CẢI THIỆN CUỘC SỐNG CỦA PHỤ NỮ DI CƯ:

MỘT CAN THIỆP CẦN THIẾT

NGUYỄN THU GIANG[*]

Giới thiệu

Hiện tượng người lao động từ nông thôn ra thành thị, từ những vùng miền kém phát triển đến những nơi có thu nhập và mức sống cao hơn đã trở nên quen thuộc và phổ biến ở Việt Nam. Đối tượng di cư ra thành phố rất đa dạng song tập trung vào nhóm nữ trong độ tuổi lao động (từ 15 tuổi trở lên) với tỷ lệ cao hơn so với nam giới.

Ước tính mỗi năm, số dân nhập cư vào địa bàn Hà Nội khoảng 200.000 người. Trong số các xã, phường của Hà Nội, Phúc Tân (Hoàn Kiếm) là một trong những phường có số lượng lao động di cư đến cư trú đông nhất. Lao động nữ ra Hà Nội hầu hết đều xuất thân từ các gia đình nghèo ở nông thôn. Đối với nhiều chị em, ra thành phố là lối thoát duy nhất trong hoàn cảnh khó khăn ở quê nhà. Công việc ở thành phố chủ yếu là làm thuê, làm mướn dựa trên thoả thuận cá nhân và không có hợp đồng lao động. Trong công việc và cuộc sống, phụ nữ di cư gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt là chăm sóc sức khoẻ. 

Dự án “Cải thiện đời sống và phòng chống HIV/AIDS cho lao động nữ di cư về Hà Nội tìm việc làm” tại phường Phúc Tân, Hoàn Kiếm do Trung tâm Y tế công cộng và Phát triển cộng đồng (CEPHAD) thực hiện phối hợp với Hội phụ nữ quận Hoàn Kiếm và UBND phường Phúc Tân, trong ba năm từ tháng 1/2006 đến 12/2008. Đây là dự án đầu tiên nhằm hỗ trợ cho lao động nữ di cư trên địa bàn phường Phúc Tân. Mục tiêu chung của dự án: Cải thiện chất lượng cuộc sống và phòng chống HIV cho phụ nữ ngoại tỉnh về lao động tại Hà Nội nhằm cải thiện thu nhập cho gia đình ở quê. 

Sau 3 năm triển khai, một nghiên cứu thực nghiệm có nhóm đối chứng đã được thực hiện để đánh giá mức độ cải thiện cuộc sống của những phụ nữ di cư tại phường Phúc Tân. Nội dung đánh giá gồm: Quản lý dự án, sự tham gia của đối tác địa phương, thay đổi kiến thức, thái độ, hành vi của lao động nữ di cư về KHHGĐ, các BLTQĐTD bao gồm cả HIV/AIDS, điều kiện sống và mức độ khó khăn ở thành phố, tình hình sức khỏe và chăm sóc sức khỏe.  

Nghiên cứu đánh giá trên 142 lao động nữ di cư, đồng thời đã tổ chức các phỏng vấn sâu (lãnh đạo chính quyền địa phương, Hội phụ nữ, lao động nữ di cư và cán bộ CEPHAD) và thảo luận nhóm (nhóm phụ nữ di cư, ban chủ nhiệm câu lạc bộ và HDVCĐ). Thời gian đánh giá từ tháng 12/2008 đến tháng 3/2009.

Đánh giá tác động của dự án

1. Hiểu biết về các bệnh lây truyền qua đường tình dục của lao động nữ đi cư

Khi được hỏi đến các bệnh LTQĐTD, có 100% ở nhóm tham gia dự án và 83,1% ở nhóm không tham gia dự án đã từng nghe nói đến các BLTQĐTD. Tỷ lệ này rất cao, nhưng khi hỏi sâu thì có một sự khác biệt đáng kể về hiểu biết đầy đủ về loại bệnh này giữa hai nhóm (Bảng 1). Tên bệnh mà chị em biết đến nhiều nhất là HIV/AIDS (chiếm 91,5% ở nhóm tham gia dự án và 59,2% nhóm không tham gia dự án), giang mai (78,9% nhóm tham gia dự án và 32,4% nhóm không tham gia dự án), lậu (73,2% nhóm tham gia dự án và 38% nhóm không tham gia dự án). Ngoài ra, rất ít người biết đến các loại bệnh khác. Kết quả này giúp chúng ta nhận thấy có sự khác biệt đáng kể giữa hai nhóm. Ở nhóm tham gia dự án, tỷ lệ kiến thức các bệnh LTQĐTD đạt là 66,2% còn nhóm không tham gia dự án chỉ là 28,2%.

