CHƯƠNG TRÌNH SÁNG KIẾN SKSS THANH THIẾU NIÊN VIỆT NAM
(RHIYA VN): THÀNH CÔNG VÀ CÁC BÀI HỌC KINH NGHIỆM
LƯU BÍCH NGỌC[1], BÙI ĐẠI THỤ[2]
 
Sáng kiến sức khỏe sinh sản thanh thiếu niên châu á (RHIYA) do EC/UNFPA tài trợ là chương trình 4 năm (2003-2007) được thiết kế nhằm cải thiện sức khỏe sinh sản/tình dục cho thanh thiếu niên từ 10-24 tuổi tại 7 quốc gia Nam và Đông Nam á - BANGLADESH, CAMBODIA, LAO, NEPAL, PAKISTAN, SRI LANKA và VIETNAM. Tại Việt Nam, Chương trình RHIYA tập trung giải quyết các vấn đề: i) Năng lực hạn chế của các cấp chính quyền, các tổ chức xã hội, quần chúng trong việc xây dựng, triển khai các chính sách về SKSS VTN cho VTN&TN Việt Nam; ii) VTN&TN Việt Nam thiếu hoặc không tiếp cận được đến các thông tin về SKSS VTN; iii) VTN&TN Việt Nam thiếu hoặc không tiếp cận được đến các dịch vụ, bao gồm cả tư vấn về SKSS VTN; iv) Năng lực hạn chế của các tổ chức xã hội dân sự trong việc lập kế hoạch và quản lý, thực hiện các chương trình về SKSS VTN. Chương trình RHIYA VN tập trung vào nhóm đối tượng VTN&TN từ 10-24 tuổi, và nhóm đối tượng là lãnh đạo cộng đồng và các nhà hoạch định chính sách, cán bộ y tế, thầy cô giáo, cha mẹ và các cán bộ chương trình của các tổ chức xã hội dân sự tham gia trong chương trình. Địa bàn can thiệp của chương trình RHIYA VN là tại trung ương và 7 tỉnh/ phố là Hà Nội, Hòa Bình, Hải Phòng, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh với 22 điểm can thiệp tại cộng đồng (xã/phường).
Chương trình RHIYA VN gồm có 2 dự án can thiệp chính và do các tổ chức xã hội dân dự quản lý, điều hành và thực hiện:
§                   Dự án P51 – Tuyên truyền vận động và truyền thông thay đổi hành vi - nhằm tăng cường nhận thức, thái độ và hành vi của nhóm đối tượng VTN&TN về vấn đề SKSS VTN, đồng thời tạo ra một môi trường chính sách thuận lợi cho việc triển khai các can thiệp về SKSS VTN tại cộng đồng. Các can thiệp chính của dự án bao gồm: phát triển chiến lược về truyên truyền vận động và truyền thông thay đổi hành vi cho chương trình RHIYA VN; triển khai thực hiện các hoạt động về tuyên truyền vận động tại các địa bàn của chương trình RHIYA VN thông qua các diễn đàn, hội thảo, hội nghị, thảo luận bàn tròn đối với các nhà hoạch định chính sách tại trung ương và lãnh đạo cộng đồng nhằm tranh thủ các hỗ trợ về mặt chính sách cho các can thiệp về SKSS VTN; triển khai thực hiện các can thiệp về truyền thông thay đổi hành vi thông qua các hình thức đa dạng như sinh hoạt với thanh niên, cha mẹ, họp cộng đồng, các hoạt động văn hóa văn nghệ và giải trí, trò chơi, cắm trại...
§                   Dự án P52 - Cải thiện chất lượng dịch vụ và hành vi tìm kiếm dịch vụ về SKSS VTN - nhằm đảm bảo cung cấp các dịch vụ có chất lượng, mang tính thân thiện với VTN&TN, bao gồm các dịch vụ về thông tin, tư vấn và lâm sàng và tăng cường mức độ tìm kiếm và sử dụng các dịch vụ này của VTN&TN.
Ngoài ra, dự án dù có mã số P50 với tên gọi ‘Dự án dù hỗ trợ chương trình – UPSU” được xây dựng nhằm mục đích quản lý và điều phối 2 dự án can thiệp nói trên. Dự án này do Văn phòng Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam trực tiếp quản lý.
Sau 3 năm triển khai các can thiệp, chương trình RHIYA Việt Nam đã thu nhận được những thành công khả quan và cả những bài học kinh nghiệm hết sức hữu ích và quý báu cho việc triển khai các chương trình chăm sóc SKSS/TD cho VTN&TN trong giai đoạn tới. Bài viết này xin giới thiệu đến các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu quan tâm đến về đề SKSS VTN những thành tựu và các bài học kinh nghiệm được đúc rút từ chương trình RHIYA VN.
1.       Các thành công, kết quả chủ yếu
1.1.              Chương trình RHIYA góp phần đưa được các vấn đề cần quan tâm về SKSS VTN vào Luật Thanh niên và Kế hoạch tổng thể quốc gia về chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho VTN&TN Việt Nam giai đoạn 2006-2010.
Trong ‘Luật thanh niên’, vấn đề SKSS, đặc biệt là SKSS VTN, quyền của thanh niên được tham gia vào quá trình xây dựng, và triển khai chính sách liên quan được nêu rõ trong các Điều 14 (mục 1,3); Điều 15 (mục 1,3); Điều 16 (mục 2), Điều 18 (mục 2); Điều 21 (mục 1); Điều 22 (mục 1,2,3); Điều 24 (mục 2); Điều 28 (mục 2); Điều 29 (mục 2); Điều 30 (mục 2) và Điều 31.
Trong ‘Kế hoạch tổng thể’, ngoài các vấn đề SKSS VTN nói chung đã được đề cập, nhóm đối tượng VTN&TN dễ bị tổn thương và có nguy cơ cao đã được xác định là nhóm cần được quan tâm trong các can thiệp về SKSS VTN: “Cần có các hỗ trợ đặc biệt cho nhóm đối tượng VTN&TN có hoàn cảnh khó khăn” (Mục tiêu 5) và có các can thiệp cụ thể cho nhóm đối tượng VTN&TN đường phố, nhóm đối tượng đồng tính, tàn tật, nhóm đối tượng VTN&TN dân tộc thiểu số, đặc biệt ở các vùng sâu, xa.
1.2.              RHIYA đã thiết lập và triển khai bước đầu có hiệu quả “Mô hình cung cấp dịch vụ thân thiện SKSS VTN toàn diện dựa vào cộng đồng” .
Mô hình này có tên gọi là “Góc dịch vụ thân thiện”. Sau 3 năm triển khai, đã có 71.397 lượt VTN&TN đến 22 “Góc dịch vụ thân thiện” ở 7 tỉnh để nhận thông tin, tư vấn và dịch vụ lâm sàng về SKSS VTN. Trong đó, khoảng 33.940 lượt đối tượng đã sử dụng các dịch vụ lâm sàng và thăm khám. Kết quả của Điều tra ban đầu (BL) và kết thúc (EL) chương trình RHIYA VN đã cho thấy có sự cải thiện một cách đáng kể về hiểu biết, đặc biệt là hành vi của VTN&TN đối với các vấn đề về SKSS VTN tại các địa bàn triển khai (xem bảng dưới):
 
