DÂN SỐ ẤN ĐỘ: TRUYỀN THỐNG VÀ THAY ĐỔI
                                                                                                CARL HAUB VÀ O.P. SHARMA

Ấn Độ thường được mô tả như một tập hợp nhiều quốc gia với nhiều khác biệt về chủng tộc, ngôn ngữ, địa lý, tôn giáo và nhân khẩu học. Ấn Độ cũng đồng thời là quốc gia thứ 2 trên thế giới có dân số đạt mức 1 tỷ người, lớn hơn dân số Châu Âu, Châu Phi và toàn bộ Tây bán cầu. Dân số Ấn Độ sẽ vượt Trung quốc trước năm 2030 và trở thành quốc gia đông dân nhất trên thế giới. Chỉ tính riêng nhóm trẻ em trai dưới 5 tuổi của Ấn Độ đã là 62 triệu người, lớn hơn dân số của Pháp. Mức gia tăng hàng năm của quốc gia này gần 19 triệu, góp phần vào sự gia tăng dân số thế giới nhiều hơn bất cứ quốc gia nào khác.
Thay đổi dân số
Tiểu lục địa Ấn Độ trong một thời gian dài đã từng là một trong những khu vực đông dân nhất trên thế giới nhưng cũng giống như các quốc gia đang phát triển khác ngày nay, gia tăng dân số đã giảm trong thế kỷ 20. Đầu thế kỷ 20, dân số Ấn Độ ở mức 238 triệu người và đến cuối thế kỷ đã đạt con số 1 tỷ. Đến năm 2006, Ấn Độ tăng thêm 100 triệu người, ở mức 1,1 tỷ dân. Vào giữa thế kỷ 20, mức tăng bắt đầu nhanh khi tỷ lệ chết giảm nhưng mức sinh vẫn cao. Tỷ lệ tăng dân số đạt đỉnh cao vào giữa giai đoạn 1971-1981 nhưng mức tăng tuyệt đối lại chưa đạt tới con số cao nhất. Trong thập kỷ 80, quốc gia này đã tăng thêm 16 triệu người hàng năm và 18 triệu người vào những năm 90 cho đến nay. Mức tăng dân số Ấn Độ chậm lại bởi tỷ lệ sinh bắt đầu giảm vào cuối những năm 60. Vào đầu những năm 70, tỷ lệ sinh đã giảm xuống chỉ còn từ dưới 40‰ xuống 24‰ vào năm 2004. Sự giảm sút này phản ánh nỗ lực cụ thể của Chính phủ nhằm hạ mức tăng dân số.
 
Bảng 1: Quy mô và tăng trưởng dân số Ấn Độ giai đoạn 1901-2001
 
Năm
Dân số
Mức tăng qua các thập kỷ
Số lượng
%
1901
238.396.327
-
-
1911
252.093.390
1.3697.063
5,7
1921
251.321.213
-772.177
-0,3
1931
278.977.238
27.656.025
11,0
1941
318.660.580
39.683.342
14,2
1951
361.088.090
42.427.510
13,3
1961
439.234.771
78.146.681
21,6
1971
548.159.652
108.924.881
24,8
1981
683.329.097
135.168.445
24,7
1991
846.421.039
163.091.942
23,9
2001
1.028.737.436
182.316.397
21,5
 
Dân số thành thị-nông thôn
Phần lớn dân số Ấn Độ sống tại các cộng đồng địa phương khá nhỏ, chủ yếu là nông nghiệp và một số hoạt động khác liên quan. Năm 2001, theo tiêu chuẩn, một ngôi làng ở Ấn Độ có khoảng 4.200 người. Bên cạnh đó, 72% dân số Ấn Độ sống ở khu vực nông thôn và 58% lao động tham gia vào hoạt động nông nghiệp. Chỉ 11% dân số sống tại các thành phố lớn với quy mô từ 1 triệu dân trở lên. Nhiều người dân ấn Độ sống ở các khu vực đông dân nhưng được xác định là nông thôn bởi cộng đồng của họ chủ yếu dựa vào các hoạt động nông nghiệp cũng như không đủ mật độ cần thiết để trở thành thành thị. Thông thường, Ấn Độ xác định một cộng đồng là thành thị với dân số tối thiểu là 5.000 người, mật độ dân số đạt ít nhất 400 người/km2 và ít hơn 25% lao động là nam giới tham gia vào hoạt động nông nghiệp. Những người dân sống ở khu vực nông thôn có trình độ giáo dục thấp hơn, mức sinh và chết cao hơn, nghèo hơn so với dân thành thị. Việc di cư từ nông thôn ra thành thị ở Ấn Độ chậm hơn nhiều so với Mỹ Latinh và nhiều khu vực khác trên thế giới bởi phần lớn người dân Ấn Độ sống cả đời tại một vùng nhất định.
 