Bảng 1. Hiểu biết về SKSS và các bệnh LTQĐTD

Thông tin

Tham gia DA

(%)

Không tham gia DA (%)

Nghe nói về các bệnh LTQĐTD

Đã từng nghe

100

83,1

Chưa từng được nghe

0

16,9

Khả năng chữa khỏi các bệnh trên

Có thể chữa khỏi

66,2

45,1

Không thể chữa khỏi

33,8

54,9

Biết tên các loại bệnh LTQĐTD

Không biết bệnh nào

2,8

21,1

Kể tên được dưới 3 bệnh

31

50,7

Kể tên được 3 bệnh trở lên

66,2

28,2

Biết các triệu chứng bị BLTQĐTTD

Không biết triệu chứng nào

8,5

62

Kể tên được dưới 3 triệu chứng

71,8

31

Kể tên được 3 triệu chứng trở lên

19,7

7

Ai cần đi khám khi 1 người có dấu hiệu bệnh

Không biết

1,4

7

Người có dấu hiệu bệnh

11,3

32,4

Cả vợ cả chồng

87,3

60,6

Hiểu biết cách phòng bệnh LTQĐTD

Có hiểu biết đúng

91,5

67,6

Hiểu biêt chưa đầy đủ

7,1

29,6

Không biết

1,4

2,8

Nguồn: Phân tích số liệu từ cuộc điều tra KAP tháng 12 năm 2008

            Khó khăn nhất đối với những chị em cả hai nhóm tham gia dự án và không tham gia dự án dường như ở chỗ họ không phân biệt được đâu là nguyên nhân bị nhiễm các BLTQĐTD. Trên thực tế, chỉ khi quan hệ tình dục (QHTD) với người bị bệnh thì mới có khả năng nhiễm bệnh, tuy nhiên chỉ 43,7% số người được hỏi nhóm không tham gia d án lựa chọn phương án này, ngoài ra 42,3% cho rằng do vệ sinh kém và 23,9% dùng chung đồ dùng vệ sinh với người bệnh. Tỷ lệ này ở nhóm tham gia dự án cao hơn, tương ứng là 60,6% cho rằng QHTD với người bị bệnh có khả năng nhiễm bệnh, 35,2% cho rằng do vệ sinh kém và 21,1% dùng chung đồ dùng vệ sinh với người bệnh. Rõ ràng, những người tham gia dự án có thể kể tên được một số bệnh LTQĐTD, nhưng họ chưa nắm rõ những kiến thức về nguyên nhân gây ra bệnh.

Về việc phòng bệnh LTQĐTD, biện pháp được biết đến nhiều nhất là sử dụng bao cao su. Có 77,1% nhóm tham gia và 45,1% nhóm không tham gia dự án lựa chọn phương án này. Ngoài ra, chung thủy một vợ một chồng cũng là phương án được 37,1% nhóm tham gia dự án và 26,8% nhóm không tham gia dự án lựa chọn.

2. Kiến thức của lao động nữ di cư về HIV/AIDS

Số liệu ở bảng 2 cho thấy tỷ lệ lao động nữ di cư đã từng nghe đến HIV/AIDS rất cao ở cả 2 nhóm (100% nhóm tham gia dự án và 90,1% nhóm không tham gia dự án). Tuy nhiên đó chỉ là kiến thức dựa theo tên gọi. Không tương ứng với tỷ lệ trên, sự hiểu biết về con đường lây truyền lại rất thiếu hụt và có sự khác biệt giữa hai nhóm này. Có 78,8% số người ở nhóm tham gia dự án trả lời đúng ít nhất 1 các đường lây truyền HIV, trong khi đó, ở nhóm không tham gia dự án chỉ đạt 41,3%. Tuy nhiên số người biết đầy đủ cả 4 đường lây truyền lại thấp, ở nhóm tham gia dự án là 35,2% còn nhóm không tham gia dự án là 12,7%.

Bảng 2. Hiểu biết của lao động nữ ngoại tỉnh về các đường lây truyền HIV

Thông tin

Tham gia DA (%)

Không tham gia DA (%)

Nghe đến HIV/AIDS

Đã nghe

100

90,1

Không nghe

0

9,9

Biết ít nhất một đường

Qua quan hệ tình dục

77,5

62

Đường máu

85,9

40,8

Truyền từ mẹ sang con.