 

 

Chỉ số đo lường kết quả
Nam
Nữ
Tổng
Tỷ lệ VTN&TN hiểu biết đúng về chu kỳ kinh nguyệt và thời điểm có thể có thai
§       BL
§       EL
§       Khác biệt
 
 
12.0
22.4
10.4
 
 
13.7
20.2
6.5
 
 
12.9
21.3
8.4
Tỷ lệ VTN&TN biết ít nhất 2 biện pháp tránh thai hiện đại
§       BL
§       EL
§       Khác biệt
 
64.9
76.6
11.7
 
79.9
84.3
4.4
 
72.5
80.4
8.0
Tỷ lệ VTN&TN cảm thấy thuận tiện khi tiếp nhận các dịch vụ về tránh thai do góc dịch vụ thân thiện cung cấp
§       BL
§       EL
§       Khác biệt
 
 
65.4
82.6
17.2
 
 
65.0
84.7
19.8
 
 
65.2
83.7
18.5
Tỷ lệ VTN&TN sử dụng các biện pháp tránh thai trong lần quan hệ tình dục gần đây nhất
§       BL
§       EL
§       Khác biệt
 
63.0
79.0
16.0
 
23.7
53.3
29.6
 
46.7
68.1
21.3
Tỷ lệ VTN&TN sử dụng bao cao su trong lần quan hệ tình dục gần đây nhất
§       BL
§       EL
§       Khác biệt
 
 
53.7
70.4
16.7
 
 
8.1
18.3
10.2
 
 
35.2
48.2
13.1
 
 
 
 

 