Bảng 2: Dân số thành thị- nông thôn Ấn Độ
                                                                                                Đơn vị: 1.000 người
Năm
Thành thị
Nông thôn
% thành thị
1901
25.855
212.541
10,8
1911
25.948
226.145
10,3
1921
28.091
223.230
11,2
1931
33,463
245.515
12,0
1941
44.162
274.498
13,9
1951
62.444
298.644
17,3
1961
78.937
360.298
18,0
1971
109.114
439.046
19,9
1981
159.463
523.867
23,3
1991
217.611
628.810
25,7
2001
286.120
742.618
27,8

      Cũng giống như các quốc gia Nam Á khác, dân số thành thị Ấn Độ tăng trưởng khá chậm trong thế kỷ trước. Tỷ lệ người dân sống ở khu vực thành thị tăng từ 11% năm 1901 lên 28% năm 2001. Thế giới có 20 siêu đô thị (dân số từ 10 triệu người trở lên) thì Ấn Độ chiếm 3 gồm: Delhi, Kokata (Calcutta) và Mumbai trong đó Delhi là một trong những thành phố cổ nhất trên thế giới. Bên cạnh các siêu đô thị, hơn 40% dân số Ấn Độ sống tại các khu ổ chuột, tương đương với dân số của Tây Ban Nha. Phần lớn dân số sống tại các khu ổ chuột là ở các thành phố chính như Mumbai với 6,5 triệu dân, Delhi (1,9 triệu), Kolkata với 1,5 triệu người. Các khu ổ chuột này thường phát triển thành các thị trấn quy mô lớn với nhà xây gạch và cửa hàng. Một vài khu đã trở nên quá lớn để có thể di chuyển đến nơi khác và do vậy chúng trở thành một phần tất nhiên của thành phố.