73,2

21,1

Biết về đường lây truyền

Trả lời đúng

35,2

12,7

Trả lời chưa đúng/đủ

63,4

64,8

Không biết

1,4

22,5

Biết về cách phòng lây nhiễm

Trả lời đúng

35,2

22,5

Trả lời chưa đúng/đủ

55

42,3

Không biết

9,8

35,2

Cách nhận biết người nhiễm HIV

Trả lời đúng

91,5

45,1

Trả lời chưa đúng

8,5

54,9

Ảnh hưởng nếu bị nhiễm HIV

Giảm tuổi thọ

81,7

71,8

Giảm sức lao động

45,1

38

Tăng chi phí y tế

18,3

16,9

Mất việc làm

19,7

16,9

Bị mọi người xa lánh

31

31

Khó tìm việc làm

12,7

11,3

Không biết

0

4,2

Nguồn: Phân tích số liệu từ cuộc điều tra KAP tháng 12 năm 2008

Một phát hiện khá bất ngờ trong đánh giá là, có đến 14,5% trong số những người được hỏi của nhóm không tham gia dự án cho rằng muỗi đốt có thể làm lây lan HIV/AIDS. Kiểu nhận thức sai lệch không những ảnh hưởng đến chất lượng của các can thiệp phòng chống HIV/AIDS mà có thể làm trầm trọng hơn vấn đề kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV. Đồng thời, trên thực tế nhiều chị em do chưa nhận thức được rõ ràng nên họ lo lắng về những nguy cơ có thể xảy ra đối với sức khoẻ của họ khi họ sống chung với những người có HIV trong cộng đồng hay ngay cả các chị em trong nhà trọ.

Những biện pháp mà nhiều lao động nữ ngoại tỉnh cho là có thể dự phòng lây nhiễm HIV nhất là “dùng bao cao su trong quan hệ tình dục” (85,9% nhóm tham gia dự án và 59,1% nhóm không tham gia dự án), sử dụng BKT một lần (39,4% nhóm tham gia dự án và 28,2% nhóm không tham gia dự án). Các kết quả khảo sát thực tiễn cũng cho thấy một thực trạng đáng lo ngại rằng tồn tại một số lao động nữ ngoại tỉnh còn chưa biết phân biệt đâu là các biện pháp tránh thai và đâu là các biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV. Chẳng hạn, các biện pháp như xuất tinh ngoài, đặt vòng tránh thai, uống thuốc tránh thai - là những biện pháp kế hoạch hoá gia đình nhưng cũng được một phần không nhỏ lao động nữ ngoại tỉnh cho là những biện pháp có thể phòng tránh được căn bệnh này.

Bảng 3. Nhận thức của lao động nữ ngoại tỉnh về nguy cơ lây nhiễm HIV

 

Tham gia dự án

Không tham gia dự án

 

Tần suất

(n = )

Tỷ lệ %

Tần suất

(n = )

Tỷ lệ %

Có nguy cơ lây nhiễm

33

46.5

27

38

Không có nguy cơ lây nhiễm

30

42.2

26

36.6

Không biết

8

11.3

18

25.4

Nguồn: Phân tích số liệu từ cuộc điều tra KAP tháng 12 năm 2008.

Số liệu ở Bảng 3.cho thấy có 11,3% số người tham gia dự án không biết một người bình thường như mình có nguy cơ lây nhiễm HIV hay không trong khi tỷ lệ này của nhóm không tham gia dự án là 25,4%. Về nguy cơ nhiễm HIV của bản thân, có 46,5% nhóm tham gia dự án và 38% nhóm không tham gia dự án cho rằng mình có thể bị lây nhiễm HIV và gần một nửa số chị em được hỏi (42,2% nhóm tham gia dự án và 36,6% nhóm không tham gia dự án) khẳng định mình không có nguy cơ lây nhiễm HIV.