1.3.              Năng lực về kỹ thuật, lập kế hoạch và quản lý việc cung cấp các dịch vụ về SKSS VTN của các tổ chức xã hội dân sự tham gia trong chương trình RHIYA được cải thiện.
Trong quá trình triển khai, dưới điều phối của UPSU, các đối tác của chương trình RHIYA đã chuẩn bị kế hoạch tổng thể triển khai chương trình RHIYA VN trong thời gian 3 năm. Dựa trên kế hoạch tổng thể này, các kế hoạch hoạt động năm, ngân sách thực hiện và kế hoạch theo dõi/giám sát đã được chuẩn bị và được phê duyệt. Các đối tác của chương trình RHIYA cũng đã có khả năng sử dụng “phương pháp tiếp cận dựa trên quyền” lồng ghép các vấn đề về giới và huy động được sự tham gia một cách tích cực và có chất lượng của VTN&TN trong các hoạt động của chương trình RHIYA VN.
2.       Các bài học kinh nghiệm
2.1. Trong tuyên truyền vận động và truyền thông thay đổi hành vi
Việc áp dụng “phương pháp có sự tham gia” trong quá trình xây dựng các chiến lược tuyên truyền vận động và truyền thông thay đổi hành vi đã đạt được nhiều kết quả tốt. Thứ nhất, thông qua quá trình “cùng tham gia”, tính tự chủ và tính tự quyền của các đối tác được nâng cao và là một yếu tố quan trọng cho việc triển khai thành công các chiến lược. Thứ hai, do huy động được sự tham gia của VTN&TN trong quá trình xây dựng và thực hiện các can thiệp đã đảm bảo được các can thiệp đáp ứng được đúng và đủ các nhu cầu thực tế của VTN&TN. Thứ ba, do được “cùng tham gia”, năng lực thực hiện và triển khai các can thiệp của các đối tác cũng được nâng cao. Sự tham gia tích cực của các nhà hoạch định chính sách và lãnh đạo địa phương, đặc biệt là của UBND vào các hoạt động của chương trình như hội thảo định hướng, tập huấn, diễn đàn, hội thảo xây dựng và phát triển chiến lược về tuyên truyền vận động và truyền thông thay đổi hành vi, hội thảo xây dựng “Bộ công cụ cung cấp dịch vụ thân thiện”, đã góp phần nâng cao tính cam kết và các hỗ trợ cụ thể cho quá trình triển khai, thực hiện chương trình ở tất cả các cấp.
Thành công trong quá trình vận động thuyết phục nhằm đưa các vấn đề SKSS VTN vào trong các văn bản luật và chính sách của Việt Nam đã gợi ý một số bước cần thực hiện trong quá trình vận động chính sách, đó là: i) bước thứ nhất, cần rà soát các văn bản chiến lược hiện hành và thực tế triển khai của các văn bản này; ii) bước thứ hai, chia xẻ kết quả của việc rà soát nói trên với các cơ quan liên quan; iii) bước thứ ba, nâng cao năng lực cho các đối tác và cho thanh niên tham gia vào các vấn đề liên quan tới SKSS VTN; iv) bước thứ tư, cùng với sự tham gia của thanh niên, xây dựng và phát triển chiến lược tuyên truyền vận động thông qua phương pháp xây dựng “cây vấn đề”; v) bước thứ năm, tổ chức diễn đàn, hội nghị tạo điều kiện cho thanh niên có thể trình bày các ý kiến, nguyện vọng, góp ý của họ cho các vấn đề liên quan đến SKSS VTN, những nhu cầu của họ nhằm tiếp cận được các thông tin, tư vấn và dịch vụ để giải quyết các vấn đề này tới các nhà hoạch định chính sách và lãnh đạo địa phương; vi) bước thứ sáu, lên danh sách cụ thể các vấn đề về SKSS VTN cần phải được quan tâm trong các văn bản luật hoặc chiến lược của Việt Nam; vii) bước thứ bảy, tiếp tục bám sát, theo đuổi nhằm đảm bảo các vấn đề này không chỉ được nói đến trên văn bản mà còn thực sự được triển khai một cách cụ thể; viii) bước thứ tám, là bước cuối cùng song không kém phần quan trọng, đó là tiếp tục tuyên truyền vận động đối với các nhà lãnh đạo địa phương và các cơ quan đoàn thể, quần chúng tại địa phương nhằm đảm bảo các đối tượng này không chỉ hiểu và nắm chắc các nội dung mà còn biết được sẽ hỗ trợ và tham gia vào quá trình triển khai các vấn đề cụ thể này như thế nào.
