đủ và nâng cao chất lượng dịch vụ KHHGĐ/ SKSS; Nâng cao chất lượng dân số Việt Nam. Đây là những định hướng lớn mà chúng ta phải chuyển đổi và thực hiện tốt trong những năm tới để sớm đạt được mục tiêu ổn định mức sinh thay thế, tiến tới ổn định quy mô dân số vào giữa thế kỷ 21.



* Giám đốc Trung tâm Thông tin, Uỷ ban Dân số Gia đình và Trẻ em.