Kết quả về thái độ đối với người có HIV/AIDS cho thấy lao động nữ di cư thừa nhận tình trạng phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS. 38% ở nhóm tham gia dự án và 33,8% ở nhóm không tham gia dự án cho rằng phân biệt đối xử với người nhiễm HIV là chuyện bình thường. Nhận thức mơ hồ về các con đường lây truyền là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự kỳ thị đối với người nhiễm HIV. Trong phần kiến thức, chúng tôi đã chỉ ra rằng lao động nữ di cư nhìn chung đã có những kiến thức nhất định về căn bệnh nhưng chưa thật sự hiểu một cách cụ thể. Điều đó có ảnh hưởng quan trọng đến thái độ của họ trong việc nhìn nhận người nhiễm HIV. Họ tránh tiếp xúc với người có HIV chỉ vì vẫn có ám ảnh rằng HIV có thể lây qua những tiếp xúc bình thường.

3. Hiểu biết và sử dụng các biện pháp tránh thai

Tìm hiểu các biện pháp tránh thai mà lao động nữ thường sử dụng trong những lần quan hệ tình dục, chúng ta thấy rằng trong số những người có sử dụng các biện pháp tránh thai thì bao cao su là biện pháp được chị em lao động ngoại tỉnh sử dụng nhiều nhất (98,6% với nhóm tham gia dự án và 70,4% nhóm không tham gia dự án). Biện pháp tránh thai được đối tượng này sử dụng đứng thứ hai là vòng tránh thai (80,3% nhóm tham gia dự án và 49,3% nhóm không tham gia dự án). Không ai chọn nạo hút thai và uống thuốc tránh thai khẩn cấp (1,4% nhóm tham gia dự án sử dụng). Điều đáng ngạc nhiên là ở nhóm không tham gia dự án, chỉ có 32,4% số người được hỏi kể tên đúng được 3 biện pháp tránh thai, tỷ lệ này ở nhóm tham gia dự án là 70,4%.

Bảng 4. Sử dụng các biện pháp tránh thai

Các biện pháp tránh thai

Tham gia dự án (%)

Không tham gia dự án (%)

Bao cao su

98,6

70,4

Vòng tránh thai

80,3

49,3

Thuốc uống tránh thai

76,1

38

Thuốc tiêm/cấy TT

22,5

2,8

Nạo, hút thai

0

0

Xuất tinh ngoài âm đạo

7

5,6

Tính vòng kinh

0

5,6

Thuốc tránh thai khẩn cấp

1,4

0

Không sử dụng

0

19,7

Nguồn: Phân tích số liệu từ cuộc điều tra KAP tháng 12 năm 2008

4. Thái độ và thực hành sử dụng bao cao su

Thái độ của chị em đối với việc mua BCS cũng rất khác nhau giữa hai nhóm. Tỷ lệ đối tượng cho biết việc người phụ nữ đi mua bao cao su là một việc làm bình thường ở nhóm tham gia dự án là 98,6%. Có đến gần 20% số lao động nữ di cư trong nhóm không tham gia dự án cho rằng đó là việc làm không bình thường. Tương tự, có khoảng 32,4% chị em trong nhóm không tham gia dự án cảm thấy ngại nếu phải đi mua bao cao su. 

Có sự khác biệt giữa hai nhóm về tỷ lệ chị em có sử dụng bao cao su thường xuyên trong quan hệ tình dục. Nếu ở nhóm tham gia dự án, có 63,4% chị em dùng BCS thì chỉ có 25,4% số chị em ở nhóm không tham gia trả lời là dùng BCS thường xuyên trong QHTD. Một trong những lý do mà chị em giải thích khi không dùng BCS là chồng/bạn trai không thích.

Về tác dụng của bao cao su, phần lớn chị em nghĩ ngay đến tác dụng tránh thai. Nhóm tham gia dự án một lần nữa cho thấy sự tiến bộ trong nhận thức hơn nhóm không tham gia dự án khi có 78,9% chị em biết được bao cao su có cả hai tác dụng là tránh thai và phòng các bệnh LTQĐTD, trong khi nhóm không tham gia dự án chỉ chiếm tỷ lệ là 46,5%.

            Về cách sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục, chỉ có khoảng một nửa số người tham gia khảo sát ở nhóm không tham gia dự án (chiếm 55,9%) biết cách sử dụng BCS đúng cách là phải dùng BCS từ đầu đến cuối, trong khi đó 44,1% còn lại hoặc không biết, hoặc đưa ra những phương án sai, 10% trong số họ cho rằng chỉ cần sử dụng BCS khi sắp xuất tinh và 11,3% cho rằng vào những ngày dễ thụ thai của nữ là sẽ phòng tránh được các BLTQĐTD và HIV.