2.2. Cung cấp dịch vụ thân thiện về SKSS VTN thông qua mô hình “Góc dịch vụ thân thiện”
Một vấn đề thiết yếu trong quá trình thiết lập và triển khai hoạt động của các góc là phải có sự tham gia của VTN&TN ngay từ đầu khi thiết lập và thiết kế góc. Điều này giúp tăng khả năng thu hút được VTN&TN đến nhận dịch vụ. Trong chương trình RHIYA VN, VTN&TN là người đã đặt tên cho các góc thân thiện, bàn bạc và trực tiếp nâng cấp và trang trí cho các góc (lựa chọn ảnh, vẽ tranh trang trí, kẻ vẽ khẩu hiệu…).
Một bài học khác trong việc tăng hiệu quả cung cấp dịch vụ SKSS VTN của các góc than thiện là mối quan hệ giữa các góc (nguồn cung) với các tổ chức của Đoàn thanh niên và các tổ chức xã hội dân sự địa phương – là các đối tác của chương trình triển khai các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức và tạo ra các nhu cầu sử dụng các dịch vụ này ở VTN&TN. Một ví dụ cụ thể trong chương trình RHIYA triển khai tại Hòa Bình cho thấy sự phối kết hợp các hoạt động can thiệp do Viện Sức khoẻ sinh sản và gia đình (RaFH), tổ chức Giáo dục không chính qui UNESCO tại Việt Nam và của Đoàn Thanh niên tỉnh thực hiện đã tạo nên hiệu quả rất khả quan.
 2.3. Xây dựng các mối quan hệ đối tác
Dự án P51 của chương trình RHIYA do Trung ương Đòan thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh chủ trì và nhận sự hỗ trợ kỹ thuật từ hai tổ chức phi chính phủ quốc tế là Care International và Quỹ dân số thế giới (WPF). Cùng tham gia trong dự án này còn có các tổ chức dân sự khác là Trung tâm giáo dục không chính quy của UNESCO (UCNEV) và Trung tâm tư vấn tình yêu hôn nhân và gia đình (LMF).
Dự án P52 của chương trình RHIYA do Hội kế hoạch hóa gia đình Việt Nam chủ trì với sự tham gia của Viện Sức khỏe sinh sản và gia đình (RaFH) và Hội nữ hộ sinh Việt Nam (VAM). Dự án này nhận sự hỗ trợ của một tổ chức phi chính phủ quốc tế là Marie Stop International (MSI).
 Như vậy, trong chương trình RHIYA VN, rất nhiều mối quan hệ đối tác đã được thiết lập và củng cố như: Mối quan hệ đối tác giữa các tổ chức, đối tác tham gia vào chương trình (giữa các tổ chức xã hội dân sự địa phương và các tổ chức phi chính phủ quốc tế); Mối quan hệ giữa chương trình RHIYA với các cơ quan của Chính phủ; Mối quan hệ giữa chương trình RHIYA VN với các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực SKSS VTN trong và ngoài nước; Mối quan hệ giữa các đối tác trong chương trình RHIYA VN với chính quyền và các tổ chức tại địa phương nơi triển khai chương trình; Mối quan hệ đối tác giữa VTN&TN với người lớn như cha mẹ, thày cô giáo và lãnh đạo cộng đồng.
Để xây dựng và duy trì tốt các mối quan hệ đối tác trên, UPSU đã có vai trò trong việc tối đa hóa hiệu quả công tác điều phối giữa 2 dự án can thiệp thông qua việc xây dựng và sử dụng kế hoạch điều phối, điều phối các hoạt động, tham gia vào các hoạt động của dự án, tổ chức các cuộc họp điều phối, phối hợp thực hiện giám sát tại thực địa. Các đối tác của chương trình RHIYA đã xây dựng được mối quan hệ với chính quyền địa phương thông qua các hoạt động tuyên truyền vận động và truyền thông thay đổi hành vi, cụ thể là thông qua các hoạt động như họp cộng đồng, diễn đàn, hội nghị, hội thảo. Mối quan hệ đối tác giữa VTN&TN với người lớn được xây dựng và củng cố thông qua các hoạt động như họp cha mẹ, xây dựng và duy trì các hoạt động của các câu lạc bộ “mẹ và con gái”, “bố và con trai”, hoạt động trong trường học là những dịp để VTN&TN có cơ hội trao đổi thẳng thắn và cởi mở với người lớn về các vấn đề và nhu cầu của mình liên quan tới SKSS VTN./.
 

[1] Viện Dân số và các vấn đề xã hội, trường Đại học Kinh tế quốc dân
[2] Cán bộ chương trình RHIYA EC/UNFPA Việt Nam