Mức chết
Mức chết của Ấn Độ giảm với tốc độ chậm. Vào đầu những năm 70, tỷ suất chết của trẻ dưới 1 tuổi vào khoảng 130‰. Năm 2004, tỷ lệ này giảm xuống còn khoảng 58. Mức chết mẹ cũng đồng thời giảm kể từ những năm 70 ở mức 0,54‰ vào năm 2000, cao hơn so với cùng tỷ lệ ở các quốc gia kém phát triển khác và cao gần gấp 10 lần so với Trung Quốc. Tỷ lệ tử vong giảm, đặc biệt trong nhóm trẻ sơ sinh và trẻ em, đã làm tuổi thọ của Ấn Độ tăng từ khoảng 50 năm vào đầu những năm 70 lên 63 năm trong giai đoạn 1999-2003. Mức trung bình tương tự như với các quốc gia láng giềng như Bangladesh, Nepal và Pakistan. Mức giảm lớn trong mức chết có thể đẩy nhanh gia tăng dân số trừ khi nó đi kèm với mức giảm lớn hơn trong tỷ lệ sinh. Bên cạnh đó, tuổi thọ có sự khác nhau giữa các bang, từ 57 năm ở Madhya tới 74 năm ở Kerala. Sự khác biệt này phản ánh khoảng cách giữa các bang về giáo dục và tiếp cận với các dịch vụ y tế.
Tuổi và giới tính
Tỷ lệ sinh cao trong lịch sử đã khiến dân số Ấn Độ khá trẻ. Năm 2005, khoảng 36% dân số dưới 15 tuổi và chỉ 4% từ 65 tuổi trở lên. Một nửa dân số dưới 25 tuổi. Nhóm dân số trẻ này cho thấy sự tiếp tục gia tăng dân số trong tương lai bởi họ đến tuổi lập gia đình và do vậy có nhu cầu về trường học, việc làm và nhà ở.
Tỷ lệ giới tính
Một trong các đặc điểm nổi bật nhất của dân số Ấn Độ là tỷ số cao bất thường giữa nam và nữ, đặc biệt ở các nhóm tuổi trẻ. Trong khi tại phần lớn các quốc gia khác, tỷ số này vào khoảng 105/100 trẻ em gái khi sinh thì tỷ số này ở Ấn Độ là khoảng 113/100 và lên tới 129/100 ở một số bang. Tỷ số mất cân xứng này đã và đang tiếp tục tăng. Lý giải cho hiện tượng trên chính là việc phá thai lựa chọn giới tính. Trong khi việc nạo thai đã trở nên hợp pháp tại Ấn Độ từ năm 1972 thì việc phá thai lựa chọn giới tính trở nên bất hợp pháp kể từ năm 1994. Tuy nhiên, Chính phủ đã không thực hiện một cách hiệu quả lệnh cấm này. Nạo phá thai vẫn tiếp tục gia tăng, đặc biệt tại các bang giàu có hoặc các vùng thành thị các cặp vợ chồng có thể xét nghiệm chuẩn đoán giới tính thai nhi. Chính phủ đã có những nỗ lực mạnh mẽ trong việc thực hiện lệnh cấm này vì phải đối mặt với gia tăng tần suất phá thai là con gái. Nỗ lực này bao gồm các chiến dịch rộng lớn nhằm tăng cường vị thế của phụ nữ và khuyến khích cha mẹ đánh giá cao vai trò của con gái ngang bằng với con trai. Tại những nơi mà sự ưa thích con trai vẫn đặc biệt mạnh, sáng kiến quy tụ các chuyên gia y tế, lãnh đạo tôn giáo, trường học, các kênh giải trí trên truyền hình và các chính trị gia đã được thực hiện. Chiến dịch "Cứu sống trẻ em gái" nhấn mạnh tới những thành tích và giá trị của trẻ em gái. Điều này yêu cầu nâng cao giá trị của trẻ em gái và được thể hiện ẩn đằng sau quyết định của Chính phủ trong việc lựa chọn một bé gái để trở thành "đứa trẻ thứ 1 tỷ" chính thức của Ấn Độ, sinh tại bệnh viện Safdarjung tại New Delhi ngày 11 tháng 5 năm 2000.
Các chính sách dân số
Ấn Độ là quốc gia đầu tiên đã thông qua một chính sách chính thức nhằm giảm tốc độ gia tăng dân số, bắt đầu bằng kế hoạch 5 năm lần thứ một vào năm 1952. Vào những năm 50, quốc gia này đã trải qua gia tăng nhanh dân số bởi tỷ lệ chết giảm và mức sinh cao. Tình hình này cũng tương tự ở nhiều quốc gia đang phát triển khác cùng giai đoạn này. Tỷ lệ chết giảm do đạt được vệ sinh công cộng tốt hơn, tiêm chủng rộng rãi cho trẻ em và chăm sóc sức khoẻ mở rộng. Tuy nhiên, tỷ lệ sinh vẫn duy trì ở mức cao nên đã đẩy dân số tăng nhanh. Các nỗ lực ban đầu trong việc triển khai các chương trình KHHGĐ vẫn còn khá giới hạn trong việc thiết lập các cơ sở KHHGĐ với hy vọng người dân sẽ tìm đến. Nhưng mục tiêu giảm sinh thông qua KHHGĐ đã bị ảnh hưởng bởi cả truyền thống đã ăn sâu bén rễ lẫn sự ưa thích quy mô gia đình lớn hơn cùng những khó khăn trong việc đưa các dịch vụ tới những vùng nông thôn xa xôi, rộng lớn và hẻo lánh.
Theo Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển tại Cairo năm 1994, Ấn Độ đã tuyên bố thông qua một tiếp cận chính sách dân số. Thay đổi này phản ánh tinh thần của Hội nghị Cairo kêu gọi sự tập trung mạnh hơn vào các chương trình toàn diện về sức khoẻ sinh sản. Trên thực tế, cách tiếp cận này được áp dụng khác nhau ở những vùng khác nhau. Trong một số trường hợp nhận thấy rằng khó mà thiết lập được các trạm y tế mà không có chỉ tiêu cụ thể như số phụ nữ chấp nhận KHHGĐ hoặc số bao cao su đã được phân phát. Ở một số bang tiếp tục đưa ra các khuyến khích như tiền mặt (khoảng 11 USD) hoặc hàng hoá như đài bán dẫn cho phụ nữ chấp nhận triệt sản. Giai đoạn 1998-1999, 67% phụ nữ trong độ tuổi từ 25 - 29 ở bang Andhra đã triệt sản. Năm 2000 là năm dân số Ấn Độ đạt 1 tỷ người và Chính phủ đã ban hành Chính sách dân số quốc gia đầu tiên. Chính sách này bao gồm 1 chương trình nhân khẩu học xã hội toàn diện gồm 14 chủ đề như giảm mức chết bà mẹ và trẻ sơ sinh, tăng cường việc kết hôn muộn, tiêm chủng toàn diện cho trẻ em và phòng tránh lây nhiễm HIV. Chính sách duy trì một cam kết đối với các đôi vợ chồng "lựa chọn tình nguyện và được thông báo" về các dịch vụ sức khoẻ sinh sản để đạt mức sinh thay thế ở mức 2 con/phụ nữ vào năm 2010.
Mặc dù trở ngại nhưng việc sử dụng KHHGĐ tăng chậm tại Ấn Độ từ 13% năm 1970 lên 53% giai đoạn 2002-2004 và điều này đặt ra vấn đề về việc cung cấp thông tin và dịch vụ cho hơn 250 triệu phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Kiến thức của phụ nữ về biện pháp tránh thai khá rộng rãi mặc dù kiến thức về biện pháp truyền thống như tính vòng kinh và xuất tinh ngoài ít phổ biến hơn. Hầu hết phụ nữ Ấn Độ đều biết đến triệt sản nữ nhưng đối với các biện pháp hiện đại khác như vòng tránh thai hoặc thuốc uống ít được biết đến hơn. Triệt sản nữ vẫn là biện pháp KHHGĐ phổ biến nhất, tăng từ 27% lên 34% trong việc sử dụng các biện pháp tránh thai giữa hai cuộc điều tra Sức khoẻ và KHHGĐ quốc gia (1992-1993) và điều tra sức khoẻ sinh sản và sức khoẻ trẻ em 2002-2004. Các biện pháp thuốc uống và vòng tránh thai không được tin tưởng nhiều bởi sự e ngại về tác dụng phụ nên triệt sản nữ được xem như biện pháp hữu dụng nhất. Việc sử dụng biện pháp tránh thai ở thành thị phổ biến hơn so với nông thôn và tăng cùng sự nâng cao học thức của phụ nữ. Trong số các nhóm tôn giáo, người Sikhs và Jains có tỷ lệ sử dụng cao nhất đạt 65%, tiếp theo là người theo Thiên chúa giáo với 52% và người Hindu 49%. Đạo Hồi có tỷ lệ thấp nhất với 37%. Sử dụng các biện pháp tránh thai có sự khác nhau giữa các bang.