5. Thăm khám phụ khoa

Vì lý do nào đó, gần một nửa chị em không đi khám phụ khoa. Điều này nói lên rằng họ chưa thấy được tầm quan trọng của việc khám phụ khoa định kỳ. Thường xuyên kiểm tra sức khoẻ sẽ giúp cho họ sớm phát hiện bệnh tật và kịp thời chữa trị. Mặt khác, kết quả này cũng cho thấy rằng một số còn chưa nhận thức được những ảnh hưởng không nhỏ và lâu dài của bệnh phụ khoa đến sức khoẻ bản thân và hạnh phúc gia đình họ.

Khi gặp những bất thường tại bộ phận sinh dục, trên một phần tư số người được hỏi (26,9%) đã tự mua thuốc theo kinh nghiệm của bản thân để chữa trị (20% nhóm tham gia dự án và 36,4% nhóm không tham gia dự án), cũng với tỷ lệ phần trăm như thế đã đến bệnh viện. Trong khi đó 30,8% đã đến trạm y tế phường nơi cư trú để khám chữa bệnh (40% nhóm tham gia dự án và 18,2% nhóm không tham gia dự án). Chỉ có rất ít người chiếm 3,8% là không nhờ đến sự giúp đỡ của một dịch vụ y tế nào mà để tự khỏi khi mắc bệnh.

Kết luận

·         Kiến thức về HIV/AIDS của lao động nữ ngoại tỉnh lên Hà Nội kiếm việc làm chưa thật tốt. Nhiều chị em còn chưa hiểu biết đầy đủ và chính xác về các đường lây truyền HIV, các biện pháp phòng tránh lây nhiễm HIV. Một số lao động nữ ngoại tỉnh chưa thực sự biết cách nhận biết người nhiễm HIV cũng như nhóm có nguy cơ lây nhiễm cao. Nhận thức của những người phụ nữ này về nguy cơ lây nhiễm HIV còn ở mức độ chưa cao và vì thế hầu hết lao động nữ ngoại tỉnh đều có nhu cầu thông tin thêm về các vấn đề liên quan đến HIV/AIDS.

·         Có sự khác biệt về nhận thức – thái độ – hành vi (KAP) giữa nhóm lao động nữ di cư tham gia dự án và không tham gia dự án. Nhóm tham gia dự án có tỷ lệ KAP đạt chiếm 50,7% trong khi ở nhóm không tham gia dự án là 14,1%. Điều này cho thấy tác động của chương trình dự án đối với KAP về các BLTQĐTD và HIV/AIDS, góp phần nâng cao nhận thức của lao động nữ di cư và mang lại hiệu quả đối với các ứng phó của Việt Nam trong chương trình phòng chống HIV/AIDS. 

·         Chính quyền địa phương và các cán bộ tham gia dự án đã có những thay đổi về cách nhìn nhận lao động nữ di cư, từ đó có những hỗ trợ tích cực cho nhóm đối tượng này, ví dụ tạo điều kiện để con em họ được học tập tại các trường trên địa bàn phường hoặc chăm sóc về y tế

·         Điều kiện và mức sống của lao động nữ di cư được cải thiện đáng kể với nguồn hỗ trợ kinh tế. Từ đó vị trí của người phụ nữ trong gia đình cũng được cải thiện đáng kể.

·         Sự thay đổi trong cuộc sống của chị em khi họ tự biết giải quyết các vấn đề cuộc sống, có khả năng thuyết phục chồng trong việc sử dụng các BPTT và BCS như một hình thức để bảo vệ khỏi lây nhiễm các BLTQĐTD và HIV/AIDS. Bên cạnh đó là sự cải thiện về thu nhập của một số chị em được nhận nguồn kinh phí từ dự án.

Năng lực của chính quyền địa phương, hội phụ nữ phường và đội ngũ HDVCĐ cũng được nâng cao thông qua việc tham gia các hoạt động dự án. Những người thụ hưởng dự án dù là trực tiếp hay gián tiếp đều bày tỏ mong muốn được (tiếp tục) tham gia các mô hình can thiệp như đã được triển khai. Trong đó, họ đặc biệt đánh giá cao vai trò của dự án trong việc hỗ trợ nguồn kinh phí tăng thu nhập và nâng cao năng lực cán bộ địa phương.



[*] Phó giám đốc Trung tâm Phát trin và Sc khe Cng đồng Ánh sáng.