 

Bảng 3: Sử dụng biện pháp tránh thai ở Ấn Độ
 
% phụ nữ trong độ tuổi 15-49 sử dụng biện pháp tránh thai
1992-93
1998-99
2002-04
Biện pháp bất kỳ
40,6
48,2
53,0
Biện pháp hiện đại bất kỳ
36,3
42,8
45,7
Thuốc viên
1,2
2,1
3,5
IUD
1,9
1,6
1,9
Bao cao su
2,4
3,1
4,8
Triệt sản nam
27,3
34,2
34,3
Triệt sản nữ
3,4
1,9
0,9
Biện pháp truyền thống bất kỳ
4,3
5,0
7,3
Tính vòng kinh
2,6
3,0
4,1
Xuất tinh ngoài
1,4
2,0
2,7
Khác
0,2
0,4
0,5
Không sử dụng
59,4
51,8
47,0

 

 
HIV/AIDS
Ấn Độ là quốc gia có mức độ thịnh hành HIV/AIDS thấp với con số ước tính 0,9% dân số nhóm tuổi 15-49 nhiễm HIV. Mặc dù có tỷ lệ nhiễm khá thấp nhưng lại có số người nhiễm lớn nhất thế giới trong mọi độ tuổi với 5,7 triệu người năm 2005.
 
Nam Phi theo dự đoán sẽ có con số người nhiễm tương đương nhưng thấp hơn một chút với 5,5 triệu người. Dân số Nam Phi nhỏ hơn nhiều lần so với Ấn Độ (47 triệu người so với 1,1 tỷ người năm 2006) nhưng theo dự đoán 1/5 trong số người trưởng thành nước này nhiễm HIV. Trung Quốc, quốc gia duy nhất đông dân hơn Ấn Độ chỉ có 0,1% người trưởng thành nhiễm HIV với con số tuyệt đối 650 ngàn người ở các độ tuổi.
Ấn Độ đã đối phó lại với các ca nhiễm đầu tiên được phát hiện vào năm 1986 tại các thành phố cảng ở Chennai và Mumbai bởi việc thiết lập Chương trình kiểm soát AIDS quốc gia. Các chiến lược phòng chống HIV thường nhằm vào nhóm đối tượng là lái xe tải, là những người luôn xa nhà bởi sự thịnh hành của HIV dọc theo các tuyến đưòng quốc lộ cao hơn nhiều lần so với các nơi khác. Mại dâm cũng là đối tượng thuộc nhóm nguy cơ cao và rất khó xác định vị trí của họ do họ không có chỗ ở cố định. Các chương trình HIV ở Ấn Độ đã và dang được mở rộng về mặt địa lý, bao gồm cả việc thiết lập nên các trung tâm xét nghiệm và tư vấn cùng một chương trình điều trị chống vi rút mới và quảng bá mở rộng. Các chương trình thể thao trên tivi với các diễn viên và con số cũng như các mục quảng cáo trên báo chí, các thông báo đang cố gắng truyền bá thông tin về cách phòng tránh HIV cũng như giảm phân biệt đối xử mà những người nhiễm đang phải đối mặt. Ngày càng có nhiều người biết về HIV hơn so với trước đây. Năm 2001, theo cuộc điều tra giám sát hành vi, khoảng 82% nam giới và 70% nữ giới đã từng nghe nói về HIV/AIDS, là con số đã tăng lên gấp đôi so với 5 năm trước do các chiến dịch công cộng được triển khai rộng khắp. Tuy nhiên, khoảng cách kiến thức giữa dân số thành thị và nông thôn vẫn còn lớn. Ví dụ, tại Bihar chỉ có 22% phụ nữ nông thôn biết về HIV năm 2001 so với 63% phụ nữ thành thị. Chiến dịch của Chính phủ với sự trợ giúp chính từ các Chính phủ và các quỹ nước ngoài tiếp tục được mở rộng nhưng nếu so với quy mô và mật độ dân số của Ấn Độ thì khó có quốc gia nào khác trên thế giới có những thách thức lón trong trận chiến đương đầu với AIDS.
Dân số trong tương lai của Ấn Độ
Quy mô dân số Ấn Độ trong tương lai phụ thuộc nhiều vào tỷ lệ sinh, đặc biệt tại miền Bắc đông dân. Dự báo của Liên hợp quốc đưa ra một viễn cảnh về dân số tương lai của Ấn Độ. Theo phương án thấp, dân số Ấn Độ sẽ tăng từ 1,1 tỷ người năm 2006 lên 1,3 tỷ người năm 2050. Theo dự báo này, tổng tỷ suất sinh sẽ giảm nhanh từ 3,0 năm 2005 xuống còn 2,1 vào giai đoạn 2010-2015 và sau đó tiếp tục giảm còn 1,35 vào giai đoạn 2030-2035. Phương án trung bình cho thấy TFR với mức 2,1 con sẽ đạt được vào giai đoạn 2020-2025 và sau dó tiếp tục giảm còn 1,85 trong giai đoạn 2030-2035 và theo đó dân số Ấn Độ sẽ đạt 1,6 tỷ người vào năm 2050. Cuối cùng, phương án cao cho thấy TFR sẽ giảm từ 3,0 xuống còn 2,35 vào năm 2030-2050 và duy trì ổn định sau đó và dân số sẽ đạt 1,9 tỷ người vào năm 2050.
Kết luận
Trong suốt thế kỷ 20, gia tăng dân số của Ấn Độ phát triển cùng với quá trình chống lại đói nghèo và bệnh tật. 1/4 của 1 tỷ người năm 1900 đã trở thành 1 tỷ người vào năm 2000. Việc làm chậm lại sự tăng trưởng này đã là một ưu tiên quốc gia từ khi thành lập và Ấn Độ sẽ đạt được nhiều thành công nhờ vào nỗ lực này. Nhưng mật độ xã hội rộng lớn của Ấn Độ sẽ tạo ra nhiều dạng nhân khẩu học rất khác nhau. Thành công trong một lĩnh vực không đồng nghĩa với thành công trong các lĩnh vực khác. Quy mô dân số tương lai của Ấn Độ sẽ phụ thuộc vào những gì sẽ xảy ra tại miền Bắc đông dân của quốc gia này. Năm 2000, dân số Ấn Độ đã đạt 1 tỷ người. Hiện tại, câu hỏi về tỷ người thứ 2 đã được đặt ra. Liệu Ấn Độ sẽ trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới đạt mức 2 tỷ người? Sự phát triển này sẽ là chính xác trong khả năng tính toán và đó cũng là một trong các vấn đề tương lai cấp bách nhất của Ấn Độ.
 
Trung Kiên
(Theo Population Reference Bureau)